24 - 4 - 2017 | 22:11
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý KIẾN VÀ BÌNH LUẬN Lệnh bỏ cấm vận vũ khí sát thương: Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Lệnh bỏ cấm vận vũ khí sát thương: Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Email In PDF.

Dư địa hợp tác quân sự giữa hai quốc gia Việt Nam-Mỹ đang dần dần nới rộng ra với tương thích về tầm nhìn và hội tụ về tương đồng lợi ích chiến lược. Thảo luận về hệ quả đa chiều của quyết định định dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương của Mỹ là một dịp để tổng quan lại nhu cầu hợp tác, cũng như xem xét khả năng và giới hạn của cả hai bên.

 

 

 

Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Sự tương thích giữa các hệ thống vũ khí khác nhau là một yếu tố quan trọng. Nhưng quan trọng không kém, nếu không muốn nói cần được xem là điều kiện ưu tiên hàng đầu, là sự tương thích về tầm nhìn chiến lược giữa các bên. Ở điểm này Việt Nam và Mỹ đang có những bước tiệm cận.

Sách trắng Quốc phòng Việt Năm năm 2009 nêu rõ: “Việt Nam chủ trương mở rộng đối ngoại quốc phòng, tham gia ngày càng tích cực vào các hoạt động hợp tác quốc phòng, an ninh của khu vực và của cộng đồng quốc tế”. Các mối quan hệ quốc phòng được nhấn mạnh bao gồm trao đổi các đoàn quân sự các cấp, tham vấn – đối thoại quốc phòng, tham gia các diễn đàn khu vực và quốc tế. Mục tiêu là nhằm xây dựng lòng tin và ngăn ngừa xung đột. Chia sẽ với báo chí, Phó Tổng tham mưu trưởng Võ Văn Tuấn nhấn mạnh rằng, học thuyết quân sự của Việt Nam là xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tiến tới hiện đại hoá toàn quân. Thời kỳ trước đây, quân đội chỉ mới tiến hành hiện đại hoá năm lực lượng gồm Phòng không không quân, Hải quân, Thông tin liên lạc, Trinh sát kỹ thuật và Tác chiến điện tử. Trong giai đoạn tiếp theo, Việt Nam sẽ hiện đại hoá tất cả các quân binh chủng. Dù Trung Quốc đang dịch chuyển từ cường quốc lục địa sang cường quốc đại dương thì trong ngắn hạn lực lượng hải quân phối hợp tác chiến của Mỹ vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối so với Trung Quốc. Điều quan trọng hơn trong chiến lược triển khai sức mạnh tại khu vực châu Á Thái Bình Dương của Mỹ chính là việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mang tính đột phá nhằm tạo ưu thế thông tin, tình báo - giám sát. Điển hình là chiến lược tác chiến không gian mạng; tác chiến không gian; máy bay, tàu ngầm không người lái; kỹ thuật người máy; tác chiến điện từ… Tất cả Mỹ gọi là: Tiếp cận toàn diện (all domain access). Theo đó, quân đội Mỹ không chỉ chú trọng sức mạnh súng đạn mà còn ứng dụng công nghệ vượt trội vào chiến lược giám sát, tiếp cận từ góc độ hợp tác tình báo, môi trường biển, tự do hàng hải, khảo sát địa chất, chống cướp biển, phát triển hệ thống công nghệ thông tin phục vụ phát triển hàng hải v.v… Đó là một không gian quan trọng để các nước Đông Nam Á trở thành những nút thắt hợp tác, trong đó Việt Nam có thể là một điểm quan trọng nhất.

Cải thiện năng lực ISR

Là “tai”và “mắt” của bất kỳ lực lượng hải quân hiện đại nào, các hệ thống C4ISR đóng vai trò quan trọng trong cả thời bình và thời chiến. Trong thời bình, năng lực này giúp quân đội phát hiện sớm những mối đe doạ an ninh ở cả trên không và trên biển. Bên cạnh đó, nó còn giúp các lực lượng dân sự quản lý tài nguyên và phòng chống thiên tai. Thời chiến, rõ ràng lực lượng nào “nhìn thấy” hay “nghe thấy” đối phương sớm hơn và nhanh hơn sẽ nắm nhiều lợi thế trên chiến trường. Đây là công nghệ mà Mỹ chiếm nhiều lợi thế hơn bất cứ nhà cung cấp vũ khí nào khác.

Nhìn qua các nước châu Á, và xu thế phát triển hệ thống C4ISR tại các nước này. Trung Quốc chẳng hạn, tuy vẫn chưa thể so sánh với Mỹ, nhưng cũng đã tiên tiến hơn nhiều so với các nước láng giềng. Công nghiệp quốc phòng Trung Quốc đã phát triển được máy bay cảnh báo sớm trên không KJ-2000 có thể so sánh với E-3 Sentry hay E-2 Hawkeye của Mỹ. Các máy bay Y-8J của hải quân, mặc dù kém hiện đại hơn, cũng được xem là có khả năng phát hiện các vật thể nhỏ như kính viễn vọng của tàu ngầm ở khoảng cách 185 km. Đó là chưa kể tới các loại UAV mà nước này đang nghiên cứu và phát triển, tiêu biểu là loại BZK-005 vốn đang được Trung Quốc triển khai tại đảo Phú Lâm. Đó là chưa kể tới năng lực ISR trên không gian của Trung Quốc vốn cũng đã được hình thành về căn bản với các dự án liên quan tới hệ thống định vị Bắc Đẩu (cạnh tranh với GPS của Mỹ).

Tại Đông Nam Á, Singapore là quốc gia có năng lực C4ISR hoàn thiện hơn cả. Ngay từ năm 2003, quân đội Singapore đã đưa vào kết nối hệ thống chỉ huy và kiểm soát hỗn hợp (IKC2). Đến năm 2008 thì đưa vào hoạt động Hệ thống điều khiển tác chiến Trên không-Mặt đất (ALTaCC) nhằm tăng cường quá trình ra quyết định chỉ huy. Không quân Singapore (RSAF) cũng đã trang bị các loại UAV của Isreal (Heron-1 và Hermes-450) cho các hoạt động tuần tra. Lý do là các UAV này có hệ thống cảm biến tầm xa tốt hơn các máy bay tuần tra thế hệ cũ. Đặc biệt hơn, RSAF sử dụng máy bay cảnh báo sớm G550 cũng do Israel phát triển để nâng cao tầm quan sát ngoài đường chân trời (over-the-horizon).

Các quốc gia khác lại chưa có được một mức độ quan tâm tới C4ISR toàn diện như Singapore. Xét về mặt trang thiết bị, Malaysia hay Thái Lan chỉ phát triển một số cấu phần của C4ISR. Ví dụ như Malaysia đã có thể tự phát triển một số loại UAV và đồng thời mua sắm UAV từ nước ngoài. Nước này cũng đã đặt hàng một số ra-đa bảo vệ bờ biển của hãng Airbus. Malaysia chưa sở hữu bất kỳ một phương tiện cảnh báo sớm đường không nào, trong khi Thái Lan đã có các máy bay cảnh báo đường không của Thuỵ Điển. Cả Malaysia, Việt Nam, Thái Lan hay Philippines đều sỡ hữu UAV nhưng không nước nào có các hệ thống chỉ huy và kiểm soát hỗn hợp như Singapore.      

Đặt lệnh dỡ bỏ cấm vận trong bối cảnh hiện đại hoá quân đội theo xu hướng phát triển C4ISR như trên cho thấy nhiều “dư địa” hợp tác quan trọng. Không quân và hải quân Việt Nam đang trong quá trình “tiến thẳng lên hiện đại” với một trong nhiều trọng tâm đặt vào việc xây dựng hệ thống tác chiến điện tử, chỉ huy và kiểm soát (C2) và ISR mạnh. Việt Nam thời gian vừa qua cũng đã cố gắng cải thiện năng lực này. Có thế lấy một số ví dụ như kế hoạch phát triển một mạng lưới 35 trạm quan trắc môi trường và khí tượng hải dương trên toàn quốc cho tới năm 2020. Kế hoạch này một khi hoàn thành sẽ góp phần cải thiện năng lực quản lý biển đảo, tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ chủ quyền. Việt Nam cũng là một trong chín quốc gia trên thế giới có thể tự chế tạo hệ thống cảnh giới vùng trời quốc gia tự động. Mang mã hiệu VQ1-M, hệ thống này là sản phẩm hoàn toàn nội địa do Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel nghiên cứu chế tạo dựa trên công nghệ được nước ngoài chuyển giao.

Các vệ tinh mà Việt Nam đã, và sẽ phóng lên quỹ đạo cũng góp phần không nhỏ cho việc từng bước xây dựng và cải thiện năng lực ISR. Bên cạnh đó là các chương trình phát triển máy bay không người lái (UAV). Việt Nam vừa cố gắng tự lực phát triển công nghệ trong nước và cũng vừa hợp tác với nước ngoài để sản xuất các loại UAV khác nhau.

Tuy nhiên, vẫn còn những điểm yếu cần phải khắc phục, và các hợp tác quân sự với Mỹ mở rộng hơn sự lựa chọn cho Việt Nam. Các hệ thống cảnh báo sớm trên không và ra-đa bờ biển là những thiết bị và phương tiện ISR mà Việt Nam đang thiếu. Mặc dù không quân và cảnh sát biển đã trang bị các máy bay tuần thám của Canada và châu Âu, tuy nhiên chúng có tính năng kỹ chiến thuật vừa phải. Với một đường bờ biển dài và vùng thềm lục địa rộng lớn, Việt Nam cần các phương tiện khác hiện đại hơn và nhiều năng lực hơn.

Nhìn rộng hơn, ISR là một phần của một nỗ lực lớn hơn nhằm xây dựng mạng lưới nhận thức hàng hải không chỉ cho riêng Việt Nam mà còn ở cả khu vực Đông Nam Á. Một khả năng ISR tốt hơn sẽ giúp không chỉ Việt Nam mà các nước trong khu vực thách thức lại Trung Quốc tại nơi mà Bắc Kinh luôn xem là “sân sau” của mình.

Các lĩnh vực hợp tác trong tương lai

Một báo cáo đã được Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ xuất bản trong năm 2016 phân tích về “tiềm năng hợp tác an ninh với Việt Nam”. Trong đó, theo các chuyên gia quốc phòng của Mỹ đánh giá, các mục tiêu hợp tác trước mắt của Việt Nam bao gồm: nâng cấp năng lực tác chiến của tàu ngầm; ngăn chặn kết nối không-hải trên biển (nhắm vào chống tiếp tế); tác chiến chống tàu mặt nước (ASUW); tác chiến chống ngầm (ASW); nhận thức hàng hải (MDA); cảnh báo sớm và các năng lực có liên quan tới chỉ huy, kiểm soát, thông tin, máy tính, tình báo, giám sát và trinh sát (C4ISR).

Cũng theo bản báo cáo của Bộ chỉ huy Thái Bình Dương, hợp tác quân sự giữa Việt Nam và Mỹ từ nay cho tới 2022 tập trung vào năm lĩnh vực chủ yếu: an ninh hàng hải; hỗ trợ cứu nạn và phòng chống thiên tai; gìn giữ hoà bình; trao đổi nhân lực; và giảm thiểu hệ quả chiến tranh. Trong lĩnh vực an ninh hàng hải, Việt Nam có mối quan tâm rất lớn tới các loại máy bay hải quân (bao gồm cả trực thăng, máy bay cánh bằng và máy bay tuần thám biển) đi kèm với đó là các năng lực C4ISR có liên quan. Việt Nam cũng mong muốn hợp tác trong việc xây dựng hệ thống giám sát hàng hải thống nhất (Integrated Maritime Surveillance System – IMSS) và các hệ thống giám sát bờ biển (Coastal Surveillance).

Ngoài ra, cả hai bên cũng sẽ hợp tác nâng cao năng lực cho các lực lượng chấp pháp biển bán vũ trang, bao gồm huấn luyện và trang bị các loại tàu tuần tra bờ biển và xây dựng trung tâm huấn luyện. Đặc biệt hơn là tiềm năng trong việc Việt Nam sẽ mua các loại máy bay không người lái chuyên hoạt động trên biển (chương trình này bắt đầu trễ hơn, từ 2019). Trong các lĩnh vực khác, hợp tác giữa hai bên chủ yếu xoay quanh việc Mỹ giúp Việt Nam thiết lập các trung tâm huấn luyện, cũng như hỗ trợ trang thiết bị cần thiết cho từng lĩnh vực hợp tác cụ thể.

Báo cáo cũng nêu ra lời khuyên cho từng binh chủng cụ thể của quân đội Việt Nam và qua đó là những gợi ý hợp tác có liên quan:

  • Lục quân: cần phải tái cấu trúc cơ cấu lục quân, dịch chuyển từ phòng thủ theo khu vực sang chiếm giữ vai trò lớn hơn trong bảo vệ chủ quyền quốc gia. Bên cạnh đó là gia tăng năng lực ứng phó với thiên tai.
  • Không quân: gia tăng năng lực cảnh báo sớm và ISR; tăng cường khả năng ngăn chặn hàng hải (maritime interdiction); phát triển năng lực chống xâm nhập/chống tiếp cận (A2/AD) và tăng cường huấn luyện phi công.
  • Hải quân: cải thiện năng lực MDA; phản công điện tử (electronic countermeasures) và chống phản công điện tử (electronic counter-countermeasures); do thám điện tử (electronic intelligence); cải thiện năng lực chấp pháp biển; phát triển lực lượng không quân hải quân; tăng cường các năng lực ASW và ASUW.

Phát biểu của một số quan chức cao cấp của quân đội Việt Nam cũng đưa ra những đánh giá và góc nhìn có thể đối chiếu từ “quan điểm” của Việt Nam. Chẳng hạn Nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng Việt Nam, trung tướng Nguyễn Tiến Trung trả lời báo chí cho rằng: Việt Nam có thể chưa vội mua sắm các vũ khí công nghệ cao, mà trước hết mua các loại phương tiện không ảnh hưởng tới tương tác hệ thống vũ khí như máy bay trinh sát, tàu tuần thám, máy bay cứu hộ cứu nạn v.v

Trung tướng Nguyễn Thế Lực, nguyên Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng và Quân uỷ Trung ương, mặc dù đánh giá cao quyết định gỡ bỏ cấm vận của Mỹ, lại cho rằng việc mua vũ khí Mỹ đối với Việt Nam không phải điều dễ dàng. Ông nêu lên bốn điểm cần phải được xem xét kỹ: (1) việc tích hợp công nghệ vũ khí; (2) giá cả; (3) nhân lực và (4) bảo dưỡng. Cũng theo Trung tướng Lực, việc mua cụ thể loại vũ khí gì cần cân nhắc kỹ càng và phải tuỳ thuộc vào nhu cầu của Việt Nam.

Có thể nhận thấy trọng tâm hợp tác quốc phòng Mỹ - Việt trong khoảng thời gian 5 năm tới xoay quanh đảm bảo an ninh hàng hải là chủ yếu, trọng tâm sẽ là cải thiện năng lực MDA. Với Sáng kiện An ninh hàng hải (MSI) được Mỹ chính thức đề xuất vào năm ngoái, Việt Nam sẽ không những có thể tự nâng cao năng lực của mình, mà còn có khả năng kết nối khu vực, giúp nâng cao hợp tác đa phương trong vấn đề an ninh biển một cách cụ thể.

Cũng có thông tin cho rằng Việt Nam có thể trước mắt tiếp cận các trang thiết bị vũ khí Mỹ thông qua chương trình vũ khí dôi dư (excess defense articles-EDA) của Lầu Năm Góc. Chương trình này giúp các nước đồng minh và đối tác có thể mua lại các vũ khí đã qua sử dụng của Mỹ với giá rẻ hơn rất nhiều nếu mua mới. Một ví dụ là việc Indonesia mua 24 máy bay F-16 của Mỹ vào năm 2014, với đơn giả mỗi chiếc chỉ vào khoảng một phần ba so với giá gốc (dĩ nhiên là Indonesia chịu chi phí sửa chữa và bảo trì). Tuy Quốc hội Mỹ vẫn sẽ phải thông qua các quyết định mua bán nhưng, đây cũng là một cách tiếp cận cần lưu tâm.

Trước mắt, các loại vũ khí cụ thể mà Việt Nam có thể nhắm tới sẽ chủ yếu phục vụ cải thiện MDA và C4ISR, cụ thể: các loại máy bay chống ngầm và vũ khí đi kèm (hầu như chỉ xoay quanh P-3 Orion hay dòng Hercules); các loại máy bay cảnh báo sớm trên không (khả năng cao là các máy bay của Airbus, dựa trên khung gầm máy bay vận tải C-295 đang có trong biên chế); các loại ra-đa bảo vệ bờ biển, ra-đa giám sát (của Israel hoặc của Mỹ) v.v

Khả năng Mỹ hiện diện nhiều hơn tại Việt Nam trong tương lai cũng cần được đề cập. Cam Ranh là một ví dụ cụ thể. Được đánh giá là vịnh nước sâu tốt nhất tại Biển Đông, Cam Ranh sở hữu ba gía trị chiến lược quan trọng: vị trí địa lý; khả năng phòng thủ tốt và có khả năng tiếp tế tốt. Tàu chiến của các nước đã có thể tới cảng liên hợp Cam Ranh để sửa chữa và tiếp nhiên liệu, lương thực. Liệu trong tương lai Việt Nam có cho phép hải quân Mỹ tiếp cận Cam Ranh ở mức độ như Nga hiện tại hay không? Và dưới những điều kiện như thế nào? Đây là những câu hỏi cần được thảo luận.

Không những tại Cam Ranh, Đà Nẵng cũng được phía Mỹ lưu tâm. Thông tin từ báo giới Mỹ cho rằng cả hai nước đang đàm phán về việc Mỹ thiết lập một căn cứ hậu cần tại Đà Nẵng để đối phó với thảm hoạ thiên tai. Hợp tác trong lĩnh vực này, như đã đề cập, là một trong năm trọng tâm hợp tác an ninh quốc phòng giữa hai nước trong 5 năm tới. Đà Nẵng là đại bản doanh của hải quân vùng 3 và là nơi đặt Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn Hàng hải khu vực II. Với cơ sở hạ tầng sẵn có tại đây, một trung tâm hậu cần ở Đà Nẵng chắn chắn mang nhiều ý nghĩa hơn là một đơn vị logistic đơn thuần.

Tóm lại, dự địa hợp tác quân sự giữa hai quốc gia Việt Nam-Mỹ đang dần dần nới rộng ra với tương thích về tầm nhìn và hội tụ về tương đồng lợi ích chiến lược. Thảo luận về hệ quả đa chiều của quyết định định dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương của Mỹ là một dịp để tổng quan lại nhu cầu hợp tác, cũng như xem xét khả năng và giới hạn của cả hai bên. Xét trong ngắn hạn, hậu cần và huấn luyện sẽ là những ĩnh vực đang chuyển động, và sẽ tăng tốc nhanh. Nền tảng của hai lãnh vực này sẽ là điều kiện thúc đẩy phát triển hợp tác C4ISR Việt Nam-Mỹ trong tương lai xa hơn.

TS Trương Minh Huy Vũ, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP.HCM. 

Nguyễn Thế Phương, Nghiên cứu viên cộng tác tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP.HCM.

Bài viết thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link bài viết, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Bằng việc triển khai kết hợp các phương thức khác nhau, Trung Quốc tìm cách cân bằng lợi ích với Mỹ, kiềm chế Nhật và Hàn Quốc, giữ ASEAN trong vòng ảnh hưởng, lôi kéo Nga can dự, đồng thời hạn chế tối đa tác động cộng hưởng từ nhiều điểm nóng, tiếp tục kiểm soát tranh chấp Biển Đông để tránh các hệ lụy bất lợi cho các mục tiêu chiến lược mà Trung Quốc đã đặt ra.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Từ là bên “tuyến đầu” đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông, Philippines, dưới thời ông Duterte, đã thay đổi gần như đảo ngược hoàn toàn chính sách Biển Đông cũng như mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Vậy đâu là nguyên nhân? Tác động cửa sự thay đổi này đối với khu vực cũng như tranh chấp ở Biển Đông sẽ như thế nào?

Đọc tiếp...

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Bức tranh hệ thống tại hai khu vực quan trọng này một mặt sẽ giúp đưa ra các chỉ dấu để phân tích về chính sách cơ sở hạ tầng cảng biển của Trung Quốc, mặt khác sẽ tạo tiền đề để hình dung các thành tố cơ bản của con đường biển đang dần định hình tại Nam bán cầu.

Đọc tiếp...

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Chuyến thăm của Thủ tướng Naendra Modi tới Việt Nam đã đưa mối quan hệ hai nước đã được nâng cấp từ đối tác chiến lược lên đối tác chiến lược toàn diện. Bài viết này đề cập tới tiềm năng hợp tác quốc phòng giữa hai quốc gia Việt Nam - Ấn Độ trong tương lai dựa trên nền tảng lịch sử cũng như những thế mạnh và vai trò của mỗi nước trong chính sách đối ngoại của nhau.

Đọc tiếp...

Một vành đai, một con đường qua Myanmar - Các dự án tỷ đô trong thay đổi địa chiến lược khu vực

Một vành đai, một con đường qua Myanmar - Các dự án tỷ đô trong thay đổi địa chiến lược khu vực

Trong loạt bài viết này, tác giả sẽ trình bày về Con đường tơ lụa và triển vọng của nó tại Đông Nam Á, bắt đầu từ Myanmar. Đây là một điểm quan trọng, vì  quốc gia tiếp giáp với khu vực Nam Á, nơi đầu tư Trung Quốc  hiện diện ở các cảng biển, CSHT năng lượng, CSHT khai thác, đường ống dẫn, lẫn hành lang trên bộ đi qua 4 quốc gia.

Đọc tiếp...

Phán quyết của Toà Trọng tài cần được tôn trọng và thực thi

Phán quyết của Toà Trọng tài cần được tôn trọng và thực thi

Phán quyết đã giúp đề cao tính thượng tôn pháp luật và tính tôn nghiêm của luật pháp quốc tế, đề cao giá trị của công lý và hoà bình. Đây cũng là hy vọng, là mong muốn chung của các quốc gia trên thế giới yêu chuộng hoà bình và lẽ phải.

Đọc tiếp...

Lệnh bỏ cấm vận vũ khí sát thương: Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Lệnh bỏ cấm vận vũ khí sát thương: Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Dư địa hợp tác quân sự giữa hai quốc gia Việt Nam-Mỹ đang dần dần nới rộng ra với tương thích về tầm nhìn và hội tụ về tương đồng lợi ích chiến lược. Thảo luận về hệ quả đa chiều của quyết định định dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương của Mỹ là một dịp để tổng quan lại nhu cầu hợp tác, cũng như xem xét khả năng và giới hạn của cả hai bên.

Đọc tiếp...

Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí: cơ hội cho đa dạng hoá cơ cấu vũ khí khí tài?

Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí: cơ hội cho đa dạng hoá cơ cấu vũ khí khí tài?

Quyết định giở bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cần được phân tích trên một góc nhìn đa chiều hơn. Đây không chỉ hoàn toàn mang tính biểu tượng xét về góc độ chính trị, hay chỉ là một biểu tượng ngoại giao hình thức. Ở một mức độ nào đó, quyết định này mang cả ý nghĩa về quốc phòng và quá trình định vị các đối tác chiến lược của Việt Nam sắp tới.

Đọc tiếp...

Xóa đi những huyền thoại: Nhìn nhận lại lập trường của Malaysia trên Biển Đông

Xóa đi những huyền thoại: Nhìn nhận lại lập trường của Malaysia trên Biển Đông

Có 2 nhóm thông tin chính được truyền thông cũng như các học giả quốc tế dùng làm căn cứ để diễn giải cách hành xử “an toàn” của Malaysia. Bài viết thảo luận về tính chính xác của hai nhóm ý kiến này nhằm làm rõ bối cảnh và tính chất của các nhóm thông tin. 

Đọc tiếp...

Đài Loan: Nước cờ cuối trong ván cờ giữa Trung Quốc và Philippines tại La Hay

Đài Loan: Nước cờ cuối trong ván cờ giữa Trung Quốc và Philippines tại La Hay

Với những lập luận về chủ quyền với Hoàng Sa, Trường Sa và quy chế pháp lý của đảo Ba Bình, Đài Loan hy vọng tiếp thêm sức mạnh cho Trung Quốc và giảm bớt những nội dung bất lợi trong vụ kiện với Philippines.

Đọc tiếp...

Tại sao Philippines vững tin vào vụ kiện ở Biển Đông?

Tại sao Philippines vững tin vào vụ kiện ở Biển Đông?

Những nỗ lực của Philippines vận động cộng đồng quốc tế và kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết của PCA cho thấy Philippines khá vững tin về phán quyết cuối cùng của tòa. Điều gì khiến Philippines tự tin như vậy?

Đọc tiếp...

Lập trường của Trung Quốc đối với vụ kiện Philippines - Trung Quốc: Diễn giải chủ quan luật pháp quốc tế

Lập trường của Trung Quốc đối với vụ kiện Philippines - Trung Quốc: Diễn giải chủ quan luật pháp quốc tế

Các lập luận của Trung Quốc chủ yếu dựa trên sự diễn giải chủ quan đối với các quy định của UNCLOS nói riêng và luật pháp quốc tế nói chung theo hướng có lợi cho Trung Quốc, bất chấp các thực tiễn pháp lý và án lệ quốc tế.

Đọc tiếp...

Phiên tranh tụng thứ hai của vụ kiện Biển Đông: đòn tấn công trực diện của Philippines

Phiên tranh tụng thứ hai của vụ kiện Biển Đông: đòn tấn công trực diện của Philippines

Philippines đã kết thúc một tuần tranh tụng về nội dung thực chất và các vấn đề còn lại về thẩm quyền trước Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) từ ngày 24 – 30/11 tại La Haye, Hà Lan. Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng và sự khéo léo, Philippines đã đưa ra các đòn tấn công trực diện trong hiệp hai của cuộc chiến pháp lý với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Cắt giảm quân số và xu hướng cải cách của quân đội Trung Quốc

Cắt giảm quân số và xu hướng cải cách của quân đội Trung Quốc

Tuyên bố cắt giảm 300.000 binh lính của Tổng bí thư Tập Cận Bình là một bước tinh giản cần thiết, nối tiếp quá trình hiện đại hóa PLA ít nhất là từ hơn một thập kỷ trở lại đây.

Đọc tiếp...

Đằng sau duyệt binh mừng chiến thắng phát xít tại Bắc Kinh

Đằng sau duyệt binh mừng chiến thắng phát xít tại Bắc Kinh

Thông điệp của lãnh đạo Bắc Kinh là gì? Thông điệp đó được lồng ghép trong tình hình nội trị và sự chuyển biến của chính sách đối ngoại ra sao? Những vũ khí mà Trung Quốc lần đầu tiên trình diễn tại ngày 3 tháng 9 sẽ nói lên điều gì với các quốc gia đang có các vấn đề tranh chấp với Trung Quốc và nói lên điều gì với các đối thủ chiến lược trong khu vực và thế giới?

Đọc tiếp...

ASEAN và Con đường Tơ lụa trên Biển của Trung Quốc

ASEAN và Con đường Tơ lụa trên Biển của Trung Quốc

Nằm trong Sáng kiến “Một vành đai, Một con đường” (OBOR), Con đường tơ lụa trên biển (MSR) là một bước đi kinh tế có ảnh hưởng chiến lược tới khu vực Đông và Nam Á. Tuy nhiên, hiện có những nghi vấn về mục tiêu của Trung Quốc: MSR phải chăng vì kinh tế thuần túy hay đây chỉ là “bình phong” cho mục tiêu an ninh chính trị? Nếu chỉ là về lợi ích kinh tế thì mục tiêu cụ thể của MSR là gì?

Đọc tiếp...

Vụ kiện ở Biển Đông – khởi đầu cuộc chiến pháp l‎ý

Vụ kiện ở Biển Đông – khởi đầu cuộc chiến pháp l‎ý

Đây là vụ kiện khá đặc biệt khi lần đầu tiên xem xét sử dụng cơ chế Phụ lục VII của Tòa Trọng tài luật biển quốc tế; lần đầu tiên do một bên đơn phương kiện về việc giải thích và áp dụng Công ước Luật Biển (UNCLOS). Trung Quốc từ chối không tham gia vụ kiện nhưng thể hiện quan tâm sâu sắc khi công bố tài liệu lập trường tháng 12/2014 và hai thư của Đại sứ Trung Quốc tại Hà Lan gửi Tòa.

Đọc tiếp...

Động thái an ninh của Úc trước tranh chấp Biển Đông

Động thái an ninh của Úc trước tranh chấp Biển Đông

Những diễn biến căng thẳng trong khu vực với điểm nóng Biển Đông đã thúc đẩy Úc đưa ra những bước đi thật sự chủ động trong chính sách đối ngoại, bao gồm việc thắt chặt hợp tác an ninh với đối tác đồng minh truyền thống, ứng xử tích cực hơn trong vấn đề tranh chấp Biển Đông và nỗ lực hình thanh tam giác chiến lược với các đối tác an ninh mới.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và mạng lưới giao thông hạ tầng tại tiểu vùng sông Mekong

Trung Quốc và mạng lưới giao thông hạ tầng tại tiểu vùng sông Mekong

Quá trình mở rộng và hình thành mạng lưới hạ tầng giao thông tại khu vực tiểu vùng sông Mekong tăng tốc trong 5 năm trở lại đây và Trung Quốc là một động lực thúc đẩy. Sự xuất hiện của các “vùng tập trung quốc tế” được liên kết và thúc đẩy bởi Trung Quốc không những đang thay đổi “địa kinh tế”, mà còn định hình những hình dung về địa “chiến lược và chính trị” trong khu vực.

Đọc tiếp...

Sự thật ai là kẻ xâm lược lớn nhất ở Biển Đông

Sự thật ai là kẻ xâm lược lớn nhất ở Biển Đông

Các bức ảnh của AMTI về mức độ cải tạo đất trong Biển Đông của Trung Quốc và Việt Nam đã nảy sinh các cuộc tranh luận về ai là kẻ xâm lược lớn nhất và thế nào là nguyên trạng ở Biển Đông.[1]  

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 9885 khách và 2 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin