Tăng trưởng kinh tế tiếp tục giảm tốc và ngày càng bị chi phối bởi ngành dịch vụ và tiêu dùng. Lạm phát sẽ tăng nhưng vẫn ở mức thấp trong năm 2016 và 2017, và thặng dư tài khoản vãng lai nhìn chung sẽ duy trì ở mức ổn định. Giới chức trách cần tăng cường cải cách cơ cấu về khía cạnh cung nhằm cải thiện sự phục hồi kinh tế trước một môi trường quốc tế ngày càng ảm đạm, tính không ổn định của thị trường tài chính và những thách thức tài chính và xã hội có liên quan đến sự biến đổi công nghiệp.

Thành tích kinh tế

Tăng trưởng giảm tốc hơn nữa từ 7,3% trong năm 2014 xuống còn 6,9% trong năm 2015, tiếp tục xu hướng từ năm 2010 khi nền kinh tế của Trung Quốc dịch chuyển hơn nữa hướng tới một trạng thái bình thường mới mà trong đó tiêu dùng trong nước và dịch vụ là những động cơ tăng trưởng chính, với việc chính phủ ngày càng tập trung vào chất lượng tăng trưởng hơn là số lượng. Bất chấp tăng trưởng ở mức vừa phải, Trung Quốc đã tăng gấp đôi GDP kể từ năm 2009 đạt mức 10.800 tỷ USD vào năm 2015, do đó tiếp tục chiếm khoảng 1/3 tăng trưởng toàn cầu trong năm 2015, gần tương tự như năm 2010 khi lúc đó nền kinh tế nhỏ hơn của nước này tăng trưởng ở mức hai con số. Ngoài khó khăn trong việc duy trì mức tăng trưởng cao trước đây trong nền kinh tế lớn hơn nhiều như hiện nay, mức tăng trưởng vừa phải chủ yếu phản ánh tăng trưởng trong lực lượng lao động giảm từ mức đỉnh điểm của nó trong những năm gần đây và tác động bất lợi trong ngắn hạn của những biện pháp nhằm giảm bớt những sự mất cân bằng về kinh tế, môi trường và xã hội. Sự chậm trễ trong hồi phục toàn cầu đóng một vai trò vì nó cản trở tăng trưởng xuất khẩu, mặc dù Trung Quốc được hưởng lợi từ giá hàng hóa thấp hơn.

Về mặt cung, việc tái cân bằng đạt được tiến bộ hơn nữa hướng tới tăng trưởng được thúc đẩy bởi lĩnh vực dịch vụ. Ngành dịch vụ ước tính đã đóng góp 3,7 điểm phần trăm cho tăng trưởng GDP, trong khi đó ngành công nghiệp đóng góp 2,8 điểm phần trăm và ngành nông nghiệp là 0,3 điểm phần trăm. Phần đóng góp của ngành dịch vụ trong GDP danh nghĩa đã tăng lên 50,5%. Các dịch vụ tài chính hoạt động đặc biệt sôi nổi, tăng trưởng của doanh số bán lẻ vẫn mạnh mẽ, và lĩnh vực dịch vụ khách hàng đã ổn định sau 2 năm thất bát mà trong đó sáng kiến chống tham nhũng đã giới hạn quy mô cho sự giải trí xa hoa. Trong ngành công nghiệp, ngành chế tạo do người tiêu dùng định hướng đã làm tốt hơn ngành công nghiệp nặng, ngành tiếp tục chịu ảnh hưởng của sự dư thừa công suất, hiệu ứng lan tỏa từ một khu vực nhà ở ốm yếu, và giá hàng hóa thấp hơn. Ngành công nghiệp nặng là nhân tố chính đằng sau việc lợi nhuận công nghiệp tổng thể giảm đi 2,3% trong năm 2015. Lợi nhuận của 12 trong 41 phân ngành công nghiệp đã giảm đi, đặc biệt là gây ảnh hưởng đến ngành khai thác than đá, dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, và kim loại. Năm tỉnh phía Bắc nơi tập trung những ngành công nghiệp này đã báo cáo tăng trưởng dưới mức trung bình một cách đáng kể. Họ cũng báo cáo tình trạng mất việc, mặc dù thị trường lao động vẫn ổn định trên khắp cả nước với 13,1 triệu việc làm mới ở thành phố và tăng trưởng tiền lương lành mạnh.

Về mặt cầu, tiêu dùng là động cơ tăng trưởng chính, đóng góp 4,6 điểm phần trăm cho tăng trưởng GDP, tăng từ 3,7% trong năm 2014. Đầu tư đóng góp 2,5 điểm phần trăm (giảm từ 3,4% trong năm 2014), trong khi đó phần đóng góp của hàng xuất khẩu thực lại đạt mức âm. Sự giảm tốc cơ cấu tiếp tục trong tăng trưởng đầu tư là đáng chú ý nhất trong bất động sản, lĩnh vực chịu ảnh hưởng từ sự dư thừa nhà ở ở mức độ lớn. Chính phủ đã giảm nhẹ tổn thất này bằng cách gỡ bỏ các giới hạn mua bán, cải thiện sự tiếp cận vay thế chấp, nới lỏng các quy định đặt cọc và đẩy nhanh việc xây dựng nhà ở công và tái phát triển khu nhà lụp xụp tồi tàn. Các giao dịch bất động sản gia tăng trong những tháng gần đây và giá cả tăng lên, ngay cả khi diện tích sàn chưa bán vẫn tiếp tục tăng.

Tăng trưởng trong đầu tư vào chế tạo đã giảm tốc hơn nữa do triển vọng kinh doanh không chắc chắn, đặc biệt là đối với các ngành công nghiệp đòi hỏi vốn lớn, và một gánh nặng lớn nợ tập đoàn, đè nặng nhất lên các doanh nghiệp sở hữu nhà nước. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng đã giảm tốc ít hơn, được lợi từ sự hỗ trợ của chính phủ. Tiêu dùng vẫn sôi nổi, được hỗ trợ bởi tăng trưởng mạnh mẽ trong thu nhập thực sau thuế của các hộ gia đình đã tăng thêm 7,4% so với cùng kỳ năm trước, được thúc đẩy bởi tiền lương và phúc lợi xã hội cao hơn. Tính không ổn định của thị trường chứng khoán kể từ giữa năm 2015 đã không ảnh hưởng đến tiêu dùng, vì chứng khoán chỉ là một phần nhỏ của của cải tài chính ngay cả đối với 7% dân số đô thị có tài khoản kinh doanh. Quả thực, theo một khảo sát của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, ngân hàng trung ương, thiên hướng chi tiêu của những người gửi tiền ở đô thị đã gia tăng một cách rõ rệt trong nửa cuối năm. Sự khác biệt giữa thu nhập hộ gia đình ở đô thị và nông thôn đã thu hẹp hơn nữa từ 2,75 lần trong năm 2014 xuống 2,73 lần trong năm 2015, hạ thấp chỉ số Gini chính thức về sự bất bình đẳng xuống 0,462 từ 0,469 trong năm 2014 và 0,473 trong năm 2013.

Lạm phát giá tiêu dùng đạt mức trung bình 1,4% trong năm 2015 so với cùng kỳ năm trước, giảm từ 2% trong năm 2014 và 2,6% trong năm 2014, và thấp đáng kể so với trần lạm phát 3% của ngân hàng trung ương. Mức lạm phát vừa phải này chủ yếu phản ánh giá cả thấp hơn đối với thực phẩm nhập khẩu và các hàng hóa khác theo xu hướng toàn cầu và sự tăng giá đồng nhân dân tệ trong các điều kiện thực. Lạm phát cốt lõi, không kể đến năng lượng và lương thực, vẫn ổn định ở mức 1,6%. Giảm phát giá sản xuất trung bình tăng từ 1,9% năm 2014 lên 5,2% vào năm 2015 vì giá cả hàng hóa toàn cầu giảm đã làm giảm bớt chi phí đầu vào ngành công nghiệp, điều có ảnh hưởng lớn trong chỉ số giá sản xuất của Trung Quốc. Công suất dư thừa dai dẳng trong nhiều ngành công nghiệp có khả năng không tác động đến chỉ số giá sản xuất, vì nói chung nó ổn định trong suốt năm qua.

Chính sách tài chính đã trở nên mở rộng hơn trong năm 2015 và là công cụ để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP chính thức “khoảng 7%”. Thâm hụt trong tổng ngân sách chính thức của chính quyền trung ương và địa phương tăng gần gấp đôi từ 1,8% GDP trong năm 2014 lên 3,5% do chi tiêu đã vượt thu nhập. Tổng chi tiêu của chính phủ tăng 11,8% trong nửa đầu năm 2015 so với cùng kỳ năm trước và tăng 19,4% trong nửa cuối năm, đạt mức tăng trung bình 15,9% trong năm 2015. Chỉ một phần của sự gia tăng này có thể được lý giải bởi việc tính đến cả tổng chi tiêu của khoản chi đáng kể ngoài ngân sách của các chính quyền địa phương. Tăng trưởng thu nhập ngân sách đã tăng lên 8,5% so với cùng kỳ năm trước, sau khởi đầu chậm chạp. Nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân đã gia tăng đặc biệt mạnh mẽ, cho thấy việc thu thuế hiệu quả hơn.

Kết quả là, nợ khu vực công có khả năng vượt mức 57% GDP theo dự đoán của Quỹ tiền tệ quốc tế năm 2014. Tính bền vững nợ công được cải thiện khi các chính quyền địa phương, là các bên nắm giữ nợ công chính, đã chuyển đổi thành trái phiếu 3.200 tỷ nhân dân tệ trong các khoản trả gốc mà đã đến hạn vào năm 2015 (4,7% GDP), do đó giảm bớt chi phí trả lãi và kéo dài kỳ hạn thanh toán. Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, nhiều chính quyền dưới cấp tỉnh vẫn có tỷ lệ nợ trên thu nhập cao hơn mức trần chính thức 100%, và một số nơi vẫn vi phạm những giới hạn được áp đặt cho việc vay ngoài ngân sách.

Nhằm duy trì chi phí cấp vốn ổn định trong bối cảnh lạm phát ở mức vừa phải, ngân hàng trung ương giảm bớt các yêu cầu dự trữ mang tính điều tiết và khoản vay tiêu chuẩn và tỷ lệ đặt cọc trong một vài tình huống và bơm thêm tính thanh khoản vào hệ thống ngân hàng thông qua các hoạt động thị trường mở và các phương tiện tái cấp vốn cho những ngân hàng được lựa chọn. Kết quả là, lãi suất thị trường tiền tệ rơi xuống mức thấp lịch sử trong điều kiện danh nghĩa, cũng như lãi suất tiền gửi tiêu chuẩn, cho vay và thế chấp. Lãi suất cho vay giảm chút ít nếu giảm phát do chỉ số giá tiêu dùng nhưng lại tăng nếu giảm phát do chỉ số giá sản xuất. Bất chấp dòng vốn chảy ra gia tăng, tăng trưởng cung tiền tệ (M2) đạt mức trung bình 11,9% trong năm 2015, chỉ giảm chút ít từ 12,7% trong năm 2014, và trên mức tăng trưởng GDP danh nghĩa 5,5 điểm phần trăm, tăng từ mức chênh lệch 4,6 điểm phần trăm trong năm 2014 và 4,7 điểm phần trăm trong năm 2013. Do đó, nợ và những rủi ro đi cùng với nó tiếp tục gia tăng. Hoạt động cho vay của ngân hàng gia tăng một cách mạnh mẽ, đặc biệt là trong nửa cuối năm. Dự trữ ước tính của tổng tài trợ xã hội (một tiêu chuẩn đánh giá rộng rãi hơn việc cấp vốn cho các doanh nghiệp phi tài chính và các hộ gia đình của ngân hàng, các thể chế tài chính phi ngân hàng và các thị trường vốn) đã mở rộng thêm trung bình 15% trong năm 2015. Những diễn biến này cho thấy hoạt động kinh tế không bị kiềm chế bởi cung tín dụng.

Môi giới tài chính đã trở nên minh bạch hơn khi các ngân hàng và thị trường vốn trở nên lấn át gây bất lợi cho các thể chế tài chính phi ngân hàng, chủ yếu là do các việc thắt chặt điều tiết và các sáng kiến chính sách, bao gồm cả những điều kiện cho vay dễ dàng của ngân hàng trung ương được cung cấp thông qua các ngân hàng. Các khoản cho vay của ngân hàng chiếm gần 70% tổng tài trợ xã hội được cung cấp trong năm 2015, tăng so với 61,8% trong năm 2014, trong khi đó tín dụng từ các quỹ ủy thác và các tổ chức phi ngân hàng khác giảm xuống chỉ còn 3,8%, từ 17,6% trong năm 2014 và mức đỉnh điểm 29,8% trong năm 2013. Vai trò của vốn sở hữu trong tài chính doanh nghiệp tiếp tục tăng bất chấp sự thoái trào sau cơn hỗn loạn thị trường cổ phiếu hồi giữa năm, và nó chiếm 5% tổng tài trợ xã hội trong năm 2015, tăng so với mức 2,7% trong năm 2014 và chỉ đóng góp một phần nhỏ trong những năm trước. Tương tự, trái phiếu công ty đóng góp 18,5% tổng tài trợ xã hội, tăng so với mức 12,3% trong năm 2014. Phương tiện cấp vốn ngoài ngân sách của chính quyền địa phương tiếp tục chiếm một phần đáng kể trong việc phát hành trái phiếu công ty.

Đồng nhân dân tệ được giữ giá ổn định trong một giỏ tiền tệ không công khai nhưng vào năm 2014 được dự đoán 90% là đồng USD. Do đó, nó gia tăng đồng thời cùng với việc định giá cao đồng USD kể từ cuối năm 2014. Tháng 7/2015, theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, đồng nhân dân tệ được định giá tăng hơn 14% so với cùng kỳ năm trước trong điều kiện danh nghĩa (so với giỏ tiền tệ bình quân gia quyền thương mại) và trong điều kiện thực, tính đến cả lạm phát. Ngày 11/8/2015, chính phủ chuyển sang để cho tỷ giá hối đoái chính thức theo định hướng thị trường nhiều hơn bằng cách đưa ra quyết định dựa vào định giá thị trường hàng ngày, do đó thực hiện bước đi khác hướng tới mục tiêu chính sách được tuyên bố về tính linh hoạt tỷ giá hối đoái toàn diện. Kết quả là, việc tăng giá đồng nhân dân tệ so với các tiền tệ của đối tác thương mại vào tháng 1/2016 đã giảm xuống khoảng 1,5% so với cùng kỳ năm trước trong cả điều kiện danh nghĩa lẫn điều kiện thực. Chính phủ cũng cải thiện sự tiếp cận của ngân hàng trung ương tới thị trường tiền tệ và việc đưa tin về dự trữ chính thức, điều đã tạo điều kiện thuận lợi cho quyết định của Ban điều hành Quỹ Tiền tệ Quốc tế vào tháng 11/2015 đưa đồng nhân dân tệ vào Quyền rút vốn đặc biệt vào tháng 9/2016. Giới chức trách gần đây đã cho thấy rằng họ sẽ chú ý hơn tới tỷ giá danh nghĩa có hiệu quả như là một tiêu chuẩn, điều cho thấy rằng họ sẽ thay đổi thành phần của giỏ tiền tệ và hạ thấp ảnh hưởng của đồng USD. Sự kỳ vọng này vốn đã tạo ra tính không ổn định tỷ giá hối đoái hơn nữa so với đồng tiền đó.

Xuất khẩu trong năm 2015 giảm đi 4,4% so với cùng kỳ năm trước tính bằng USD vì nhu cầu toàn cầu vẫn thấp. Tuy nhiên, tăng trưởng xuất khẩu thực lớn hơn so với con số đôla cho thấy, do sự yếu kém của các tiền tệ khác dùng trong giao dịch như đồng euro và yen. Hơn nữa, trong khi đồng nhân dân tệ mạnh hơn có lẽ đã thu hẹp lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc so với các đối tác thương mại của nước này, thì theo ngân hàng trung ương, Trung Quốc đã không mất đi thị phần toàn cầu và phần đóng góp của các sản phẩm công nghệ cao trong tổng hàng hóa xuất khẩu đã tăng lên.

Hóa đơn nhập khẩu cũng giảm đi 13,4% tính bằng USD do giá hàng hóa thấp hơn và những sự thay đổi cơ cấu quan trọng: nhập khẩu nguyên vật liệu thô giảm do nhu cầu trong nước đối với vật liệu xây dựng và năng lượng giảm đi, trong khi đó nhu cầu mạnh mẽ đối với hàng hóa tiêu dùng, bao gồm cả ô tô, và đối với các sản phẩm tầm trung và máy móc đang được các nhà cung cấp trong nước đáp ứng ngày càng nhiều. Hàng hóa nhập khẩu thậm chí sẽ giảm hơn nữa nếu khối lượng nhập khẩu dầu không tăng thêm 8,8%, nhiều khả năng nhất là để tăng cường dự trữ.

Kết quả là một mức thặng dư thương mại, cao hơn năm 2014 1/3. Điều này khiến thặng dư tài khoản vãng lai tăng lên 293,2 tỷ USD, hay 2,7% GDP, bất chấp một sự gia tăng mạnh mẽ trong thâm hụt dịch vụ được gây ra bởi khoản chi tiêu nước ngoài đáng kể của những người đi du lịch nước ngoài. Tuy nhiên, cán cân thành toán đã bị đẩy sang thâm hụt do các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài thực đổ vào ít hơn và các dòng chảy đầu tư thực khác ra bên ngoài nhiều hơn, bao gồm việc trả nợ tín dụng thương mại và các khoản nợ ngoại tệ khác, và do các nhà xuất khẩu Trung Quốc giữ lại lợi nhuận bằng ngoại tệ ở nước ngoài với kỳ vọng đồng nhân dân tệ hạ giá hơn nữa. Tổng dự trữ quốc tế do đó đã giảm đi 513 triệu USD (bao gồm những thay đổi về giá trị do sức mạnh của đồng USD so với các tiền tệ dự trữ khác tạo ra) vào cuối năm 2015 nhưng vẫn đáng kể ở mức 3.400 tỷ USD, hay 31,2% GDP.

Những triển vọng kinh tế

Động lực tăng trưởng kinh tế suy yếu hơn nữa vào đầu năm 2016 và tác động ngắn hạn bất lợi có thể có của cải cách cơ cấu, bao gồm đầu tư bị giảm bớt trong các ngành công nghiệp với công suất dư thừa, chỉ rõ sự giảm tốc tiếp tục trong tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn dự báo, mặc dù có phần được hạn chế bởi sự kích thích tài chính nhằm mục tiêu duy trì sự ổn định xã hội và tài chính. Tăng trưởng GDP được dự đoán sẽ giảm xuống 6,5% trong năm 2016, nằm trong phạm vi mục tiêu của chính phủ là 6,5%-7%, và giảm xuống 6,3% trong năm 2017 trước khi ổn định hay tăng lên một lần nữa.

Đầu tư vẫn sẽ là trở ngại chính đối với tăng trưởng. Đầu tư vào bất động sản và các ngành công nghiệp đòi hỏi vốn lớn với công suất dư thừa sẽ cho thấy tăng trưởng đặc biệt yếu trong giai đoạn dự đoán. Điều này có thể chỉ được bù đắp một phần bằng chi tiêu chính phủ được duy trì liên tục cho cơ sở hạ tầng và bằng đầu tư lớn hơn vào dịch vụ và sản xuất theo định hướng tiêu dùng – hai lĩnh vực mà ở đó tăng trưởng có khả năng giữ vững. Đầu tư cơ sở hạ tầng sẽ tiếp tục có được sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ, mặc dù tỷ lệ tăng trưởng của nó có khả năng sẽ giảm hơn nữa. Ngoài ra, chỉ với phần đóng góp 22% trong tổng đầu tư, đầu tư vào cơ sở hạ tầng không thể đóng góp nhiều vào tăng trưởng GDP như đầu tư vào sản xuất hay bất động sản. Sự ủng hộ của chính phủ cho hoạt động đầu tư cho thấy rằng việc giảm bớt phần đóng góp cao của đầu tư trong GDP (có lẽ là 45%), phù hợp với chiến lược tái cân bằng GDP hướng tới tiêu dùng, sẽ được kiểm soát trong một vài năm nhằm tránh một sự hạ cánh cứng trong ngắn hạn.

Tăng trưởng tiêu dùng vẫn sẽ sôi nổi hơn. Tuy nhiên, với việc thu nhập ở những khu vực nghèo hơn của nước này vẫn phụ thuộc nặng nề vào đầu tư vào các dự án lớn đang giảm tốc, tiêu dùng có lẽ sẽ yếu đi đôi chút cùng với tăng trưởng thu nhập giảm đi. Như trong những năm trước, xuất khẩu thực không có khả năng tạo ra một sự đóng góp đáng kể cho tăng trưởng.

Lạm phát được dự đoán tăng trong giai đoạn dự báo khi giá quy định được điều chỉnh giảm hơn nữa và giá hàng hóa phục hồi từ mức thấp hiện tại, nhưng nó sẽ vẫn được duy trì ở dưới mức trần 3,0% của chính phủ bằng cách giảm tăng trưởng GDP. Do đó, vẫn có chỗ cắt giảm lãi suất để kích thích tăng trưởng, nhưng giới chức trách thay vào đó có thể lựa chọn giảm các yêu cầu dự trữ mang tính điều tiết vẫn rất cao ở mức 17% đối với các ngân hàng lớn sau lần cắt giảm gần nhất vào ngày 1/3/2016. Ngân hàng trung ương dường như sẽ tiến tới một chính sách tiền tệ được định hướng đối với lãi suất nhưng có khả năng duy trì các công cụ định lượng để kiểm soát nguồn cung tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên. Mức gia tăng cao trong cho vay và những rủi ro đi kèm, đặc biệt là có liên quan đến gánh nặng nợ lớn trong những bộ phận của ngành công nghiệp mà chịu ảnh hưởng lớn nhất từ sự giảm tốc hoạt động kinh tế, sẽ tiếp tục đáng được hết sức chú ý. Với việc tiếp tục tự do hóa sự dịch chuyển vốn, tính linh hoạt nhiều hơn trong chính sách tỷ giá hối đoái theo thời gian sẽ là cần thiết để khiến chính sách tiền tệ trở nên hiệu quả hơn.

Chính phủ đã tuyên bố rằng chính sách tài khóa sẽ tiếp tục mở rộng. Những nỗ lực nhằm kiềm chế chi tiêu chính quyền địa phương sẽ tiếp tục trong suốt giai đoạn dự đoán hướng tới đạt được mục tiêu chiến lược khiến cho tài chính của chính quyền địa phương trở nên hiệu quả hơn, đáng tin cậy hơn và bền vững hơn. Thâm hụt ngân sách chính thức sẽ lớn hơn khi hoạt động ngoài ngân sách của các chính quyền địa phương được đưa vào ngân sách nhiều hơn. Những chuẩn bị về lập pháp và thể chế cho thuế bất động sản quốc gia, thuế sẽ làm gia tăng thu nhập của chính quyền địa phương, đã đạt được tiến bộ nhưng sẽ cần nhiều thời gian để hoàn thành. Do đó, có thể xảy ra sự gia tăng hơn nữa những sự chuyển giao của chính phủ trung ương. Một lựa chọn thay thế sẽ là phân phối lại những khoản tiền đóng thuế thu nhập cá nhân và thuế tiêu dùng từ trung ương cho các chính quyền địa phương. Hơn nữa, trách nhiệm cấp vốn và thực hiện các dự án lớn sẽ được chuyển khỏi tay chính quyền địa phương, do đó cải thiện nhu cầu của họ đối với hoạt động cấp vốn không chính thống. Mức trần cho việc phát hành trái phiếu của các chính quyền địa phương sẽ được nâng lên nhằm giúp cấp vốn cho phần thâm hụt lớn hơn và nhằm chuyển đổi tất cả các khoản trả nợ gốc đến kỳ thanh toán trong thời gian dự đoán này thành trái phiếu. Nếu các mức định hạng tín nhiệm cho trái phiếu và lợi tức chênh lệch hơn nữa theo cách các nhà phát hành đáng tin như thế nào, thì điều này sẽ phát đi tín hiệu rằng chương trình đang ngày càng trở nên được thị trường thúc đẩy.

Thặng dư tài khoản vãng lai sẽ được duy trì trong năm 2016 nhưng sẽ giảm đôi chút trong năm 2017. Nhập khẩu, theo hình mẫu do giá cả hàng hóa đặt ra, được dự đoán sẽ thấp hơn trong năm 2016 nhưng cao hơn trong năm 2017, trong khi xuất khẩu không có khả năng gia tăng mạnh mẽ trong bối cảnh thương mại và tăng trưởng toàn cầu ảm đạm. Tuy nhiên, hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao hơn sẽ tiếp tục phát triển, bù đắp cho hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng thấp hơn bị suy giảm. Thâm hụt ngành dịch vụ sẽ tiếp tụng mở rộng, đặc biệt là trong sự thiếu vắng tiến bộ đáng kể hướng tới việc bãi bỏ quy định trong lĩnh vực dịch vụ.

Chính phủ được cho là sẽ cố định tỷ giá đồng nhân dân tệ theo một giỏ tiền tệ đa dạng hơn trong giai đoạn dự báo và do đó giữ nó ổn định trong điều kiện bình quân gia quyền thương mại. Các dòng vốn do đó có khả năng trở thành còn hơn cả là một chức năng của tiến trình hướng tới việc mở tài khoản vốn và cải cách khu vực tài chính trong nước. Giới chức trách được cho là sẽ cải thiện sự quản trị thị trường cổ phiếu, sắp xếp hợp lý các quy trình phát hành cổ phiếu, và cấp phép cho nhiều ngân hàng tư nhân hơn để cải thiện việc huy động và phân bổ nguồn lực. Các biện pháp hành chính được thực hiện vào cuối năm 2015 và đầu năm 2016 nhằm làm chậm các dòng chảy vốn có khả năng chỉ là tạm thời. Chính phủ sẽ tiếp tục theo đuổi mục tiêu chiến lược của họ mở cửa hơn nữa tài khoản vốn bằng việc cải thiện việc dịch chuyển vốn qua biên giới, nhưng không gây tổn hại cho sự ổn định tài chính. Họ sẽ duy trì sự kiểm soát thích đáng nhằm hạn chế các dòng chảy vốn trong ngắn hạn có khả năng gây bất ổn. Vào tháng 2/2015, chính phủ đã mở rộng và đơn giản hóa một cách đáng kể quyền tiếp cận của các nhà đầu tư tư nhân nước ngoài tới thị trường trái phiếu trong nước hiện đứng thứ 3 trên thế giới với 7.300 tỷ USD. Điều này có tiềm năng làm gia tăng các dòng vốn thực chảy vào; người nước ngoài hiện nắm giữ chưa đến 2% trái phiếu nội địa. Thêm những kênh khác cho việc chuyển vốn tư nhân qua biên giới có khả năng sẽ tạo điều kiện cho dòng vốn chảy ra ngoài. Một sự cắt giảm trong dự trữ chính thức sinh lợi thấp có thể vì lợi ích của Trung Quốc, đặc biệt là nếu nó bắt nguồn từ một sự gia tăng trong đầu tư ra nước ngoài sinh lợi lớn hơn.

Những rủi ro quốc tế chủ yếu đối với việc triển khai bắt nguồn từ môi trường đầu tư toàn cầu đang trở nên tồi tệ hơn, tính bất ổn đáng kể trong các thị trường tài chính, và một sự sụt giảm khác trong giá hàng hóa toàn cầu kể từ đầu năm 2016. Làm phức tạp thêm những diễn biến này là tình trạng không chắc chắn về quỹ đạo kinh tế của Trung Quốc, điều có thể gây ảnh hưởng đến tinh thần của nhà đầu tư và người tiêu dùng trên khắp thế giới và gây đe dọa cho sự phục hồi toàn cầu, từ đó có tác động ngược lại đến Trung Quốc.

 

 

 

Rủi ro chủ yếu trong nước là sự không chắc chắn về chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc có thể tạo ra những kỳ vọng về việc hạ giá đồng nhân dân tệ hơn nữa, điều có thể đẩy nhanh dòng vốn chảy ra ngoài và đưa ra thêm các biện pháp hành chính để ngăn chặn chúng. Từ bỏ việc quốc tế hóa đồng nhân dân tệ có thể làm xói mòn niềm tin vào cải cách thị trường Trung Quốc một cách rộng rãi hơn, làm trầm trọng thêm tình cảm tiêu cực. Nguy cơ này có thể được giảm bớt bằng cách giải thích rõ hơn về chế độ và chính sách tỷ giá hối đoái mới của Trung Quốc, cũng như kết cấu của giỏ neo giá tiền tệ mà sẽ chỉ gồm các loại tiền tệ có tính thanh khoản đầy đủ.

Một rủi ro khác ở trong nước là tình cảm của người tiêu dùng có thể bị xói mòn nếu tăng trưởng thu nhập giảm tốc hơn nữa và các điều kiện thị trường lao động trở nên phức tạp hơn khi việc tái cơ cấu ngành công nghiệp đạt được tiến bộ, thay đổi các hình thái tiêu dùng theo những cách khó dự đoán được. Sự chú ý sát sao tiếp tục đối với các điều kiện thị trường lao động và tăng trưởng thu nhập sẽ là cần thiết.

 

Tăng trưởng kinh tế chậm hơn và sự mở rộng tín dụng nhanh chóng, bao gồm tín dụng cho các công ty thiếu hiệu quả, sẽ nuôi dưỡng rủi ro đối với chất lượng của tài sản ngân hàng. Những khoản cho vay kém hiệu quả chính thức chiếm chưa đến 2% hồ sơ cho vay, nhưng số lượng ngày càng tăng các khoản vay quá hạn trả hơn 90 ngày không được xếp vào loại các khoản vay khó giải quyết. Hơn nữa, tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ tiếp tục có thể che giấu các vấn đề nghiêm trọng hơn liên quan đến trả nợ. Tuy nhiên, những rủi ro này vẫn có thể xử lý được. Những sự cắt giảm lãi suất gần đây đã làm giảm bớt chi phí cấp vốn, dự trữ tổn thất cho vay vẫn cao gấp hai lần tổng khoản vay kém hiệu quả chính thức, và các ngân hàng được vốn hóa hiệu quả và tăng cường hơn nữa cơ sở vốn của họ bằng cách phát hành cổ phiếu và những khoản vay thứ cấp. Ngoài ra, việc bảo vệ tính ổn định tài chính là động lực then chốt cho chính sách của chính phủ ủng hộ một sự giảm tốc được quản lý trong tăng trưởng kinh tế.

 

 

Thách thức chính sách – cắt giảm danh mục bất động sản và công suất công nghiệp dư thừa

Kể từ sau Hội nghị công tác kinh tế trung ương vào tháng 12/2015, chính phủ đã nhấn mạnh sự cần thiết phải đẩy nhanh “cải cách khía cạnh cung”. Sự chú trọng này chẳng có gì mới. Cải cách ở Trung Quốc suốt 35 năm qua phần lớn là về cải cách khía cạnh cung, hay làm thế nào để sử dụng nguồn nhân lực và vật chất đang có một cách hiệu quả hơn bằng cách cải cách giá, quyền sở hữu công ty và lĩnh vực tài chính trong khi mở cửa thương mại và đầu tư nước ngoài, hợp lý hóa vai trò của chính phủ trong nền kinh tế và củng cố các thị trường. Nghị trình cải cách được vạch ra vào tháng 11/2013 chủ yếu gồm cải cách cơ cấu nhằm mục tiêu tăng hiệu suất và đảm bảo rằng tăng trưởng cao trong dài hạn sẽ đẩy Trung Quốc lên vị thế có thu nhập cao. Việc tái nhấn mạnh cải cách khía cạnh cung giờ đây làm nổi bật chính sách của chính phủ rằng, mặc dù sự ủng hộ khía cạnh cầu có mục tiêu thông qua chính sách tiền tệ và tài khóa sẽ tiếp tục, cải cách cơ cấu vẫn sẽ là ưu tiên ở phía trước.

Hai cải cách then chốt ở khía cạnh cung trong một số cải cách do chính phủ xác định là làm giảm bớt sự dư thừa nhà ở nhằm tiếp sinh lực cho khu vực bất động sản và giảm công suất dư thừa trong sản xuất. Việc tăng cường tài chính của chính quyền địa phương là một điều kiện tiên quyết cho sự thành công ở cả hai lĩnh vực.

Cách thức để chuyển dịch danh mục bất động sản là tạo ra nhu cầu về nhà ở bằng cách đưa cải cách đất đai ở các khu vực nông thôn đi vào chiều sâu và tự do hóa hệ thống đăng ký hộ gia đình (hộ khẩu). Cải cách đất đai nông thôn, nhằm mục đích tạo điều kiện cho giao dịch đất đai nhằm đem lại cho những người sống ở nông thôn khoản tiền vốn ban đầu mà họ cần để ổn định của sống của họ ở thành phố một cách thành công, cần được đẩy nhanh mặc dù có tin là một số dự án thí điểm đã vấp phải sự chống đối của địa phương. Kế hoạch của chính phủ mở rộng các chương trình nhà ở giá thấp cho dân chúng có thể đem lại lợi ích cho một số người lao động di cư, nhưng việc thực hiện cải cách hộ khẩu sẽ hiệu quả hơn. Nếu được hưởng đầy đủ quyền lợi của công dân đô thị thông qua cải cách hộ khẩu, và có quyền tiếp cận tốt hơn tới tín dụng, thì nhiều người trong số 274 triệu người di cư nông thôn hiện đang ở các khu đô thị có thể sử dụng bất động sản chưa bán được. Kế hoạch đô thị hóa của chính phủ lường trước được hơn 100 triệu người di cư hiện thường trú tại các khu vực đô thị. Để chương trình đô thị hóa này thành công, người di cư phải có quyền tiếp cận đầy đủ tới các dịch vụ công ở thành phố, điều đòi hỏi phải có sự tài trợ mạnh mẽ hơn của chính quyền địa phương. Một thách thức khác là đảm bảo rằng những người di cư được đào tạo thích đáng cho các công việc ở đô thị.

Nhiều công ty có công suất dư thừa, phần lớn trong số chúng là các doanh nghiệp sở hữu nhà nước (SOE), sử dụng công nghệ lỗi thời để tạo ra lợi nhuận ít ỏi, nếu không nói là thua lỗ, và đang chìm trong nợ nần. Vì những công ty này vốn đã không hiệu quả, việc hỗ trợ chúng thông qua các chương trình kích thích nhằm gia tăng nhu cầu về sản phẩm của chúng đã làm trầm trọng thêm vấn đề thay vì giải quyết chúng. Tuy nhiên, việc giảm bớt công suất dư thừa bằng cách đóng cửa các doanh nghiệp phải đối mặt với một vài thách thức, bao gồm cho nghỉ việc sâu rộng và những gia tăng có liên quan trong chi tiêu xã hội, giảm thu nhập thuế và tổn thất cho vay.

ADB ước tính rằng việc giảm công suất dư thừa đi 20% trong ngành sắt và thép, khai thác than đá, xi măng, đóng tàu, nhôm và kính tấm có thể cắt giảm 3,6 triệu công ăn việc làm, hay 0,7% tổng số công ăn việc làm không phải là nông nghiệp. Những tổn thất này sẽ tập trung ở các thành phố và những khu vực chuyên về khai mỏ và sản xuất kim loại. Quan ngại về việc đóng cửa các công ty như vậy có thể làm chệch hướng tăng trưởng, sự ổn định xã hội và của cải của chính quyền địa phương trong ngắn hạn như thế nào, chính phủ đã đặt ra những mục tiêu ít tham vọng hơn nhằm giảm bớt năng lực sản xuất thép 10%-15% và than đá 10% trong vòng 3 đến 5 năm.

Nhiều chính quyền địa phương vốn đang chật vật khi thu nhập từ giao dịch đất đai thu hẹp lại và nợ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng và nhà ở xã hội tăng lên, khiến họ phụ thuộc vào thuế được chi trả bởi các doanh nghiệp sở hữu nhà nước. Việc đóng cửa các doanh nghiệp này có thể làm cạn kiệt hơn nữa thu nhập của các chính quyền địa phương trong khi đó buộc họ phải chi tiêu nhiều hơn cho an sinh xã hội. Chính phủ trung ương đã hứa giúp chi trả các khoản phúc lợi xã hội và đào tạo lại những lao động bị cho thôi việc, và dự định thành lập một quỹ đặc biệt cho mục đích này, trong số các biện pháp khác.

 

Do phần lớn các doanh nghiệp sở hữu nhà nước với công suất dư thừa phụ thuộc nặng nề vào việc ngân hàng cho vay và có tỷ số nợ trên tài sản cao (ước tính đạt mức 68% trong lĩnh vực than đá vào năm 2015), nên việc buộc chúng phá sản sẽ đe dọa bảng quyết toán của ngân hàng với nhiều khoản cho vay kém hiệu quả hơn. Đây là một lý do tại sao chính phủ khuyến khích sáp nhập thay vì phá sản nhằm đáp ứng thách thức về dư thừa công suất. Tiến trình sáp nhập có thể được kiểm soát tốt nhằm đảm bảo rằng các doanh nghiệp được sáp nhập hoạt động hiệu quả và không chịu gánh nặng nợ không bền vững. Chính phủ cũng cần tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các ngân hàng thừa nhận và xóa bỏ các khoản cho vay kém hiệu quả chẳng hạn bằng cách không đặt ra các điều kiện phân bổ tín dụng cho toàn bộ các thành phố, khu vực và ngành công nghiệp dựa trên tỷ số nợ kém hiệu quả thấp của một ngành công nghiệp hoặc một SOE đơn lẻ. Điều này sẽ giảm bớt sự chống đối của giới chức trách địa phương trước việc đóng cửa các doanh nghiệp thiếu hiệu quả và chìm ngập trong nợ nần một cách vô vọng, cải thiện việc phân bổ tín dụng và hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp có thành tích hoạt động tốt trong quyền hạn pháp lý của họ.

Theo báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á 2016: Tiềm năng Tăng trưởng của Châu Á của Ngân hàng Phát triển Châu Á.

Văn Cường (gt)