7 - 12 - 2019 | 16:04
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý KIẾN VÀ BÌNH LUẬN Mặt trận thông tin Biển Đông - Bài 1: Phân tích từ sự kiện giàn khoan HD981

Mặt trận thông tin Biển Đông - Bài 1: Phân tích từ sự kiện giàn khoan HD981

Email In PDF.

Khi các sự kiện trên thực địa tại Biển Đông giữa 2015 đang nóng lên với “chiến lược đảo hóa” và sự xuất hiện trở lại của giàn khoan HD981, thì một trận chiến khác đang manh nha bùng nổ. Đó là cuộc chiến thông tin và tuyên truyền của Trung Quốc, mà được biết dưới các tên “Tam chủng chiến pháp”.

 

Trong sự kiện giàn khoan HD981 năm 2014, chiến lược này thể hiện qua bốn kênh khác nhau bao gồm cả pháp lý, tâm lý, truyền thông và học giả. Khảo sát lại bài học năm 2014 và thảo luận cho 2015 là mục đích của bài viết này. Qua đó, chúng tôi lập luận rằng, mức độ thành công của “tứ chủng chiến pháp” của Trung Quốc còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, những điểm mà các nước ASEAN và Việt Nam cần tận dụng để tạo ưu thế ngôn luận bằng một chiến lược “hiệp đồng binh chủng” trong mặt trận thông tin.

“Tam chủng chiến pháp”

“Tam chủng chiến pháp” (còn được gọi là “Ba mặt trận - Three Warfares”) của Trung Quốc được Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Ủy ban Quân sự Trung ương đưa ra từ năm 2003. Học thuyết này định hình một chiến thuật hữu hiệu giúp cường quốc này nắm thế chủ động trong những cuộc “chiến tranh thông tin”. Mục đích nhằm đẩy ngược sức ép dư luận về phía đối phương. Theo Bản báo cáo thường niên của Bộ Quốc Phòng Mỹ năm 2011, học thuyết này có nội hàm bao gồm: mặt trận tâm lý, mặt trận truyền thông và mặt trận pháp lý.

Mặt trận tâm lý (Psychological Warfare), bao gồm các hoạt động ngăn chặn, đe doạ, gây rối loạn nhằm làm tê liệt khả năng chống trả của đối phương. Đây được xem là mặt trận chủ chốt trong học thuyết, và cũng là mặt trận được sử dụng linh hoạt tất cả các công cụ về chính trị. Nó bao gồm các bài phát biểu ở nhiều cấp, trong quan hệ song phương và đa phương, các công cụ kinh tế (gián tiếp thông qua hoạt động của các công ty quốc doanh hoặc trực tiếp trừng phạt kinh tế, cứu trợ kinh tế) và trong một số trường hợp có cả các hoạt động quân sự nhằm mục tiêu răn đe (như các cuộc tập trận, phô trương công nghệ quân sự, điều động quân đội v.v). Dựa trên sự linh hoạt và đa dạng trong việc sử dụng nhiều công cụ chính sách, mặt trận này không chỉ tác động đến khả năng ra quyết định trên lĩnh vực chính trị, mà còn ảnh hưởng đến cả các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế hay quốc phòng.

Thứ hai mặt trận truyền thông (Media Warfare). Mục tiêu của mặt trận này nhắm đến các hoạt động tuyên truyền gây ảnh hưởng lên sự nhận thức của công chúng trong nước và quốc tế. Mục tiêu là tạo nên các luồng dư luận ủng hộ quan điểm của chính phủ Trung Quốc, đồng thời gây nhiễu tất cả các quan điểm trái chiều. Mặt trận này được thực hiện triệt để về đối nội thông qua sự phối hợp các phương tiện truyền thông đại chúng và chính sách đóng mở thông tin của chính phủ Trung ương.

Và cuối cùng, trên mặt trận pháp lý (Legal Warfare). Theo đó, Trung Quốc sử dụng phối hợp cả luật quốc gia và luật quốc tế để tạo nền tảng “hợp pháp” cho các hoạt động thực địa, đồng thời làm suy yếu cơ sở pháp lý trong các hoạt động nhằm đáp trả của đối phương.

Đến tháng 1 năm 2005, giới quân sự Trung Quốc lại cho xuất bản tài liệu về 100 trường hợp nghiên cứu cho mỗi loại hình trong ba mặt trận nói trên, nhằm định hướng ứng dụng thực tiễn cho học thuyết được đề ra ba năm trước. Sau hơn 10 năm hoàn thiện dần học thuyết “ba mặt trận” trong vấn đề cô lập đảo Đài Loan, Trung Quốc hiện nay đã chuyển hướng sang áp dụng tại Biển Đông, và đặc biệt đẩy mạnh tấn công trên cả ba mặt trận (truyền thông, tâm lý và pháp lý). Nói một cách ngắn gọn, cả ba mặt trận đều được hoạch định một kế hoạch tổng thể, hỗ trợ lẫn nhau và triển khai đồng loạt trong cùng một thời điểm để đạt hiệu quả tác động tối đa trên mặt trận thông tin.

Sự kiện giàn khoan HD 981: bốn mặt trận ra quân

Trong sự kiện hạ đặt trái phép giàn khoan nước sâu HD981 hồi tháng 5/2014, Trung Quốc ứng dụng học thuyết “Tam chủng chiến pháp” với nhiều điểm phát triển mới.

Về mặt phát ngôn cấp Nhà nước, người phát ngôn của Trung Quốc, bà Hoa Xuân Oánh liên tục bác bỏ những thông tin chi tiết do chính phủ Việt Nam cung cấp với truyền thông quốc tế. Phát biểu này kết hợp với những bài phát biểu của người đứng đầu Vụ Biên giới và các vấn đề đại dương của Bộ Ngoại giao Trung Quốc Âu Dương Ngọc Tĩnh đ nhấn mạnh rằng chính phủ Việt Nam đã gây hấn trước và đâm va tàu chấp pháp của Trung Quốc gần 560 lần. Ngay sau đó, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trình Quốc Bình (8/5) Tổng tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Phòng Phong Huy (13/5) khẳng định Trung Quốc không chịu nhượng bộ về vấn đề giàn khoan HD981.

Bên lề Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (20/5), đến lượt Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn tuyên bố về Biển Đông. Ở cấp độ nguyên thủ, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (21/5) đã lên tiếng về chủ trương “hoà bình” của Trung Quốc trên Biển Đông tại Hội nghị Thượng đỉnh về phối hợp hành động và củng cố lòng tin ở châu Á (CICA) ở Thượng Hải. Những bước đi này đã nhất quán góp phần tăng cường tác động trên mặt trận tâm lý, khiến các chủ thể liên quan dễ rơi vào trạng thái cho rằng khó có thể ngăn chặn quyết tâm của Trung Quốc.

Song song với các hoạt động trên, Trung Quốc còn tích cực gây nhiễu loạn thông tin bằng cách phát động một mặt trận truyền thông quy mô với sự tham gia từ các phương tiện thông tin đại chúng trong nước cho đến các biện pháp tuyên truyền từ những đại diện ngoại giao của Trung Quốc ở nước ngoài. Cách tuyên truyền này có nhiều kênh, thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau. Từ những trang thông tin đối nội được đánh giá là có quan điểm công kích như Thời báo Hoàn Cầu hoặc quan điểm chính thống của chính phủ Trung Quốc như Tân Hoa xã, Kinh Hoa thời báo, Nhân dân Nhật báo.

Các đại diện của Trung Quốc tại các lãnh sự quán, đại sứ quán ở nước ngoài cũng lên tiếng mạnh mẽ. Cụ thể, ngày 20/5, Đại biện lâm thời Sứ quán Trung Quốc ở Indonesia Lưu Hồng Dương đã đăng bài trên tờ Jakarta Post với nội dung nhằm giải thích các quan điểm “rất kiềm chế” của chính phủ Trung Quốc, đồng thời công khai chỉ trích các hành động “gây hấn nguy hiểm” của chính phủ Việt Nam. Đến ngày 29/5, Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ Thôi Thiên Khải đã sử dụng phỏng vấn trên kênh truyền thông quốc tế CNN để khẳng định lần nữa lập trường của Trung Quốc, đồng thời dùng quan hệ ngoại giao nước lớn – nước lớn để “nhắc nhở” thái độ “không phù hợp” của cả Mỹ và Nhật Bản – hai cường quốc đang chống lại Trung Quốc nhiều nhất trong vấn đề giàn khoan HD981.

Các bài viết của đại sứ Trung Quốc tại Úc Mã Triều Húc (đăng trên tờ The Australian của Úc ngày 13/6, đại sứ Trung Quốc tại Nhật Bản Trình Vĩnh Hoa (đăng trên tờ Yomiuri Shimbun của Nhật ngày 17/6), đại sứ Trung Quốc tại Thái Lan Ninh Phú Khôi (đăng trên tờ Matichon của Thái Lan này 23/6) có nhiều nội dung khác nhau, nhưng chủ yếu nhắm vào các kênh truyền thông quốc tế ở những quốc gia có ảnh hưởng trong khu vực và thế giới. Kết hợp với bộ máy truyền thông đại chúng trong nước, mục đích của các hành động này bảo vệ các quan điểm của Bắc Kinh.

Một điểm khác cần nhấn mạnh, đó là sự xuất hiện của mt trận học giả - mặt trận không công bố chính thức. Học giả đi cùng với các nhà ngọai giao tạo thành mặt trận thông tin nhiều chiều. Chẳng hạn khi bài viết của Đại sứ Trung Quốc tại Úc vừa đăng, thì có ngay bài viết hỗ trợ của Giám đốc Trung tâm an ninh hàng hải thuộc Viện Nghiên cứu quốc tế Trung Quốc Triệu Thanh Hải. Cùng ngày 20/5, TS. Ngô Sĩ Tồn, giám đốc Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc, đã cho đăng bài trả lời phỏng vấn trên hãng tin quốc tế Deutsche Welle của Đức với nội dung tương tự, nhấn mạnh vào công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng như một cách nhắc lại tính “pháp lý” theo cách hiểu cố hữu của Trung Quốc (dù cộng đồng học giả và chính phủ Việt Nam đã nêu quan điểm chính thức với thế giới về những yếu tố không mang tính ràng buộc về pháp lý trong vấn đề này).

Chỉ trong tháng 5/2014, Trung Quốc đã triển khai đồng loạt cả ba mặt trận truyền thông, pháp lý và tâm lý. Một cuộc chiến tranh truyền thông tổng lực được phát động với dư luận quốc tế là đích đến. Qua đó, Trung Quốc tìm cách khống chế toàn diện các kênh ngoại giao chính thức cấp Nhà nước (kênh 1), đồng thời vô hiệu hoá kênh ngoại giao học giả (kênh 2).

Phản ứng của Việt Nam

Ứng biến trên cả ba mặt trận, Việt Nam đã trả lời lại Trung Quốc theo các con đường khác nhau. Ngày 11/5/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có bài phát biểu tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 24 ở Myanmar về tình hình đang căng thẳng trên Biển Đông. Tiếp sau đó, ngày 21/5, Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Thị Doan đã có bài phát biểu tại diễn đàn CICA ở Thượng Hải. Để hỗ trợ các phát ngôn chính thức cấp Nhà nước, các phái đoàn ngoại giao của Việt Nam đã đồng loạt sử dụng các kênh ngoại giao đa phương để truyền tải lập trường. 

Ngày 7/5, Việt Nam đã cho lưu hành công hàm phản đối việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD981 tại Liên Hợp Quốc. Ngày 20/5, phái đoàn thường trực của Việt Nam tại Geneva, Thuỵ Sĩ đã gửi thông cáo chính thức trình bày đầy đủ các sự kiện xoay quanh giàn khoan HD981. Thông cáo đó gửi trực tiếp đến Văn phòng của Liên Hợp Quốc, các cơ quan truyền thông quốc tế cũng như trụ sở các tổ chức quốc tế đặt tại Geneva. Sau đó, tại Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ 15 về Đại dương và Luật biển (từ ngày 27 - 30/5), Trưởng đoàn Việt Nam phát biểu đề cập đến các hành động gây căng thẳng của Trung Quốc và những thiệt hại do quốc gia này gây ra cho các hoạt động ngư nghiệp hợp pháp của ngư dân Việt Nam tại các ngư trường đánh bắt truyền thống. Ngày 28/5, tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 17 của phong trào Không Liên kết (NAM) tại Algeria, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hà Kim Ngọc có bài phát biểu để cập nhật tình hình giàn khoan HD981 vi phạm chủ quyền của Việt Nam, đồng thời kêu gọi các quốc gia thành viên phong trào Không liên kết thể hiện tình đoàn kết và đóng góp cho hoà bình và ổn định ở Đông Nam Á.

Việt Nam còn liên tiếp tổ chức các buổi họp báo quốc tế (7, 17, 23/5; 5,17/6) đồng thời kết hợp với nhiều hãng thông tấn quốc tế trong việc đưa tin về tình hình quanh khu vực giàn khoan. Bên lề Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF) tổ chức tại thủ đô Manila (Philippines), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có bài trả lời phỏng vấn các hãng tin AP (Mỹ) và Reuter (Anh) về vấn đề Biển Đông với thông điệp mang tính cảnh báo đối với Trung Quốc rằng Việt Nam không đánh đổi chủ quyền thiêng liêng để đổi lấy “hoà bình hữu nghị viển vông”. Tiếp sau đó, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Quang Vinh  nhắc lại bản chất sự việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD981 với đông đảo đại diện của các cơ quan truyền thông thế giới như CNN (Mỹ), Reuters (Anh), Strait Times (Singapore), NHK (Nhật Bản).

Phương thức kết hợp giữa truyền thông và pháp lý qua sự xuất hiện của các đại sứ của Việt Nam trên truyền thông quốc tế là một bước đi mới. Ngày 27/5, đại sứ Việt Nam tại Indonesia Nguyễn Xuân Thuỷ đã có bài viết trên tờ The Jakarta Post để phân tích những lập luận sai trái về Biển Đông của Đại diện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Indonesia Lưu Hồng Dương nêu ra trong bài viết đăng ngay trước đó (20/5). Ngày 29/5, đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Cường đã có buổi trả lời phỏng vấn của kênh truyền hình CNN nhằm hồi đáp những luận điểm công kích của đại sứ Trung Quốc tại Mỹ Thôi Thiên Khải (21/5). Trong tháng 6/2014, lần lượt các đại sứ Việt Nam ở Nhật Bản, Thái Lan và Úc cũng đã nhanh chóng có bài viết đáp trả các luận điểm vô căn cứ tương ứng của các đại sứ Trung Quốc. Các đại sứ quán Việt Nam ở châu Âu, Nam Phi và nhiều quốc gia khác cũng phát huy kênh ngoại giao nhân dân. Nhiều hình thức khác nhau được thực hiện như Hội thảo quốc tế, tuần hành, biểu tình v.v

 

Trung Quốc

Việt Nam

Mặt trận tâm lý

Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD981 (1/5)

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam gửi thư phản đối (4/5)

Phát ngôn từ lãnh đạo cấp cao (8, 13, 20, 21/5)

Phát ngôn từ lãnh đạo cấp cao (11, 21, 27, 28/5)

Mặt trận pháp lý

Sử dụng luật của Trung Quốc
(Luật cấm đánh bắt hải sản từ 16/5 – 1/8; Thông báo từ Cục Hải sự Trung Quốc về vùng cấm hoạt động xung quanh giàn khoan HD981)

Sử dụng Công ước Liên Hợp Quốc về luật Biển (UNCLOS) và Tuyên bố về Ứng xử các bên trên Biển Đông (DoC)

Tuyên cáo lập trưởng gửi Liên Hợp Quốc (9/6)

Công hàm phản đối lưu hành trên Liên Hợp Quốc (7, 28/5)

Sử dụng lực lượng Hải giám, Hải cảnh

Sử dụng lực lượng Kiểm ngư, Cảnh sát biển

Mặt trận truyền thông

Sử dụng các đơn vị truyền thông trong nước để gây nhiễu thông tin

Tổ chức các cuộc họp báo quốc tế (7, 17, 23/5)

Khuyếch trương các lập luận của cộng đồng học giả trong nước

Kết nối quan điểm giữa cộng đồng học giả trong nước và cộng đồng học giả quốc tế

Bài viết của các đại sứ Trung Quốc ở nước ngoài

Bài viết phản biện của các đại sứ Việt Nam

 

Truyền tải các hoạt động tuần hành hoà bình của người Việt Nam ở nước ngoài

Bảng 1: “Tam chủng chiến pháp” của Trung Quốc trong sự kiện HD981 và phản ứng của Việt Nam

Một chiến thuật “hiệp đồng”

Việt Nam đã cố gắng tận dụng tối đa tất cả các kênh ngoại giao để khai thác triệt để điểm yếu về pháp lý trong các tuyên bố của Trung Quốc.  Lý lẻ là lợi thế quan trọng giúp Việt Nam đạt được sự ủng hộ trên ngoại giao kênh 2 (kênh học giả) và các hoạt động đối ngoại nhân dân. Những kết quả ban đầu cho thấy tiếp cận phản ứng linh hoạt của Việt Nam đã có một lan tỏa nhất định. Sự lan tỏa này không chỉ được đẩy mạnh trên ba mặt trận (ngoại giao, truyền thông và pháp lý), mà còn có cốt lõi là mặt trận học thuật.

Sức mạnh trên thực tiễn có được từ học thuyết “ba mặt trận” của Trung Quốc chứng tỏ được tầm quan trọng trong phương thức phối hợp giữa các cơ quan đối nội và đối ngoại, và giữa các cơ quan này với cộng đồng học giả của họ. Vì thế, đây cũng là thời điểm cần thiết để Việt Nam phát huy những kinh nghiệm rút tỉa được trong sự kiện giàn khoan HD-981; một khởi điểm để chuyển từ một cách ứng phó cụ thể sang một chiến lược phối hợp đồng bộ và dài hạn. Một hình dung đơn giản nhất là sự liên kết giữa “các nhà”, bao gồm nhà ngoại giao, nhà báo, học giả và Nhà nước (theo ý nghĩa các cơ quan thẩm quyền với các sự kiện diễn ra trên thực địa). Qua đó, Việt Nam có thể đúc kết và triển khai một “hợp đồng đa binh chủng” giữa các cơ quan truyền thông – ngoại giao – pháp lý và học thuật.

Quan trọng hơn cả với các nhà hoạch định chính sách, một bài học từ sự kiện HD981 năm 2014 sẽ luôn là kinh điển: khi các sự kiện thực địa càng nóng lên, thì “tam chủng” hay “tứ chủng chiến pháp” từ phía Trung Quốc sẽ mở hết công suất. Mục tiêu lớn nhất của Trung Quốc chính là thắng lợi trên mặt trận thông tin, nhằm che phủ được những hành động phi pháp trên thực địa. Đây cũng là những gì chúng ta đã chứng kiến từ đầu năm 2015 đến nay, và sẽ còn tiếp tục chứng kiến trong 6 tháng cuối năm. Tạo sự liên kết các tác nhân, cùng thiết lập một chiến lược phù hợp đang là bài toán cần xác định câu trả lời cả trong góc nhìn ngắn hạn, lẫn lâu dài.  

--

TS Trương Minh Huy Vũ, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Đại học KHXH&NV tp HCM (SCIS), đồng thời là ủy viên Hội đồng giám sát hoà bình Thái Bình Dương thuộc Diễn Đàn Toàn Cầu Boston (www.bostonglobalforum.org).  

ThS Lục Minh Tuấn, Nghiên cứu viên tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP.HCM.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Chính sách tuyên truyền về Biển Đông của Trung Quốc

Chính sách tuyên truyền về Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đang dồn nhiều các nguồn lực để tuyên truyền về Biển Đông thể hiện qua: (i) duy trì một bộ máy chỉ đạo nhất quán, thông suốt; (ii) sử dụng linh hoạt các nguồn khác nhau, đa dạng hóa các sản phẩm tuyên truyền; (iii) đa dạng hóa các kênh (báo, tạp chí, các đài phát thanh, truyền hình) và các công cụ như hội nghị, hội thảo, hội chợ, sự kiện thể thao, phim ảnh... (v) tiến tới kiểm soát các nền tảng truyền thông hiện đại.

Đọc tiếp...

Bản đồ Đường lưỡi bò năm 1951: Phép thử mới của Trung Quốc

Bản đồ Đường lưỡi bò năm 1951: Phép thử mới của Trung Quốc

Tháng 3/2018, nhóm các nhà nghiên cứu do chính phủ Trung Quốc tài trợ đã công bố công trình công bố bằng chứng mới thể hiện đường chữ U là đường biên giới trên biển của Trung Quốc. Mặc dù đây chỉ là xuất bản của một nhóm nhà nghiên cứu, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng bởi nó là một trong số ít các công trình về chủ đề liên quan được xuất bản sau Phán quyết của Toà Trọng tài vụ kiện Philippines và Trung Quốc. Bài viết sẽ tóm tắt cũng như đánh giá tính khách quan và khoa học của kết quả nghiên cứu chính trong công trình này.

Đọc tiếp...

Biển Đông trong bài toán chiến lược của Ấn Độ

Biển Đông trong bài toán chiến lược của Ấn Độ

Mối quan hệ chiến lược giữa Ấn Độ và Việt Nam đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong chính sách của Ấn Độ về Biển Đông. Việt Nam và Ấn Độ đề cao việc tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Đọc tiếp...

Hợp tác quốc tế ở Biển Đông giữa các nước ASEAN: Thực trạng và triển vọng

Hợp tác quốc tế ở Biển Đông giữa các nước ASEAN: Thực trạng và triển vọng

Hợp tác quốc tế ở Biển Đông giữa các quốc gia ASEAN trong bối cảnh hiện nay đã trở thành nhu cầu cấp thiết. Trên tinh thần đó, bài viết sẽ góp phần làm sáng tỏ thực trạng hợp tác quốc tế trên biển trong một số lĩnh vực cụ thể hiện nay giữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông và đưa ra những nhận định đánh giá về triển vọng trong thời gian tới.

Đọc tiếp...

“Tứ Sa”: Chiến thuật mới của Trung Quốc tại Biển Đông?

“Tứ Sa”: Chiến thuật mới của Trung Quốc tại Biển Đông?

Lập luận pháp lý mà Trung Quốc đưa ra chủ yếu dựa trên: Một là, yêu sách “vùng nước lãnh hải lịch sử” của Trung Quốc; Hai là, cho rằng khu vực này thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, được xác định từ phần lãnh thổ Trung Quốc có chủ quyền; Ba là, đáng chú ý Trung Quốc cũng đòi hỏi yêu sách chủ quyền thông qua việc khẳng định “Tứ Sa” là một phần thuộc thềm lục địa mở rộng của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông

Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông

Mỹ theo đuổi chiến lược Biển Đông trên 5 trụ cột chính: (i) luật pháp quốc tế,  (ii) kiềm chế, ngăn chặn, (iii) khuyến khích, (iv) cam kết ngoại giao và (v) sử dụng ASEAN. Bài viết đi sâu phân tích và luận giải một cách có hệ thống về chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông qua hai đời tổng thống, Barrack Obama and Donald Trump, khi Biển Đông đang có những diễn biến phức tạp.

Đọc tiếp...

Chính sách Biển của Indonesia: Thuận lợi và thách thức

Chính sách Biển của Indonesia: Thuận lợi và thách thức

Indonesia coi trọng biển, lấy biển làm nền tảng trung tâm cho chính sách phát triển quốc gia. Indonesia sở hữu nhiều điệu kiện tự nhiên thuận lợi để vươn  ra biển, song để thành công, Indonesia cần chú ý hơn đến thành tố đối ngoại và xử lý hài hòa các thách thức Biển Đông.

Đọc tiếp...

Lá bài “tham vấn song phương” của Trung Quốc với Philippines

Lá bài “tham vấn song phương” của Trung Quốc với Philippines

Căn cứ trên bản chất thực dụng của ngoại giao Trung Quốc, Bắc Kinh thực chất không coi hình thức “tham vấn song phương” với Philippines là “nền tảng cho các thảo luận tiếp theo” để tình hình Biển Đông “đi vào ổn định lâu dài” như tuyên bố.

Đọc tiếp...

Ngoại giao nước nhỏ và Bài học cho Việt Nam

Ngoại giao nước nhỏ và Bài học cho Việt Nam

Tháng 7/2016 tại Singapore nổ ra một cuộc bút chiến bàn luận về chủ đề ứng xử của nước nhỏ trong quan hệ quốc tế giữa các nhà ngoại giao kỳ cựu của nước này. Cuộc tranh luận thu hút sự chú ý của dư luận bên trong và bên ngoài Singapore, đặc biệt là trong bối cảnh có những đánh giá về sự thay đổi quan điểm của Singapore trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bắc Kinh đang có bước chuyển trong chiến lược hàng hải, chuyển trọng tâm từ phòng thủ lục địa sang ưu tiên vấn đề an ninh biển, chú trọng phát triển các lợi ích hàng hải ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chuyển động mới của Nhật Bản tại Biển Đông và hàm ý đối với chiến lược của Trung Quốc

Chuyển động mới của Nhật Bản tại Biển Đông và hàm ý đối với chiến lược của Trung Quốc

Tuy Nhật Bản không phải là quốc gia liên quan trực tiếp nhưng Biển Đông có vai trò quan trọng trong tuyến hàng hải huyết mạch trên biển từ Trung Đông đến lãnh hải Nhật Bản. Do vậy, trong thời gian gần đây Nhật Bản liên tục thể hiện quan điểm kiên quyết, nhất quán về vấn đề Biển Đông và tạo ra những thách thức mới cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Vài suy nghĩ về giải pháp giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông

Vài suy nghĩ về giải pháp giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông

Thực tiễn đã chứng minh, nếu căng thẳng không được kiểm soát có thể dẫn đến xung đột vũ trang, dù ở cường độ thấp cũng làm cho khu vực rơi vào vòng xoáy mất ổn định. Bài viết tập trung đề cập đến biện pháp xây dựng lòng tin gữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông, thông qua các cơ chế hợp tác quốc tế ở khu vực và thế giới.

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 2: Một số cơ chế hợp tác và dự báo tình hình sắp tới

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ  2: Một số cơ chế hợp tác và dự báo tình hình sắp tới

Trong bối cảnh hiện nay, các chế hợp tác chống cướp biển, buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm xuyên quốc gia và bảo đảm an ninh trên biển đóng vai trò quan trọng, góp phần làm giảm những vấn nạn nói trên.

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 1:Tình hình an ninh

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 1:Tình hình an ninh

Cũng giống như an ninh trên đất liền, an ninh biển bao gồm cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Theo khuôn khổ đó, bài viết tập trung phân tích, luận giải một số nội dung chủ yếu của an ninh phi truyền thống đang đe dọa an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI.

Đọc tiếp...

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia: Phần II: Sản xuất và Kết nối Đường bộ

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia: Phần II: Sản xuất và Kết nối Đường bộ

Việc Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng tại Campuchia đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế Campuchia cũng như tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia này. Điều này sẽ có những tác động như thế nào đối với khu vực và Việt Nam?

Đọc tiếp...

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia (Phần 1)

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia (Phần 1)

Trong hơn hai thập kỷ, Trung Quốc là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Campuchia. Nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế Campuchia cũng như tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia này.

Đọc tiếp...

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Bằng việc triển khai kết hợp các phương thức khác nhau, Trung Quốc tìm cách cân bằng lợi ích với Mỹ, kiềm chế Nhật và Hàn Quốc, giữ ASEAN trong vòng ảnh hưởng, lôi kéo Nga can dự, đồng thời hạn chế tối đa tác động cộng hưởng từ nhiều điểm nóng, tiếp tục kiểm soát tranh chấp Biển Đông để tránh các hệ lụy bất lợi cho các mục tiêu chiến lược mà Trung Quốc đã đặt ra.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Từ là bên “tuyến đầu” đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông, Philippines, dưới thời ông Duterte, đã thay đổi gần như đảo ngược hoàn toàn chính sách Biển Đông cũng như mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Vậy đâu là nguyên nhân? Tác động cửa sự thay đổi này đối với khu vực cũng như tranh chấp ở Biển Đông sẽ như thế nào?

Đọc tiếp...

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Bức tranh hệ thống tại hai khu vực quan trọng này một mặt sẽ giúp đưa ra các chỉ dấu để phân tích về chính sách cơ sở hạ tầng cảng biển của Trung Quốc, mặt khác sẽ tạo tiền đề để hình dung các thành tố cơ bản của con đường biển đang dần định hình tại Nam bán cầu.

Đọc tiếp...

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Chuyến thăm của Thủ tướng Naendra Modi tới Việt Nam đã đưa mối quan hệ hai nước đã được nâng cấp từ đối tác chiến lược lên đối tác chiến lược toàn diện. Bài viết này đề cập tới tiềm năng hợp tác quốc phòng giữa hai quốc gia Việt Nam - Ấn Độ trong tương lai dựa trên nền tảng lịch sử cũng như những thế mạnh và vai trò của mỗi nước trong chính sách đối ngoại của nhau.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 6314 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin