22 - 11 - 2017 | 16:25
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý KIẾN VÀ BÌNH LUẬN Phiên tranh tụng thứ hai của vụ kiện Biển Đông: đòn tấn công trực diện của Philippines

Phiên tranh tụng thứ hai của vụ kiện Biển Đông: đòn tấn công trực diện của Philippines

Email In PDF.

Philippines đã kết thúc một tuần tranh tụng về nội dung thực chất và các vấn đề còn lại về thẩm quyền trước Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) từ ngày 24 – 30/11 tại La Haye, Hà Lan. Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng và sự khéo léo, Philippines đã đưa ra các đòn tấn công trực diện trong hiệp hai của cuộc chiến pháp lý với Trung Quốc.

 

 Luật sư Philippines đang trình bày trước Toà (Nguồn: PCA)

 

Trung Quốc tiếp tục trốn tránh

Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố sẽ không tham gia vào vụ kiện này. Trước đó, tháng 12/2014, Trung Quốc đã ra văn bản thể hiện quan điểm của mình rằng PCA không có đủ thẩm quyền để xét xử, vì theo Trung Quốc những gì mà Philippines kiện không thể được phân xử mà không xét đến chủ quyền của các nước, điều mà theo Trung Quốc là PCA không có quyền làm.Tuy nhiên, tháng 10/2015, PCA đã đưa ra phán quyết tiếp tục xét xử vụ này và lắng nghe phần trình bày của phía Philippines.

Tiếp tục từ chối tham dự phiên tranh tụng lần này, Trung Quốc đã vô tình trao cho Philippines cơ hội vạch trần các sai phạm và những điểm yếu trong lập luận yêu sách của mình ở Biển Đông.

Phái đoàn của Philippines tham gia tranh tụng có hơn 50 người, bao gồm Tổng Luật sư, Ngoại trưởng, các thành viên của Toà án Tối cao, các thành viên Hạ viện, các đại sứ, các luật sư, chuyên gia, các nhân chứng và các nhân viên khác.

Trong khi đó, Bồi thẩm đoàn PCA bao gồm 5 thành viên: Thẩm phán Thomas A. Mensah là Chủ tọa cùng các Thẩm phán Jean-Pierre Cot, Stanislaw Pawlak, Rüdiger Wolfrum và Giáo sư Alfred H. A. Soons.

Việt Nam cùng các nước Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore và Úc tham dự với tư cách quan sát viên.

Yêu sách quyền lịch sử phi lý của Trung Quốc

Theo Philippines, mặc dù Trung Quốc chưa bao giờ làm rõ bản chất pháp lý của yêu sách quyền lịch sử nhưng quan điểm của Trung Quốc có thể được tìm hiểu thông qua các tuyên bố và các hành động liên quan của Trung Quốc. Philippines cho rằng Trung Quốc yêu sách “quyền lịch sử” đối với việc sử dụng các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật tại vùng biển nằm bên trong “đường 9 đoạn” nhưng không yêu sách danh nghĩa lịch sử đối với vùng biển này và cũng không coi vùng biển này là lãnh hải. Điều này có thể thấy thông qua việc Trung Quốc cho phép đi lại và bay trong khu vực đường chín đoạn và phản đối các quốc gia khác đánh bắt cá và thăm dò dầu khí trong khu vực này. Như vậy, yêu sách của Trung Quốc không liên quan đến Điều 15 về phân định lãnh hải hay danh nghĩa lịch sử. Do đó, yêu sách này không rơi vào ngoại lệ về thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc theo Điều 298 Công ước Luật Biển và Tòa có thẩm quyền để xem xét vấn đề này.

Philippines cũng cho rằng yêu sách của Trung Quốc không có căn cứ vì Công ước Luật Biển chỉ giải quyết các quyền đối với tài nguyên biển chứ không đề cập đến quyền lịch sử mà Trung Quốc yêu sách. Không có một điều khoản nào trong Công ước công nhận quyền này. Hơn nữa, luật quốc tế chưa bao giờ chấp nhận một yêu sách vùng biển lớn như Trung Quốc đang đòi hỏi. Từ đầu thế kỷ 17, luật quốc tế chỉ công nhận quyền kiểm soát của quốc gia đối với một vùng biển nhỏ hẹp tiếp giáp bờ biển. Mặt khác, một yêu sách đối với vùng biển nhỏ hẹp cũng chỉ có giá trị pháp lý khi thoả mãn được hai điều kiện: thực thi hiệu quả chủ quyền một cách liên tục và được các quốc gia khác công nhận. Trong trường hợp này, Philippines bày tỏ quan điểm yêu sách quyền lịch sử của Trung Quốc là không có căn cứ bởi lẽ, trước thế kỷ 20, Trung Quốc xác định phạm vi lãnh thổ ở cực Nam chỉ đến đảo Hải Nam và yêu sách đối với các đảo nằm trong Biển Đông chỉ mới xuất hiện từ những năm 1930. Yêu sách quyền lịch sử đối với vùng nước nằm trong Biển Đông cũng chỉ mới xuất hiện gần đây và lần đầu được Trung Quốc công bố chính thức năm 2009. Đồng thời, các nước ven Biển Đông chưa bao giờ chấp nhận yêu sách này nên yêu sách quyền lịch sử của Trung Quốc không có giá trị pháp lý.

Bản chất pháp lý của các thực thể ở Biển Đông

Theo Philippines, bãi Vành Khăn (Mischief Reef), Cỏ Mây (Second Thomas Shoal), Xu Bi (Subi Reef), Ga Ven (Gaven Reef) và Ken Nan (McKennan Reef) (bao gồm cả Tư Nghĩa (Hughes Reef)) là các bãi nửa nổi nửa chìm, nghĩa là nổi khi thủy triều xuống thấp và chìm khi thủy triều lên cao. Theo Công ước Luật Biển, các bãi nửa nổi nửa chìm không được hưởng quy chế về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa. Để phục vụ cho luận điểm này, Philippines đã đưa ra nhiều bằng chứng về thủy văn khác nhau bao gồm các hình ảnh vệ tinh và phép đo độ sâu lấy từ ảnh vệ tinh của từng thực thể. Trong các bãi nửa nổi nửa chìm trên, Philippines đặc biệt yêu cầu Tòa xác định bãi Vành Khăn và Cỏ Mây thuộc EEZ và thềm lục địa của Philippines.

 Các bãi nửa nổi nửa chìm và đá theo lập luận của Philippines (Ảnh: CSIS)

Ngoài các bãi nửa nổi nửa chìm, Philippines còn yêu cầu Toà kết luận bãi cạn Scarborough (Scarborough Shoal), Gạc Ma (Johnson Reef), Châu Viên (Cuarteron Reef) và Chữ Thập (Fiery Cross Reef) chỉ là đá vì “không có khả năng cho con người cư trú và không có đời sống kinh tế riêng”. Philippines chỉ ra rằng chỉ có một phần nhỏ của các thực thể này nổi trên mặt nước và cho rằng không có cơ sở để coi chúng “có khả năng cho con người cư trú”. Do đó, chúng chỉ có 12 hải lý lãnh hải mà không được hưởng quy chế về EEZ và thềm lục địa.

Mặc dù không yêu cầu Toà quyết định về bản chất pháp lý của các thực thể lớn hơn ở Biển Đông nhưng để làm rõ hơn giới hạn tối đa vùng biển mà Trung Quốc có thể hưởng, Philippines cũng xem xét các thực thể mà Trung Quốc yêu sách nhưng không chiếm đóng bao gồm Ba Bình (Itu Aba), Thị Tứ (Thitu) và Bến Lạc (West York). Philippines cho rằng các thực thể này cũng chỉ là đá theo Công ước Luật Biển do các điều kiện và môi trường trên các thực thể này không có khả năng duy trì đời sống cho con người. Theo đó, kể cả khi giả định Trung Quốc có chủ quyền đối với tất các thực thể mà Trung Quốc yêu sách thì chúng cũng phát sinh không quá 12 hải lý lãnh hải và Trung Quốc không có cơ sở để yêu sách vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn với Philippines. Vì thế, không tồn tại vấn đề phân định biển để hạn chế thẩm quyền của Tòa.

Các hành vi vi phạm Công ước Luật Biển của Trung Quốc

Philippines chỉ ra ba loại hành vi bất hợp pháp của Trung Quốc.

Thứ nhất, Trung Quốc đã cản trở Philippines hưởng và thực hiện quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong EEZ và thềm lục địa của nước này. Vì yêu sách quyền lịch sử của Trung Quốc đối với việc sử dụng các nguồn tài nguyên trong khu vực đường chín đoạn là vô căn cứ và các thực thể mà Trung Quốc yêu sách chỉ có tối đa 12 hải lý nên không hề tồn tại vùng biển chồng lấn lên EEZ và thềm lục địa của Philippines. Chính vì thế, Trung Quốc không có quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên tại EEZ và thềm lục địa của Philippines. Theo Philippines, Trung Quốc đã ngăn cản Philippines tiến hành thăm dò các mỏ dầu và ngăn chặn các tàu của Philippines đánh bắt ở khu vực chỉ có Philippines có quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên biển. Philippines cho rằng Trung Quốc cũng đã không thực hiện nghĩa vụ ngăn chặn các ngư dân của mình khai thác tài nguyên tại EEZ của Philippines và đã không tôn trọng quyền đánh cá truyền thống của Philippines tại bãi cạn Scarborough.

Thứ hai, Trung Quốc đã vi phạm các nghĩa vụ bảo vệ và bảo tồn môi trường biển theo Điều 194 Công ước Luật Biển. Philippines đưa ra nhiều bằng chứng về việc Trung Quốc đánh bắt các loài có nguy cơ tuyệt chủng, sử dụng các phương pháp đánh bắt hủy diệt bằng chất nổ và xyanua, và gây ra những ảnh hưởng tiêu cực từ việc xây dựng các công trình trên bãi Vành Khăn.

Cuối cùng, Philippines cho rằng Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ của mình theo Công ước Luật Biển khi triển khai các tàu thực thi pháp luật một cách nguy hiểm, và đã có những hành động làm phức tạp thêm tranh chấp ngay cả khi các hoạt động tố tụng đang diễn ra. Cụ thể, Trung Quốc đã ngăn chặn việc tiếp tế của một đội thuộc thủy quân lục chiến Philippines đồn trú trên bãi Cỏ Mây. Ngoài ra, trong năm qua Trung Quốc đã xây dựng hàng loạt các đảo nhân tạo ở gần như tất cả các thực thể dưới sự kiểm soát của Trung Quốc.

Phán quyết cuối cùng dự kiến sẽ được PCA đưa ra vào năm 2016. Phán quyết về thẩm quyền của Tòa vào tháng 10/2015 đã đem lại thắng lợi đầu tiên cho Philippines trong cuộc so găng về pháp lý với Trung Quốc. Trên đà thắng lợi đó, Philippines hoàn toàn có quyền hi vọng về một phán quyết cuối cùng có lợi cho mình khi tiếp tục đưa ra được những lập luận sắc bén trong phiên tranh tụng lần này về nội dung thực chất. Và một khi Tòa phán quyết có lợi cho Philippines thì Trung Quốc sẽ phải chịu sức ép nặng nề cả về phương diện ngoại giao lẫn pháp lý trên trường quốc tế, đặc biệt là tại các cuộc họp khu vực, bởi nếu Trung Quốc không xem trọng kết luận của định chế trọng tài quốc tế thì đó sẽ là một điểm trừ rất lớn đối với hình ảnh quốc gia trên tư cách là một siêu cường đang lên. Do đó, dù đã khẳng định sẽ phớt lờ mọi phán quyết của PCA nhưng Trung Quốc đang đứng trước một lựa chọn rất quan trọng trong việc thuyết phục cộng đồng quốc tế về một Trung Quốc trỗi dậy thực sự hòa bình và có trách nhiệm. 

Quách Thị Huyền (Học viện Ngoại giao)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

“Tứ Sa”: Chiến thuật mới của Trung Quốc tại Biển Đông?

“Tứ Sa”: Chiến thuật mới của Trung Quốc tại Biển Đông?

Lập luận pháp lý mà Trung Quốc đưa ra chủ yếu dựa trên: Một là, yêu sách “vùng nước lãnh hải lịch sử” của Trung Quốc; Hai là, cho rằng khu vực này thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, được xác định từ phần lãnh thổ Trung Quốc có chủ quyền; Ba là, đáng chú ý Trung Quốc cũng đòi hỏi yêu sách chủ quyền thông qua việc khẳng định “Tứ Sa” là một phần thuộc thềm lục địa mở rộng của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông

Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông

Mỹ theo đuổi chiến lược Biển Đông trên 5 trụ cột chính: (i) luật pháp quốc tế,  (ii) kiềm chế, ngăn chặn, (iii) khuyến khích, (iv) cam kết ngoại giao và (v) sử dụng ASEAN. Bài viết đi sâu phân tích và luận giải một cách có hệ thống về chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông qua hai đời tổng thống, Barrack Obama and Donald Trump, khi Biển Đông đang có những diễn biến phức tạp.

Đọc tiếp...

Chính sách Biển của Indonesia: Thuận lợi và thách thức

Chính sách Biển của Indonesia: Thuận lợi và thách thức

Indonesia coi trọng biển, lấy biển làm nền tảng trung tâm cho chính sách phát triển quốc gia. Indonesia sở hữu nhiều điệu kiện tự nhiên thuận lợi để vươn  ra biển, song để thành công, Indonesia cần chú ý hơn đến thành tố đối ngoại và xử lý hài hòa các thách thức Biển Đông.

Đọc tiếp...

Lá bài “tham vấn song phương” của Trung Quốc với Philippines

Lá bài “tham vấn song phương” của Trung Quốc với Philippines

Căn cứ trên bản chất thực dụng của ngoại giao Trung Quốc, Bắc Kinh thực chất không coi hình thức “tham vấn song phương” với Philippines là “nền tảng cho các thảo luận tiếp theo” để tình hình Biển Đông “đi vào ổn định lâu dài” như tuyên bố.

Đọc tiếp...

Ngoại giao nước nhỏ và Bài học cho Việt Nam

Ngoại giao nước nhỏ và Bài học cho Việt Nam

Tháng 7/2016 tại Singapore nổ ra một cuộc bút chiến bàn luận về chủ đề ứng xử của nước nhỏ trong quan hệ quốc tế giữa các nhà ngoại giao kỳ cựu của nước này. Cuộc tranh luận thu hút sự chú ý của dư luận bên trong và bên ngoài Singapore, đặc biệt là trong bối cảnh có những đánh giá về sự thay đổi quan điểm của Singapore trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bắc Kinh đang có bước chuyển trong chiến lược hàng hải, chuyển trọng tâm từ phòng thủ lục địa sang ưu tiên vấn đề an ninh biển, chú trọng phát triển các lợi ích hàng hải ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chuyển động mới của Nhật Bản tại Biển Đông và hàm ý đối với chiến lược của Trung Quốc

Chuyển động mới của Nhật Bản tại Biển Đông và hàm ý đối với chiến lược của Trung Quốc

Tuy Nhật Bản không phải là quốc gia liên quan trực tiếp nhưng Biển Đông có vai trò quan trọng trong tuyến hàng hải huyết mạch trên biển từ Trung Đông đến lãnh hải Nhật Bản. Do vậy, trong thời gian gần đây Nhật Bản liên tục thể hiện quan điểm kiên quyết, nhất quán về vấn đề Biển Đông và tạo ra những thách thức mới cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Vài suy nghĩ về giải pháp giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông

Vài suy nghĩ về giải pháp giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông

Thực tiễn đã chứng minh, nếu căng thẳng không được kiểm soát có thể dẫn đến xung đột vũ trang, dù ở cường độ thấp cũng làm cho khu vực rơi vào vòng xoáy mất ổn định. Bài viết tập trung đề cập đến biện pháp xây dựng lòng tin gữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông, thông qua các cơ chế hợp tác quốc tế ở khu vực và thế giới.

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 2: Một số cơ chế hợp tác và dự báo tình hình sắp tới

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ  2: Một số cơ chế hợp tác và dự báo tình hình sắp tới

Trong bối cảnh hiện nay, các chế hợp tác chống cướp biển, buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm xuyên quốc gia và bảo đảm an ninh trên biển đóng vai trò quan trọng, góp phần làm giảm những vấn nạn nói trên.

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 1:Tình hình an ninh

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 1:Tình hình an ninh

Cũng giống như an ninh trên đất liền, an ninh biển bao gồm cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Theo khuôn khổ đó, bài viết tập trung phân tích, luận giải một số nội dung chủ yếu của an ninh phi truyền thống đang đe dọa an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI.

Đọc tiếp...

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia: Phần II: Sản xuất và Kết nối Đường bộ

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia: Phần II: Sản xuất và Kết nối Đường bộ

Việc Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng tại Campuchia đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế Campuchia cũng như tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia này. Điều này sẽ có những tác động như thế nào đối với khu vực và Việt Nam?

Đọc tiếp...

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia (Phần 1)

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia (Phần 1)

Trong hơn hai thập kỷ, Trung Quốc là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Campuchia. Nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế Campuchia cũng như tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia này.

Đọc tiếp...

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Bằng việc triển khai kết hợp các phương thức khác nhau, Trung Quốc tìm cách cân bằng lợi ích với Mỹ, kiềm chế Nhật và Hàn Quốc, giữ ASEAN trong vòng ảnh hưởng, lôi kéo Nga can dự, đồng thời hạn chế tối đa tác động cộng hưởng từ nhiều điểm nóng, tiếp tục kiểm soát tranh chấp Biển Đông để tránh các hệ lụy bất lợi cho các mục tiêu chiến lược mà Trung Quốc đã đặt ra.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Từ là bên “tuyến đầu” đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông, Philippines, dưới thời ông Duterte, đã thay đổi gần như đảo ngược hoàn toàn chính sách Biển Đông cũng như mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Vậy đâu là nguyên nhân? Tác động cửa sự thay đổi này đối với khu vực cũng như tranh chấp ở Biển Đông sẽ như thế nào?

Đọc tiếp...

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Bức tranh hệ thống tại hai khu vực quan trọng này một mặt sẽ giúp đưa ra các chỉ dấu để phân tích về chính sách cơ sở hạ tầng cảng biển của Trung Quốc, mặt khác sẽ tạo tiền đề để hình dung các thành tố cơ bản của con đường biển đang dần định hình tại Nam bán cầu.

Đọc tiếp...

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Chuyến thăm của Thủ tướng Naendra Modi tới Việt Nam đã đưa mối quan hệ hai nước đã được nâng cấp từ đối tác chiến lược lên đối tác chiến lược toàn diện. Bài viết này đề cập tới tiềm năng hợp tác quốc phòng giữa hai quốc gia Việt Nam - Ấn Độ trong tương lai dựa trên nền tảng lịch sử cũng như những thế mạnh và vai trò của mỗi nước trong chính sách đối ngoại của nhau.

Đọc tiếp...

Một vành đai, một con đường qua Myanmar - Các dự án tỷ đô trong thay đổi địa chiến lược khu vực

Một vành đai, một con đường qua Myanmar - Các dự án tỷ đô trong thay đổi địa chiến lược khu vực

Trong loạt bài viết này, tác giả sẽ trình bày về Con đường tơ lụa và triển vọng của nó tại Đông Nam Á, bắt đầu từ Myanmar. Đây là một điểm quan trọng, vì  quốc gia tiếp giáp với khu vực Nam Á, nơi đầu tư Trung Quốc  hiện diện ở các cảng biển, CSHT năng lượng, CSHT khai thác, đường ống dẫn, lẫn hành lang trên bộ đi qua 4 quốc gia.

Đọc tiếp...

Phán quyết của Toà Trọng tài cần được tôn trọng và thực thi

Phán quyết của Toà Trọng tài cần được tôn trọng và thực thi

Phán quyết đã giúp đề cao tính thượng tôn pháp luật và tính tôn nghiêm của luật pháp quốc tế, đề cao giá trị của công lý và hoà bình. Đây cũng là hy vọng, là mong muốn chung của các quốc gia trên thế giới yêu chuộng hoà bình và lẽ phải.

Đọc tiếp...

Lệnh bỏ cấm vận vũ khí sát thương: Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Lệnh bỏ cấm vận vũ khí sát thương: Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Dư địa hợp tác quân sự giữa hai quốc gia Việt Nam-Mỹ đang dần dần nới rộng ra với tương thích về tầm nhìn và hội tụ về tương đồng lợi ích chiến lược. Thảo luận về hệ quả đa chiều của quyết định định dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương của Mỹ là một dịp để tổng quan lại nhu cầu hợp tác, cũng như xem xét khả năng và giới hạn của cả hai bên.

Đọc tiếp...

Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí: cơ hội cho đa dạng hoá cơ cấu vũ khí khí tài?

Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí: cơ hội cho đa dạng hoá cơ cấu vũ khí khí tài?

Quyết định giở bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cần được phân tích trên một góc nhìn đa chiều hơn. Đây không chỉ hoàn toàn mang tính biểu tượng xét về góc độ chính trị, hay chỉ là một biểu tượng ngoại giao hình thức. Ở một mức độ nào đó, quyết định này mang cả ý nghĩa về quốc phòng và quá trình định vị các đối tác chiến lược của Việt Nam sắp tới.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 12888 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin