09/07/2015
Tham luận của ông Ian Storey, chuyên gia cao cấp Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore về các hoạt động cải tạo đất của Trung Quốc tại Hội nghị quốc tế lần thứ hai về an ninh và hợp tác ở Biển Đông do Viện Nghiên cứu phương Đông thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga tổ chức ngày 18/6.
Khái quát chung
Từ tháng 8/2013, Trung Quốc đã thực hiện công việc xây dựng đảo nhân tạo, mở rộng lãnh thổ ở quần đảo Hoàng Sa và quan trọng hơn là tại 7 hòn đảo do nước này kiểm soát ở quần đảo Trường Sa, cụ thể là các đảo: Đá Chữ Thập, Gạc Ma, Châu Viên, Tư Nghĩa, Vành Khăn, cụm đá Gaven và Đá Xu Bi. Việc cải tạo các đảo của Trung Quốc ở Trường Sa diễn ra với quy mô nhiều hơn đáng kể so với ở Hoàng Sa do các hạng mục được xây dựng (bao gồm bến cảng, cầu cảng, hệ thống radar giám sát và sân bay) có thể cho phép Trung Quốc duy trì sức mạnh không quân và hải quân nhiều hơn nữa về phía Nam, khu vực trung tâm của Biển Đông.
Mặc dù Trung Quốc đã tuyên bố rằng công tác xây dựng đảo nhân tạo tại Trường Sa là hành động nằm trong phạm vi chủ quyền của mình, song các hành động này đã làm dấy lên mối quan ngại sâu sắc trong toàn khu vực châu Á-Thái Bình Dương và rộng hơn. Sự việc này đã đặt ra câu hỏi về độ tin cậy của quá trình quản lý xung đột giữa Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), làm trầm trọng thêm sự cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc ở Đông Nam Á.
Bài viết này gồm 4 phần chính: giới thiệu tổng quan về hoạt động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Biển Đông trong gần hai năm qua; cách thức của Chính phủ Trung Quốc giải thích về hành động của mình trước những lời chỉ trích của quốc tế, cũng như các cơ sở pháp lý phần lớn không được nêu ra của Trung Quốc; phản ứng của các nước Đông Nam Á và các bên liên quan khác trong tranh chấp, đặc biệt là Mỹ; tác động của việc Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo đối với hòa bình và ổn định ở Biển Đông, cũng như khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Tổng quan về các dự án xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc
Thông tin về hoạt động xây dựng của Trung Quốc ở một số đảo san hô mà nước này chiếm đóng trên quần đảo Trường Sa xuất hiện lần đầu tiên khi Tổng thống Philippines Benigno Aquino trao đổi với các đối tác ASEAN tại Hội nghị thượng đỉnh vào tháng 5/2014. Tuy nhiên, hoạt động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc tại thời điểm đó không thu hút được sự chú ý vì hai lý do. Thứ nhất, sự chú ý được tập trung vào cuộc khủng hoảng trong quan hệ Việt-Trung, khi vào đầu tháng 5, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương-981 vào khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Thứ hai, tại thời điểm này các hình ảnh vệ tinh chi tiết về các công tác xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc chưa được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông. Philippines đã cáo buộc các hoạt động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc trong tháng 4/2014 là vi phạm chủ quyền của nước này và “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC) năm 2002.
Sau khi giàn khoan Hải Dương-981 rút khỏi khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam, các hình ảnh vệ tinh với độ nét cao đã được phát đi cho thấy vào tháng 8 hoặc tháng 9/2013 Trung Quốc đã bắt đầu công tác xây dựng đảo nhân tạo tại hai đảo Chữ Thập và Châu Viên thuộc quần đảo Trường Sa. Cùng thời điểm này Trung Quốc cũng thông báo bắt đầu xây dựng ở hai đảo Quang Hòa Đông và Duy Mộng thuộc quần đảo Hoàng Sa mà nước này chiếm đóng từ năm 1974.
Đầu năm 2014, công việc xây dựng bắt đầu cùng lúc tại 4 đảo mà Trung Quốc chiếm đóng tại quần đảo Trường Sa, gồm: Gạc Ma (nơi xảy ra cuộc chiến giữa hải quân Trung Quốc và Việt Nam khiến hơn 70 chiến sỹ của Việt Nam hy sinh năm 1988), đảo Tư Nghĩa, cụm đá Gaven và đá Xu Bi. Tháng 2/2015, lực lượng vũ trang Philippines cho biết Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng tại Đá Vành Khăn (chiếm vào cuối năm 1994). Ảnh vệ tinh sau đó đã xác nhận báo cáo của lực lượng vũ trang Philippines. Các ảnh chụp cho thấy Trung Quốc xây dựng một cơ sở hải quân nhỏ tại Đá Vành Khăn. Trước đó, vào tháng 12/2014, Philippines cũng cáo buộc Trung Quốc củng cố vị thế tại bãi cạn Scarborough. Trong tháng 4-5/2012, căng thẳng bế tắc giữa hai bên đã diễn ra tại các vùng bãi cạn. Đến nay, không có hoạt động xây dựng được phát hiện tại bãi cạn Scarborough.
Kể từ tháng 8/2013, các hoạt động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa diễn ra hầu như theo cùng một khuôn mẫu. Một đội tàu nạo vét tiến hành bồi đắp cát xung quanh các rạn san hô, sau đó các thiết bị xây dựng hạng nặng và các máy trộn xi măng được vận chuyển đến để phát triển cơ sở hạ tầng quân sự và dân sự, bao gồm các tòa nhà, cầu tàu, bến cảng, hải đăng, sân đỗ trực thăng và đường băng.
Kể từ thời điểm Trung Quốc bắt đầu xây dựng nhân tạo vào năm 2013, Mỹ ước tính rằng nước này đã cải tạo được hơn 2.500 mẫu Anh đất ở quần đảo Trường Sa. Trong đó lớn nhất là tại Đá Chữ Thập, nơi Trung Quốc đã tạo ra một hòn đảo nhân tạo dài khoảng 3.000 m và rộng 200-300 m, do đó làm tăng kích thước của đảo san hô này lên gấp 11 lần so với trước đây. Đá Chữ Thập hiện nay đã có diện tích lớn hơn đảo Ba Bình - hòn đảo tự nhiên lớn nhất tại Trường Sa do Đài Loan chiếm đóng. Hình ảnh vệ tinh cũng cho thấy Trung Quốc đang xây dựng một đường băng trên Đá Chữ Thập có chiều dài bằng toàn bộ chiều dài hòn đảo. Đường băng thứ hai được xây dựng tại Xu Bi. Sau khi hoàn thành, Trung Quốc sẽ có hai đường băng dài nhất và hiện đại nhất trong các đảo tranh chấp.
Cách thức của Chính phủ Trung Quốc giải thích về hành động của mình trước những lời chỉ trích của quốc tế, cũng như các cơ sở pháp lý phần lớn không được nêu ra của Trung Quốc
Trung Quốc đã thẳng thắn bác bỏ các lời chỉ trích đối với công tác xây dựng đảo nhân tạo dựa trên 3 luận cứ sau:
Thứ nhất, vì Trung Quốc có chủ quyền “không thể tranh cãi” trên các đảo san hô ở Biển Đông và vùng nước liền kề nên nước này có quyền thực hiện bất cứ hoạt động nào nếu xét thấy cần thiết tại các đảo mà không cần có sự can thiệp hoặc phản đối từ các bên khác. Tại một cuộc họp báo vào tháng 3/2015, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đã mô tả “việc xây dựng cần thiết”, “trong sân sau của riêng chúng tôi” là “hợp pháp và chính đáng” và không đặt ra mối đe dọa cho bất kỳ quốc gia nào.
Thứ hai, Bắc Kinh lập luận rằng Trung Quốc chỉ làm những gì mà các bên tranh chấp khác đang làm trong một thời gian dài trên các rạn san hô thuộc về Trung Quốc mà họ chiếm giữ trái phép. Các quan chức Trung Quốc cáo buộc những người chỉ trích việc nước này xây dựng đảo nhân tạo là đạo đức giả và áp dụng tiêu chuẩn kép đối với Trung Quốc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố “Trung Quốc kiên quyết phản đối các hoạt động bất hợp pháp và yêu cầu các nước có liên quan ngăn chặn ngay lập tức các hành vi vi phạm đối với chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc”. Việc xây dựng của Trung Quốc ở quần đảo Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam) là hoàn toàn nằm trong phạm vi chủ quyền của Bắc Kinh, hợp lý, công bằng và hợp pháp. Để củng cố luận chứng của mình, Trung Quốc còn nêu cụ thể Phlippines đã làm tương tự vào năm 1970, Malaysia vào năm 1980, Đài Loan vào năm 2014 và Việt Nam trong hai năm qua.
Theo Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á, Việt Nam đã cải tạo khoảng 65.000 m2 trên đảo Đá Tây và 21.000 m2 trên đảo Sơn Ca. Tuy nhiên theo các nhà phân tích, việc xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc vượt xa các nước khác cả về quy mô lẫn tốc độ và làm thay đổi căn bản nguyên trạng ở Biển Đông. Đại sứ Việt Nam tại Philippines gọi các công trình của Việt Nam như là “sự chỉnh trang”, trong khi Bộ Ngoại giao Philippines nói rằng các hoạt động của họ là không có cách nào so sánh được với các hoạt động xây dựng đảo nhân tạo khổng lồ của Trung Quốc”.
Thứ ba, Trung Quốc biện minh rằng các hành động “duy trì và xây dựng công trình” chủ yếu để cải thiện điều kiện sống của lực lượng quân sự đóng trên các đảo san hô và cho phép Trung Quốc cung cấp các dịch vụ công trong tìm kiếm, cứu nạn, cứu trợ thiên tai, nghiên cứu khoa học biển, dự báo thời tiết và nơi tránh trú bão cho ngư dân. Trung Quốc nhấn mạnh rằng việc sử dụng các đảo nhân tạo phục vụ nhu cầu dân sự là chính. Đồng thời Tư lệnh Quân chủng Hải quân Trung Quốc, Đô đốc Ngô Thắng Lợi tuyên bố với Đô đốc Jonathan Greenert của Mỹ rằng Mỹ và các nước khác sẽ được chào đón để sử dụng các tiện nghi trên các hòn đảo nhân tạo “khi có điều kiện thích hợp”. Bộ Ngoại giao Mỹ ngay lập tức bác bỏ đề nghị này với lập luận rằng “các cơ sở xây dựng trên các hòn đảo nhân tạo sẽ không góp phần cho việc gìn giữ hòa bình và ổn định”. Người Mỹ, bất kể quân nhân hay dân thường sẽ không bao giờ hiện diện trên các hòn đảo nhân tạo để có thể bị coi là gián tiếp công nhận các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.
Mục đích chiến lược
Trái ngược với các tuyên bố của Trung Quốc, mục đích chính của việc xây dựng đảo nhân tạo các đảo san hô là vấn đề chiến lược. Các cầu tàu và bến cảng trên các hòn đảo nhân tạo sẽ cho phép Hải quân và Lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc duy trì sự hiện diện thường trực tại quần đảo Trường Sa và trên Biển Đông. Tàu của Hải quân và Lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc có thể sử dụng các cơ sở này để tiếp nhiên liệu, bảo trì, di chuyển… mà không phải quay trở lại cảng tại Trung Quốc Đại lục. Các hệ thống radar và vệ tinh hiện nay được xây dựng sẽ tăng cường đáng kể khả năng kiểm soát hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông. Các sân bay trên Đá Chữ Thập có khả năng chứa hầu hết các máy bay của quân đội Trung Quốc, bao gồm cả máy bay vận tải hạng nặng, máy bay tiếp nhiên liệu, ném bom và chiến đấu phản lực. Trong bối cảnh quân đội Trung Quốc còn thiếu một tàu sân bay đúng nghĩa và bị hạn chế khả năng tiếp nhiên liệu trên không thì các đảo nhân tạo ở Trường Sa sẽ đóng vai trò thay thế.
Cùng với khả năng giám sát được tăng cường, sự hiện diện của máy bay chiến đấu Trung Quốc sẽ làm tăng triển vọng Bắc Kinh thiết lập một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông. Tháng 11/2013, Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố gây tranh cãi về ADIZ trên biển Hoa Đông, bao gồm cả khu vực tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Mặc dù lúc đó có thể suy đoán rằng Bắc Kinh sẽ thiết lập một ADIZ trên Biển Đông song việc thiếu hạ tầng radar quan sát và các máy bay chiến đấu ở khu vực phía Nam Biển Đông đã cho thấy một động thái như vậy là khó xảy ra.
Hiện các hạng mục được xây dựng trên các đảo san hô nhân tạo làm tăng khả năng Trung Quốc có thể thiết lập một ADIZ trên vùng biển tranh chấp. Trong vài tháng qua, máy bay quân sự của Philippines và Mỹ đã bay qua các khu vực đảo san hô do Trung Quốc xây dựng và nhận được những lời cảnh báo của Hải quân Trung Quốc về việc rời khỏi không phận quốc tế trên các dự án xây dựng đảo nhân tạo. Bản thân các yêu cầu này đã khiến người ta dễ dàng liên tưởng tới một ADIZ trong tương lai. Thư ký Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin cho biết đây là một vấn đề cần quan tâm bởi “Trung Quốc hành động như thể đã có một ADIZ mặc dù chưa có tuyên bố chính thức”. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng đã đưa ra tuyên bố rằng Trung Quốc có quyền thiết lập ADIZ khi ám chỉ “quyết định này có thể được đưa ra tùy thuộc vào việc an toàn hàng không bị đe dọa thế nào”.
Sau khi hoàn thành việc xây dựng, các hạng mục trên các đảo nhân tạo sẽ cho phép Trung Quốc triển khai sức mạnh quân sự về phía Nam và trung tâm của Biển Đông. Điều này sẽ giúp quân đội Trung Quốc thực hiện hai nhiệm vụ. Một là bảo vệ tuyến giao thông trên biển, nơi hàng xuất nhập khẩu của nước này đi qua. Hai là triển khai tàu chiến và máy bay để đảm bảo quyền tiếp cận tại khu vực biển này, ngăn chặn hoặc chống lại bên thứ ba (Mỹ) can thiệp quân sự đối với Đài Loan hoặc đảo Điếu Ngư/Senkaku đang trong diện tranh chấp.
Khái quát các mục đích chiến lược của Trung Quốc trong vấn đề xây dựng đảo nhân tạo, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ, Đô đốc Samuel Locklear trong phiên điều trần trước Quốc hội vào tháng 4/2015 đã tuyên bố: “Việc hoàn thành các dự án này sẽ mang lại cho Trung Quốc khả năng hiện diện lớn hơn, tăng thời gian nghỉ ngơi cho quân đội và bảo vệ lợi ích, mở rộng các khu vực giám sát”.
Cơ sở pháp lý trong các hành động của Trung Quốc
Yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông là không rõ ràng. Mặc dù Chính phủ Trung Quốc luôn tuyên bố rằng họ có “chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và vùng biển lân cận”, song không thể lý giải được đường yêu sách “chín đoạn” hoặc làm thế nào yêu sách đó phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982. Ngày càng có vẻ như Trung Quốc không chỉ tuyên bố chủ quyền đối với các đảo bên trong “đường đứt khúc chín đoạn”, mà còn khẳng định “quyền lợi lịch sử” đối với các nguồn tài nguyên.
Rất ít chuyên gia pháp lý quốc tế đồng tình rằng “đường chín đoạn” là phù hợp với UNCLOS hoặc cho rằng Trung Quốc có “quyền lợi lịch sử” đối với gần 80% diện tích Biển Đông. Tuy nhiên trong vài năm qua, nhiều hành động của Trung Quốc ở Biển Đông đã được tính toán để nhấn mạnh “quyền lợi lịch sử” của nước này. Ví dụ việc Trung Quốc đơn phương tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá ở các khu vực phía Bắc Biển Đông từ năm 1999, các tàu Trung Quốc cản trở hoạt động của tàu khảo sát mang cờ Việt Nam và Philippines hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước này. Gần đây nhất là việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương-981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 2014.
Trung Quốc có thể thúc đẩy các hoạt động thực thi pháp luật bằng cách sử dụng các tàu chiến và máy bay bảo vệ bờ biển hoạt động trên các hòn đảo nhân tạo. Đặc biệt tàu của lực lượng cảnh sát biển có thể hộ tống các tàu đánh bắt cá hoạt động trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các quốc gia ven biển mà Trung Quốc tuyên bố thuộc phạm vi bên trong “đường chín đoạn”. Lực lượng cảnh sát biển Trung Quốc và tàu hải quân cũng có thể bảo vệ các tàu khảo sát Trung Quốc và các giàn khoan hoạt động ở các khu vực ngoài “đường chín đoạn”. Một số chuyên gia pháp lý nhận định công tác xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Trường Sa sẽ không làm tăng sức mạnh tuyên bố chủ quyền của nước này đối với các hòn đảo tranh chấp vì theo luật pháp quốc tế, một nhà nước không thể biến một hòn đảo “nửa nổi nửa chìm” thành một đảo nổi để được hưởng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).
Một khía cạnh pháp lý khác trong việc Trung Quốc quyết tâm xây dựng đảo nhân tạo là nhằm làm giảm sức nặng vụ Philippines kiện nước này ra Tòa án Liên hợp quốc về Luật biển (ITLOS) hồi tháng 1/2013 và hiện đang được Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA) xét xử. Trong tài liệu ban đầu cung cấp cho Tòa án, Philippines khẳng định hai vấn đề: một là Đá Chữ Thập, Gạc Ma, Châu Viên và Scarborough là bãi đá có lãnh hải nhưng không có vùng đặc quyền kinh tế. Hai là Trung Quốc đã chiếm đóng bất hợp pháp Đá Vành Khăn, Xu Bi và Gaven. Bằng cách làm thay đổi nguyên trạng các đảo này, Tòa án Trọng tài được thành lập bởi ITLOS không thể thực hiện việc kiểm tra trên thực địa và xác định ban đầu chúng có bị ngập nước khi thủy triều lên hay không và các số liệu địa lý không giống với hồ sơ của Philippines đệ trình lên Tòa.
Dự báo tương lai Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC)
ASEAN và Trung Quốc đã tiến hành các cuộc đàm phán sơ bộ về COC kể từ năm 2013, song kết quả đạt được rất hạn chế. Ngay từ đầu, các quan chức Trung Quốc đã cho thấy họ không vội vã kết thúc vấn đề quan trọng này, mặc dù các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhiều lần kêu gọi kết thúc sớm các cuộc đàm phán.
Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh đã công khai phàn nàn rằng ASEAN không thể cùng Trung Quốc tham gia các “cuộc thảo luận thực chất” về COC và “đã có một khoảng cách rộng giữa các bên đàm phán và các điều kiện thực tế trên biển”. Sự thiếu nhiệt tình của Trung Quốc đã dẫn đến lời suy đoán rằng Trung Quốc muốn kéo dài đàm phán vì muốn mở rộng và củng cố vị thế của mình trước khi kết luận vấn đề then chốt với ASEAN. Các dự án cải tạo làm thay đổi hiện trạng ở Biển Đông ngày càng củng cố quan điểm của những người cho rằng Trung Quốc đang cố kéo dài thời gian.
Phản ứng của khu vực và quốc tế
Các nước ASEAN: Trong số 4 nước ASEAN ở Biển Đông - Philippines, Việt Nam, Malaysia và Brunei thì Philippines là quốc gia lớn tiếng nhất chỉ trích các hành động xây dựng, cải tạo đảo của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa. Điều này không đáng ngạc nhiên vì Manila cho rằng tất cả 7 hòn đảo được Trung Quốc xây dựng và cải tạo là một phần của nhóm đảo Kalayaan (KIG) mà Manila tuyên bố chủ quyền. Các tranh cãi về việc xây dựng các đảo nhân tạo làm quan hệ Trung Quốc-Philippines xấu đi nghiêm trọng kể từ khi Tổng thống Aquino nhậm chức vào năm 2010.
Philippines chỉ trích Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo vì một số lý do. Thứ nhất, Philippines cho rằng 3 đảo Tư Nghĩa, Vành Khăn và Gạc Ma nằm bên trong EEZ của Philippines, vì vậy Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền của nước này. Cục nghề cá và nguồn lợi thủy sản Philippines ước tính hoạt động cải tạo đảo của Trung Quốc gây ra sự hủy diệt các rạn san hô với thiệt hại khoảng 100 triệu USD mỗi năm. Hai là Trung Quốc đã vi phạm điều 5 của DOC. Ba là việc Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo góp phần gây khó khăn đối với công tác xác định tình trạng của các đảo đang có tranh chấp. Bốn là việc xây dựng, cải tạo đảo nhân tạo là một phần nỗ lực của Trung Quốc nhằm tăng cường kiểm soát các khu vực bên trong “đường chín đoạn”, qua đó đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực.
Để đối phó với hoạt động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc, Philippines đã theo đuổi một số sáng kiến ngoại giao. Ban đầu Manila ủng hộ sáng kiến tạm thời chấm dứt leo thang căng thẳng do Mỹ đề xuất. Sau đó, Manila đưa ra “Kế hoạch hành động 3 bước”, bao gồm thực hiện DOC, COC và giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài pháp lý. Trung Quốc bác bỏ kế hoạch này. Philippines cũng đã thuyết phục các đối tác ASEAN để có một lập trường vững chắc hơn đối với Trung Quốc. Tại Hội nghị thượng đỉnh không chính thức các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tháng 1/2015, ông Del Rosario đã kêu gọi các nước liên quan đoàn kết về vấn đề này và gọi hành động của Trung Quốc là “một mối đe dọa chung”. Tuy nhiên, Hội nghị này cũng không đạt được kết quả khả quan, khi tuyên bố chung chỉ nhấn mạnh “các Bộ trưởng Ngoại giao thể hiện mối quan tâm sau sắc đến vấn đề Trung Quốc cải tạo đảo ở Biển Đông”.
Malaysia mặc dù là một bên tranh chấp song với vai trò Chủ tịch ASEAN trong năm 2015 lại thể hiện một quan điểm khá mềm mỏng. Ngoại trưởng Malaysia từ chối yêu cầu của Philippines kêu gọi ASEAN đưa ra một tối hậu thư cho Trung Quốc, thay vào đó chỉ nhấn mạnh “đánh giá cao” nếu Trung Quốc dừng công tác cải tạo và ngồi vào bàn đàm phán cùng các thành viên ASEAN để thảo luận về các vấn đề. Tuy nhiên, tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 26 hồi tháng 4/2015 đã chứa đựng những ngôn ngữ mạnh mẽ hơn báo cáo tháng 1/2015. Văn kiện này bày tỏ “lo ngại nghiêm trọng” về vấn đề “xây dựng đảo nhân tạo được tiến hành ở Biển Đông, làm xói mòn lòng tin và có thể gây phương hại đối với hòa bình, an ninh và ổn định ở Biển Đông”. Trung Quốc đã phản ứng một cách giận dữ khi người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi cho biết hoạt động xây dựng đảo nhân tạo là “hợp lý và hợp pháp”.
Việt Nam đã không thể hiện quan điểm cứng rắn như Philippines khi chỉ trích các hoạt động của Trung Quốc, mặc dù có cáo buộc các hoạt động này là vi phạm chủ quyền, nội dung DOC và Quan điểm chỉ đạo Việt-Trung năm 2011. Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng yêu cầu Trung Quốc ngừng các hoạt động xây dựng, cải tạo của mình và tuân thủ DOC.
Trong khi đó, Brunei gần như hoàn toàn im lặng trước các hành động của Trung Quốc, còn Thái Lan, Myanmar và Lào không có yêu sách nào. Quốc vụ khanh Campuchia đã tuyên bố rằng Campuchia giữ lập trường trung lập trong các tranh chấp tại Biển Đông, song nhấn mạnh các tranh chấp chỉ có thể được giải quyết bởi chính các bên tranh chấp và không thông qua ASEAN. Khi căng thẳng gia tăng trong vài năm qua, Indonesia và Singapore đã nhấn mạnh chính sách trung lập và thể hiện lo ngại trước các diễn biến tình hình. Jakarta mặc dù không có tranh chấp lãnh thổ trực tiếp với Bắc Kinh ở Biển Đông, song “đường chín đoạn” có chồng lấn lên EEZ của nước này vốn được dự báo là giàu tài nguyên thiên nhiên. Tổng thống Indonesia tái khẳng định rằng “đường chín đoạn” của Trung Quốc là không phù hợp với luật pháp quốc tế. Indonesia cũng sẵn sàng đóng vai trò trung gian trong việc giải quyết tranh chấp.
Singapore, một trung tâm giao thương hàng hải toàn cầu đã nêu bật những mối đe dọa tiềm tàng đằng sau các cuộc tranh chấp lãnh thổ. Tại Hội nghị hải quân ở Singapore hồi tháng 5/2015, Bộ trưởng Quốc phòng nước này đã kêu gọi ASEAN và Trung Quốc khẩn trương kết thúc đàm phán COC.
Mỹ chỉ trích gay gắt các dự án xây dựng, cải tạo đảo nhân tạo của Trung Quốc với 3 lý do. Thứ nhất, các hành động của Trung Quốc làm thay đổi đáng kể hiện trạng trên Biển Đông. Thứ hai, các hành động của Trung Quốc đã làm tăng nguy cơ quân sự hóa tranh chấp, gây bất ổn và làm suy yếu hòa bình, ổn định trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Thứ ba, các hành động của Trung Quốc không phù hợp với điều 5 của DOC khi làm phức tạp và leo thang căng thẳng. Cả Tổng thống Obama, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, Đô đốc Harry Harris và Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel đều có những chỉ trích gay gắt các hành động của Trung Quốc.
Các tuyên bố của Mỹ chỉ trích và kêu gọi Trung Quốc tự nguyện làm dịu căng thẳng là nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, trong đó có tự do hàng hải và thể hiện uy tín trước các đồng minh. Mỹ đang theo đuổi 4 mục tiêu gồm: ngăn chặn các hành động gây hấn của Trung Quốc và tăng cường sự ổn định bằng cách củng cố các mối liên minh và quan hệ đối tác trong khu vực; tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở châu Á trong cái gọi là chính sách “xoay trục” - bao gồm một sự hiện diện mạnh mẽ trong và xung quanh Biển Đông; hỗ trợ các nước trong khu vực nâng cao năng lực đảm bảo an ninh hàng hải; tìm cách giảm “rủi ro của những tính toán sai lầm và xung đột không chủ ý với Trung Quốc ở Biển Đông và các nơi khác tại châu Á” bằng cách cải thiện các mối quan hệ quân sự và thống nhất về các biện pháp tránh xung đột.
Trong thực tế, khi nói đến khả năng ngăn chặn việc Trung Quốc xây dựng, cải tạo các đảo nhân tạo thì sự lựa chọn của Mỹ là khá hạn chế. Trước đây, Trung Quốc đã từ chối đề nghị dừng các hoạt động này. Mỹ phản ứng mạnh mẽ hơn và đổ lỗi cho Trung Quốc làm gia tăng các căng thẳng ở Biển Đông, cáo buộc lực lượng quân đội nước này tìm cách hạn chế quyền tiếp cận của Mỹ đối với khu vực. Theo tờ “Wall Street Journal”, việc Mỹ lựa chọn phương án đưa hải quân và không quân vào khu vực 12 hải lý của các đảo nhân tạo Vành Khăn, Tư Nghĩa, Gaven và Xu Bi không phải là chưa có tiền lệ. Trong thập kỷ vừa qua, Mỹ thường xuyên thách thức các yêu sách quá mức hoặc bất hợp pháp của các quốc gia ven biển. Tuy nhiên, hành động này của Mỹ có thể làm tăng nguy cơ va chạm trên biển, trên không khi các phương tiện quân sự của Mỹ và Trung Quốc hoạt động gần nhau như từng xảy ra hồi tháng 4/2001. Một sự cố như vậy có thể nhanh chóng làm tình hình leo thang thành một cuộc khủng hoảng chính trị - quân sự toàn diện giữa Mỹ và Trung Quốc.
Thông tin của tờ báo trên xuất hiện trước chuyến thăm Bắc Kinh của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry một vài ngày, vì vậy đây có thể được coi là sự rò rỉ thông điệp đối với Trung Quốc rằng Mỹ đã chuẩn bị để áp dụng một đường lối cứng rắn ở Biển Đông trừ khi Trung Quốc thay đổi hành vi. Nhật Bản không phải là một bên trong vụ tranh chấp tại quần đảo Trường Sa, nhưng là cường quốc thương mại hàng hải toàn cầu và do vậy có liên quan lớn trong vấn đề này. Tokyo đã nhiều lần bày tỏ mối quan tâm tại các diễn đàn an ninh khu vực và quốc tế, khuyến khích đoàn kết ASEAN lớn hơn và thể hiện sẵn sàng hỗ trợ trong việc nâng cao năng lực cho các lực lượng cảnh sát biển của Việt Nam và Philippines (cung cấp tàu tuần tra). Các hoạt động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc càng khiến Nhật Bản lo lắng. Tại Hội nghị cấp cao Đông Á tháng 11/2014, Thủ tướng Nhật Bản đã gián tiếp chỉ trích các hành động xây dựng, cải tạo đảo nhân tạo của Trung Quốc khi tuyên bố các bên nên “tránh đơn phương gây ra những biến đổi vật lý trong vùng biển tranh chấp”. Khi căng thẳng gia tăng, Nhật Bản đã chuyển sang tăng cường liên minh với Mỹ.
Các quan chức cấp cao của Chính phủ Mỹ đã tuyên bố sẽ tăng cường hợp tác với Nhật Bản và Úc nhằm tăng cường an ninh hàng hải ở Đông Nam Á, ám chỉ ở Biển Đông. Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản trong một cuộc trả lời phỏng vấn cho biết nước này đang cân nhắc việc tăng cường hợp tác với Mỹ tại miền Nam Trung Quốc, bao gồm cả các chuyến bay giám sát.
Úc là một đồng minh của Mỹ, luôn theo dõi sát tình hình tại Biển Đông. Ngoại trưởng Úc khi nói với tờ “Wall Street Journal” cho rằng “hoạt động cải tạo đất của Trung Quốc và các tranh chấp khác có thể làm gia tăng căng thẳng trong khu vực”, tháng 11/2013 đã chỉ trích việc Trung Quốc thiết lập ADIZ trên biển Hoa Đông và cho biết sẽ phản ứng đối với một vùng nhận dạng phòng không tương tự tại Biển Đông.
Do tầm quan trọng toàn cầu của các tuyến đường thương mại hàng hải đi qua Biển Đông nên không quá ngạc nhiên khi những diễn biến gần đây đã làm dấy lên mối quan tâm bên ngoài khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tháng 4/2015, các Ngoại trưởng G-7 (Canada, Pháp, Đức, Italy, Nhật Bản, Anh và Đại diện cấp cao của EU) đã thông qua một tuyên bố về an ninh hàng hải “phản đối bất kỳ nỗ lực nào khẳng định yêu sách biển thông qua việc sử dụng các biện pháp đe dọa, ép buộc hoặc vũ lực” và “kêu gọi các quốc gia tránh các hành động đơn phương gây ra các thay đổi vĩnh viễn đối với môi trường biển…”. Các Bộ trưởng G7 cũng bày tỏ ủng hộ đối với DOC và tăng tốc đàm phán để đạt được COC.
Triển vọng phát triển tình hình
Sau khi Trung Quốc hoàn thành công tác xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa thì khả năng tranh chấp ở Biển Đông sẽ đi theo hướng tiêu cực, thể hiện ở 3 khả năng sau: tiếp tục bùng phát căng thẳng giữa Trung Quốc và các bên tranh chấp trong khu vực Đông Nam Á, chủ yếu là với Philippines và Việt Nam; các tranh chấp trở thành nguồn phát triển mối bất hòa trong quan hệ Mỹ-Trung và có thể dẫn đến cuộc đối đầu nguy hiểm giữa các lực lượng vũ trang hai bên; các hành động xây dựng đảo nhân tạo sẽ phá hoại thêm uy tín của ASEAN-Trung Quốc trong quá trình quản lý xung đột.
Để duy trì tuyên bố chủ quyền của mình tại quần đảo Trường Sa trước các hành động của Trung Quốc, Chính phủ Philippines sẽ xem xét củng cố quan hệ quân sự với Mỹ, thậm chí có thể yêu cầu các tàu chiến Mỹ hộ tống các tàu có chức năng kiểm soát của Philippines. Philippines cũng có khả năng đẩy nhanh phát triển các căn cứ hải quân của nước này trên đảo Palawan và cho phép các lực lượng hải quân Mỹ, Nhật Bản, Úc tiếp cận. Các hành động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc cũng sẽ củng cố quyết tâm của Philippines theo đuổi vụ kiện chống lại tuyên bố của Trung Quốc ở Biển Đông tại Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA).
Căng thẳng do hành động xây dựng, cải tạo đảo nhân tạo của Trung Quốc gây ra có thể khiến Việt Nam tăng cường nền tảng quốc phòng trên các đảo san hô hiện đang kiểm soát. Căng thẳng ở Biển Đông cũng đang đẩy các quốc gia không chỉ ở Đông Nam Á mà cả châu Á-Thái Bình Dương tăng cường chi tiêu quốc phòng, chuẩn bị cho mọi tình huống có thể xảy ra. Chi tiêu quốc phòng trong khu vực Đông Nam Á dự kiến sẽ tăng từ 42 tỷ USD năm 2015 lên 52 tỷ USD vào năm 2020.
Các hành động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc còn có thể dẫn tới một cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc khi căng thẳng có thể leo thang hơn nữa, nếu Trung Quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo hoặc thiết lập ADIZ trên Biển Đông. Mỹ có thể tìm cách thách thức bất kỳ hành động nào của Trung Quốc bằng cách đưa máy bay và tàu chiến đi vào trong vùng 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo và bay qua một ADIZ của Trung Quốc mà không báo trước. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, trước khi đến dự Đối thoại Shangri-La (5/2015) cho biết: “Mỹ sẽ bay, di chuyển tàu và hoạt động bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép giống như đã làm ở tất cả các nơi trên thế giới”. Cái được gọi là các nhiệm vụ bảo vệ tự do của Mỹ sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra các cuộc đụng độ trên biển với các lực lượng vũ trang Trung Quốc. Mặc dù Trung Quốc có thể kiềm chế không tuyên bố lãnh hải hoặc một ADIZ, nhưng diễn biến gần đây ở Biển Đông đã gây ra một cuộc tranh luận nghiêm túc tại Mỹ về vấn đề liệu có nên áp dụng một chính sách cứng rắn với Trung Quốc trước những thách thức từ các hành vi của nước này gây ra trên Biển Đông hay không.
Các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông trong hai năm qua, gồm việc đưa giàn khoan Hải Dương-981 ra biển và xây dựng, cải tạo đảo nhân tạo dường như đã thúc đẩy sự thống nhất hơn trong ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp. Hồi tháng 7/2012, sự đoàn kết của ASEAN về vấn đề này gần như đã sụp đổ thì tháng 4/2015 và tháng 5/2014 các thành viên đã đứng cùng về một phía và đã ra tuyên bố chung bày tỏ quan ngại sâu sắc đối với các hành động của Trung Quốc, mặc dù không nêu trực tiếp tên của nước này. Tuy nhiên, việc Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo có thể cản trở quá trình quản lý xung đột và thực sự đặt lại câu hỏi về hiệu quả của DOC và quá trình đàm phán COC. Hành động xây dựng và cải tạo 2.500 ha đất và sự phát triển các cơ sở quân sự rộng rãi trên các hòn đảo nhân tạo là hoàn toàn không phù hợp với điều khoản trong DOC. Hơn nữa các đảo nhân tạo sẽ cho phép Trung Quốc trở thành người thống trị trên quần đảo Trường Sa trước khi đạt được một COC. Ít có khả năng ASEAN làm chậm lại hoặc ngăn chặn được các hành động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc./.
Theo TTXVN tại Liên bang Nga
Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông là chuỗi hội thảo thường niên do Học viện Ngoại giao (DAV) tổ chức, với mục tiêu thúc đẩy đối thoại chuyên sâu, cởi mở và thẳng thắn về những diễn biến đa chiều liên quan đến Biển Đông.
Ngày 1 tháng 7 năm 2022, Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao đã tổ chức kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Viện. Ngày 12 tháng 7 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định thành lập Viện Biển Đông, trực thuộc Học viện Ngoại giao, là đơn vị chuyên nghiên cứu về các vấn đề bảo vệ biển, đảo,...
Nhằm đẩy mạnh phong trào nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề liên quan đến Biển Đông cũng như tình hình khu vực và thế giới trong sinh viên đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng, Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông ban hành Quy định về Chương trình Học bổng Thắp sáng Đam mê Nghiên cứu Biển Đông.
Bất kể lo ngại về cam kết của Mỹ đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nước Mỹ dưới Chính quyền Joe Biden thực sự đã “quay lại”.
Chỉ trong vòng 1 tuần từ ngày 28/7 đến ngày 4/8, Cục Hải sự tỉnh Hải Nam và tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) liên tục ra 10 thông báo về các cuộc tập trận quân sự trên biển. Đáng chú ý nhất trong số đó là cuộc tập trận phạm vi lớn nhất trên Biển Đông kéo dài từ ngày 6-10/8. Các chuyên gia của Trung Quốc...