24 - 11 - 2017 | 12:27
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý KIẾN VÀ BÌNH LUẬN Sự thật ai là kẻ xâm lược lớn nhất ở Biển Đông

Sự thật ai là kẻ xâm lược lớn nhất ở Biển Đông

Email In PDF.

Các bức ảnh của AMTI về mức độ cải tạo đất trong Biển Đông của Trung Quốc và Việt Nam đã nảy sinh các cuộc tranh luận về ai là kẻ xâm lược lớn nhất và thế nào là nguyên trạng ở Biển Đông.[1]  

 

Khái niệm “xâm lược” được đề cập trong Nghị quyết 3314 ngày 14/12/1974 của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc[2]. Theo đó, một quốc gia sử dụng lực lượng quân sự chống lại chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của một quốc gia khác, hoặc bất kỳ hình thức nào không phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc. Quốc gia bị xâm lược có quyền tự vệ chính đáng.

Các công trình cải tạo đất hiện nay trên Biển Đông gắn một cách hữu cơ với các yêu sách chủ quyền. Các bằng chứng lịch sử cho thấy Việt Nam là quốc gia đầu tiên thực hiện quản l‎ý các quần đảo ít nhất từ thế kỷ XVII. Năm 1909 Trung Quốc mới quan tâm đến Hoàng Sa, năm 1932 Trung Quốc còn yêu sách Hoàng Sa là điểm tận cùng lãnh thổ phía Nam. Trung Quốc cũng là quốc gia đóng quân trên Trường Sa muộn nhất vào năm 1988 sau khi dùng vũ lực bắn cháy 3 tàu vận tải Việt Nam, thảm sát dã man 64 lính công binh Việt Nam không vũ khí. Philippines quan tâm đến Trường Sa những năm cuối thập niên 1950 và Malaysia có mặt ở phần phía Nam vào những năm 1980. Một nước có chủ quyền từ lâu bị tấn công bằng vũ lực thì biện pháp đầu tiên là phải mở rộng đóng quân để ngăn cản sự xâm hại chủ quyền của mình. Trong năm 1988, Việt Nam đã tăng cường đóng quân và thông báo rõ với thế giới về 21 đảo, đá đồn trú của mình. Philippines đóng 8 đảo, Trung Quốc 9 đảo, Đài Loan 1 đảo, Malaysia từ 3 đảo năm 1980 tăng lên 5 vào năm 1999.

Greg Austin lấy con số từ 2009 đến nay Trung Quốc đóng 9 thực thể (features) còn Việt Nam đã tăng gấp đôi lên 48 thực thể. Trước hết, ông này đã dẫn không chính xác phát biểu của Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ David Shear vào ngày 13/5/2015: “Việt Nam có 48 điểm đóng” [Nguyên văn: “Viet Nam has 48 outposts”]. Báo cáo Mỹ gọi đó là các outpost (điểm đóng) chứ không phải là features (thực thể). Năm 1995 nhằm giảm thiểu căng thẳng, tạo điều kiện giải quyết hòa bình các tranh chấp Việt Nam là bên đầu tiên đã kêu gọi các nước tôn trọng nguyên trạng[3]. Việt Nam đã không mở rộng chiếm đóng mới trên bất kỳ một thực thể nào mà chỉ tăng cường các điểm quan sát trên cùng một thực thể để bảo đảm quản lý và chống sự xâm nhập của nước ngoài lên đảo. Ví dụ trên cùng một bãi Thuyền Chài (Barque Canada Reef hay Lizzie Weber Reef) dài khoảng 17 hải lý, rộng khoảng 3 hải lý, Việt Nam đồn trú ở trung tâm bãi và có thêm hai chòi quan sát đầu bãi và cuối bãi. Phát biểu của Đại tướng Phùng Quang Thanh ngày 1/6/2015 cho biết Việt Nam vẫn duy trì trên 9 đảo nổi và 12 bãi cạn lúc nổi lúc chìm.[4] Nhiều điểm đóng trên một thực thể tồn tại tự nhiên chưa chắc đã bằng việc mở rộng thực thể gấp nhiều lần kích thước thật để xây dựng cả một tổ hợp căn cứ quân sự trên đó như Trung Quốc đang làm. Bản đồ của Greg Austin còn ghi nhận các công trình của Việt Nam trên bãi cạn Tư Chính thuộc thềm lục địa mở rộng của đất liền Việt Nam mà không phải là một bộ phận của quần đảo Trường Sa. Từ năm 1989, Việt Nam đã có Cụm Kinh tế - Khoa học - Dịch vụ trên đó.[5] Cách tính trên không biết vô tình hay hữu ý‎ bỏ qua các đảo, đá ở Hoàng Sa bị Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm phi pháp năm 1974. Vì vậy việc sử dụng các con số một cách lẫn lộn, không nhìn vào bản chất là trò chơi không công bằng.

Các công trình cải tạo của Việt Nam, Philippines và Malaysia đều bắt đầu trước khi có Tuyên bố Ứng xử Trung Quốc - ASEAN (DOC) năm 2002 và đều có những điểm chung: được tiến hành trên đảo, đá nổi trên mặt nước, nhằm mục tiêu chống xói mòn và cải thiện đời sống sinh hoạt; nguyên vật liệu được chở từ đất liền, các đảo dần được dân sự hóa và bắt đầu có các kế hoạch du lịch; không có vũ khí hạng nặng, không là căn cứ quân sự lớn, đe dọa các nước khác, chỉ có tính phòng thủ, không làm thay đổi bản chất tự nhiên của thực thể. Công tác cải tạo đất của Trung Quốc trên các bãi cách đất liền Trung Quốc gần 1.000 km bắt đầu từ 1988, tăng nhanh với tốc độ và quy mô chóng mặt. Các hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đã tăng diện tích cải tạo đất từ 20 đến 810 ha.[6] Tại Subi, tốc độ lấn biển từ tháng 5 đến tháng 6/2015 là 8 ha/ngày biển bãi ngầm này thành một căn cứ nổi có diện tích đến nay là 3,87 km2 đủ để thiết lập một đường băng hơn 3 km.[7] Nên nhớ, toàn bộ diện tích các đảo nổi ở Trường Sa không quá 10 km2 trên diện tích biển 160-180.000 km2. Trung Quốc sử dụng các tàu hút nạo vét lớn nhất thế giới, phá hủy các rặng san hô để lấy nguyên liệu, vi phạm các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, đã làm tổn hại 300 ha rặng san hô biển, gây tổn thất ban đầu hơn 100 triệu USD mỗi năm[8] cho các nước xung quanh Biển Đông và những tổn thất không thể bù đắp cho môi trường. Trung Quốc bồi lấp các bãi lúc nổi lúc chìm, biến chúng thành các đảo nhân tạo, rồi đòi hỏi thế giới phải công nhận các đảo này có quy chế pháp lý như các đảo nổi, nghĩa là từ chỗ các đảo nhân tạo chỉ có vùng an toàn 500m chúng sẽ có lãnh hải 12 hải lý thậm chí vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Điều này không hề có trong Công ước Luật Biển UNCLOS mà Trung Quốc từng cam kết. Quy mô lấn biển của Việt Nam chỉ là 0,2% so với diện tích lấn biển của Trung Quốc vào tháng 3/2015.[9] Các công trình xây dựng trên các bãi này được Trung Quốc cho là phục vụ bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, tìm kiếm cứu nạn nhưng trước hết đó là các căn cứ quân sự, trang bị vũ khí hạng nặng và sân bay, bến cảng. Quy mô và tốc độ lấn biển của Trung Quốc làm cả thế giới lo lắng vì nó đe dọa trực tiếp đến quyền tự do hàng hải của các quốc gia, ít nhất là trong vòng 12 hải lý từ các công trình mà Trung Quốc đang xây dựng. Các căn cứ này là nơi xuất phát của các lực lượng chấp pháp biển Trung Quốc, xua đuổi, bắn, cướp các tàu cá ngư dân Việt Nam, Philippines, Malaysia, từng bước thiết lập lệnh cấm đánh bắt cá và yêu sách đường chin đoạn trên toàn Biển Đông. Các căn cứ này rõ ràng mang tính tấn công, đe dọa hoàn bình, ổn định khu vực nên buộc Mỹ, G7 và nhiều nước khác phải lên tiếng.[10] Công trình cải tạo đất của Trung Quốc đã kích thích cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực khi buộc các nước nhỏ vì an ninh chủ quyền của mình phải đầu tư những khoản tiền lớn cho vũ khí.

Trung Quốc rõ ràng đang tự mình đặt các quy tắc mới cho luật biển quốc tế.  

PGS.TS. Nguyễn Hồng Thao

(Học viện Ngoại giao Việt Nam và Đại học Quốc gia Hà Nội)



[1] Greg Austin, http://thediplomat.com/2015/06/who-is-the-biggest-aggressor-in-the-south-china-sea/

Andrew Chubb , https://southseaconversations.wordpress.com/2015/06/14/defining-the-status-quo-in-the-south-china-sea/

[2] http://unispal.un.org/UNISPAL.NSF/0/023B908017CFB94385256EF4006EBB2A, "Xâm lược là hành vi sử dụng vũ lực của một quốc gia chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của một quốc gia khác, hoặc theo bất cứ hình thức nào trái ngược với Hiến chương Liên Hợp Quốc."


[3] AFP, Tokyo ngày 21/4/1995. Ngày 20/4/1995, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã phát biểu chính thức tại Tokyo rằng: "Quan điểm của Việt Nam là giữ gìn hiện trạng để duy trì hòa bình và an ninh ở khu vực và tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho tranh chấp thay vì là sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực."

[5] Ngày 14/8/1989, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập Cụm Kinh tế - Khoa học - Dịch vụ trên vùng bãi ngầm Tư Chính, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Tần, Phúc Nguyên thuộc thềm lục địa Việt Nam. Có toạ độ 7-8030' Bắc, 1090-112020' Đông.

Nhân Dân ngày 14/8/1989.


[6] http://www.economist.com/news/asia/21652510-america-and-china-are-odds-over-south-china-sea-trouble-shangri-la; “Bộ trưởng Carter cho biết Trung Quốc đã cải tạo hơn 2.000 mẫu Anh (tương đương 810 ha), một diện tích lớn hơn tất cả các bên tranh chấp cộng lại.. và lớn nhất trong lịch sử khu vực... chỉ trong 18 tháng, một khoản thời gian rất ngắn."

[8] http://www.gov.ph/2015/04/13/dfa-statement-on-chinas-reclamation-activities-and-the-impact-on-the-regions-marine-environment/

[9] Carlyle Thayer, Review of the implementation of the 2002 ASEAN-China DOC and COC and challenges, Seminar Workshop on the implementation of the DOC-SCS, Manila, 14-15 May 2015, p. 10.

[10] http://www.reuters.com/article/2015/06/06/us-g7-summit-southchinasea-idUSKBN0OM05D20150606 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Comments  

 
+2 #3 Sự thật ai là kẻ xâm lược lớn nhất ở Biển ĐôngMason 2017-05-27 07:38
Wow, tһіѕ post іs fastidious, my youngеr sister іѕ analyzing thеse things, so I am going to
convey heг.

Hаve a lⲟok at my website; thong ke giai dac biet xsmb: http://soicaupro.com/ket-qua-xo-so-mien-bac-xstd.html
Quote
 
 
0 #2 Sự thật ai là kẻ xâm lược lớn nhất ở Biển ĐôngTheron 2017-05-08 00:04
Great web site үou've got ɦere.. It's harɗ to fіnd
quality writing ⅼike уߋurs thеse days. I serioᥙsly
appreciate people like yоu! Take care!!

Here iѕ mу site :: link fun88 moi
nhat: http://daycado.com/
Quote
 
 
+2 #1 Sự thật ai là kẻ xâm lược lớn nhất ở Biển ĐôngRamon 2017-04-28 03:15
ӏts like you rᥱad mу mind! Ⲩou seem to қnow so
mucһ aЬout thіs, like you wrote the book in it оr sometɦing.
Ӏ thіnk thаt yⲟu cоuld ԁo with a few pics to drive tҺᥱ message һome а little bit, bᥙt otɦer
than tɦat, this is excellent blog. Ꭺ fantastic rеad.
I'll definiteⅼy be back.

Take a looқ at my homepage: fun88
bet link: http://daycado.com/
Quote
 

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

“Tứ Sa”: Chiến thuật mới của Trung Quốc tại Biển Đông?

“Tứ Sa”: Chiến thuật mới của Trung Quốc tại Biển Đông?

Lập luận pháp lý mà Trung Quốc đưa ra chủ yếu dựa trên: Một là, yêu sách “vùng nước lãnh hải lịch sử” của Trung Quốc; Hai là, cho rằng khu vực này thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, được xác định từ phần lãnh thổ Trung Quốc có chủ quyền; Ba là, đáng chú ý Trung Quốc cũng đòi hỏi yêu sách chủ quyền thông qua việc khẳng định “Tứ Sa” là một phần thuộc thềm lục địa mở rộng của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông

Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông

Mỹ theo đuổi chiến lược Biển Đông trên 5 trụ cột chính: (i) luật pháp quốc tế,  (ii) kiềm chế, ngăn chặn, (iii) khuyến khích, (iv) cam kết ngoại giao và (v) sử dụng ASEAN. Bài viết đi sâu phân tích và luận giải một cách có hệ thống về chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông qua hai đời tổng thống, Barrack Obama and Donald Trump, khi Biển Đông đang có những diễn biến phức tạp.

Đọc tiếp...

Chính sách Biển của Indonesia: Thuận lợi và thách thức

Chính sách Biển của Indonesia: Thuận lợi và thách thức

Indonesia coi trọng biển, lấy biển làm nền tảng trung tâm cho chính sách phát triển quốc gia. Indonesia sở hữu nhiều điệu kiện tự nhiên thuận lợi để vươn  ra biển, song để thành công, Indonesia cần chú ý hơn đến thành tố đối ngoại và xử lý hài hòa các thách thức Biển Đông.

Đọc tiếp...

Lá bài “tham vấn song phương” của Trung Quốc với Philippines

Lá bài “tham vấn song phương” của Trung Quốc với Philippines

Căn cứ trên bản chất thực dụng của ngoại giao Trung Quốc, Bắc Kinh thực chất không coi hình thức “tham vấn song phương” với Philippines là “nền tảng cho các thảo luận tiếp theo” để tình hình Biển Đông “đi vào ổn định lâu dài” như tuyên bố.

Đọc tiếp...

Ngoại giao nước nhỏ và Bài học cho Việt Nam

Ngoại giao nước nhỏ và Bài học cho Việt Nam

Tháng 7/2016 tại Singapore nổ ra một cuộc bút chiến bàn luận về chủ đề ứng xử của nước nhỏ trong quan hệ quốc tế giữa các nhà ngoại giao kỳ cựu của nước này. Cuộc tranh luận thu hút sự chú ý của dư luận bên trong và bên ngoài Singapore, đặc biệt là trong bối cảnh có những đánh giá về sự thay đổi quan điểm của Singapore trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bắc Kinh đang có bước chuyển trong chiến lược hàng hải, chuyển trọng tâm từ phòng thủ lục địa sang ưu tiên vấn đề an ninh biển, chú trọng phát triển các lợi ích hàng hải ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chuyển động mới của Nhật Bản tại Biển Đông và hàm ý đối với chiến lược của Trung Quốc

Chuyển động mới của Nhật Bản tại Biển Đông và hàm ý đối với chiến lược của Trung Quốc

Tuy Nhật Bản không phải là quốc gia liên quan trực tiếp nhưng Biển Đông có vai trò quan trọng trong tuyến hàng hải huyết mạch trên biển từ Trung Đông đến lãnh hải Nhật Bản. Do vậy, trong thời gian gần đây Nhật Bản liên tục thể hiện quan điểm kiên quyết, nhất quán về vấn đề Biển Đông và tạo ra những thách thức mới cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Vài suy nghĩ về giải pháp giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông

Vài suy nghĩ về giải pháp giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông

Thực tiễn đã chứng minh, nếu căng thẳng không được kiểm soát có thể dẫn đến xung đột vũ trang, dù ở cường độ thấp cũng làm cho khu vực rơi vào vòng xoáy mất ổn định. Bài viết tập trung đề cập đến biện pháp xây dựng lòng tin gữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông, thông qua các cơ chế hợp tác quốc tế ở khu vực và thế giới.

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 2: Một số cơ chế hợp tác và dự báo tình hình sắp tới

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ  2: Một số cơ chế hợp tác và dự báo tình hình sắp tới

Trong bối cảnh hiện nay, các chế hợp tác chống cướp biển, buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm xuyên quốc gia và bảo đảm an ninh trên biển đóng vai trò quan trọng, góp phần làm giảm những vấn nạn nói trên.

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 1:Tình hình an ninh

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 1:Tình hình an ninh

Cũng giống như an ninh trên đất liền, an ninh biển bao gồm cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Theo khuôn khổ đó, bài viết tập trung phân tích, luận giải một số nội dung chủ yếu của an ninh phi truyền thống đang đe dọa an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI.

Đọc tiếp...

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia: Phần II: Sản xuất và Kết nối Đường bộ

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia: Phần II: Sản xuất và Kết nối Đường bộ

Việc Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng tại Campuchia đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế Campuchia cũng như tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia này. Điều này sẽ có những tác động như thế nào đối với khu vực và Việt Nam?

Đọc tiếp...

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia (Phần 1)

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia (Phần 1)

Trong hơn hai thập kỷ, Trung Quốc là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Campuchia. Nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế Campuchia cũng như tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia này.

Đọc tiếp...

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Bằng việc triển khai kết hợp các phương thức khác nhau, Trung Quốc tìm cách cân bằng lợi ích với Mỹ, kiềm chế Nhật và Hàn Quốc, giữ ASEAN trong vòng ảnh hưởng, lôi kéo Nga can dự, đồng thời hạn chế tối đa tác động cộng hưởng từ nhiều điểm nóng, tiếp tục kiểm soát tranh chấp Biển Đông để tránh các hệ lụy bất lợi cho các mục tiêu chiến lược mà Trung Quốc đã đặt ra.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Từ là bên “tuyến đầu” đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông, Philippines, dưới thời ông Duterte, đã thay đổi gần như đảo ngược hoàn toàn chính sách Biển Đông cũng như mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Vậy đâu là nguyên nhân? Tác động cửa sự thay đổi này đối với khu vực cũng như tranh chấp ở Biển Đông sẽ như thế nào?

Đọc tiếp...

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Bức tranh hệ thống tại hai khu vực quan trọng này một mặt sẽ giúp đưa ra các chỉ dấu để phân tích về chính sách cơ sở hạ tầng cảng biển của Trung Quốc, mặt khác sẽ tạo tiền đề để hình dung các thành tố cơ bản của con đường biển đang dần định hình tại Nam bán cầu.

Đọc tiếp...

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Chuyến thăm của Thủ tướng Naendra Modi tới Việt Nam đã đưa mối quan hệ hai nước đã được nâng cấp từ đối tác chiến lược lên đối tác chiến lược toàn diện. Bài viết này đề cập tới tiềm năng hợp tác quốc phòng giữa hai quốc gia Việt Nam - Ấn Độ trong tương lai dựa trên nền tảng lịch sử cũng như những thế mạnh và vai trò của mỗi nước trong chính sách đối ngoại của nhau.

Đọc tiếp...

Một vành đai, một con đường qua Myanmar - Các dự án tỷ đô trong thay đổi địa chiến lược khu vực

Một vành đai, một con đường qua Myanmar - Các dự án tỷ đô trong thay đổi địa chiến lược khu vực

Trong loạt bài viết này, tác giả sẽ trình bày về Con đường tơ lụa và triển vọng của nó tại Đông Nam Á, bắt đầu từ Myanmar. Đây là một điểm quan trọng, vì  quốc gia tiếp giáp với khu vực Nam Á, nơi đầu tư Trung Quốc  hiện diện ở các cảng biển, CSHT năng lượng, CSHT khai thác, đường ống dẫn, lẫn hành lang trên bộ đi qua 4 quốc gia.

Đọc tiếp...

Phán quyết của Toà Trọng tài cần được tôn trọng và thực thi

Phán quyết của Toà Trọng tài cần được tôn trọng và thực thi

Phán quyết đã giúp đề cao tính thượng tôn pháp luật và tính tôn nghiêm của luật pháp quốc tế, đề cao giá trị của công lý và hoà bình. Đây cũng là hy vọng, là mong muốn chung của các quốc gia trên thế giới yêu chuộng hoà bình và lẽ phải.

Đọc tiếp...

Lệnh bỏ cấm vận vũ khí sát thương: Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Lệnh bỏ cấm vận vũ khí sát thương: Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Dư địa hợp tác quân sự giữa hai quốc gia Việt Nam-Mỹ đang dần dần nới rộng ra với tương thích về tầm nhìn và hội tụ về tương đồng lợi ích chiến lược. Thảo luận về hệ quả đa chiều của quyết định định dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương của Mỹ là một dịp để tổng quan lại nhu cầu hợp tác, cũng như xem xét khả năng và giới hạn của cả hai bên.

Đọc tiếp...

Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí: cơ hội cho đa dạng hoá cơ cấu vũ khí khí tài?

Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí: cơ hội cho đa dạng hoá cơ cấu vũ khí khí tài?

Quyết định giở bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cần được phân tích trên một góc nhìn đa chiều hơn. Đây không chỉ hoàn toàn mang tính biểu tượng xét về góc độ chính trị, hay chỉ là một biểu tượng ngoại giao hình thức. Ở một mức độ nào đó, quyết định này mang cả ý nghĩa về quốc phòng và quá trình định vị các đối tác chiến lược của Việt Nam sắp tới.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 9649 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin