27 - 11 - 2014 | 11:53
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa

Email In PDF.
Người Pháp gọi là Archipel des ile Spratley, người Anh, người Mỹ gọi là Spratley Islands hay Spratlies. Trung Quốc gọi là Nansha (Nam Sa) hay Nan Wei quần đảo. Philipines gọi là Kalayaan. Nhật gọi là Shinan Guto.
 
Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa tính đến đảo gần nhất là khoảng 350 hải lý, đảo xa nhất là khoảng 500 hải lý, cách Vũng Tàu 305 và các Cam Ranh 250 hải lý, cách đảo Phú Quốc 240 hải lý, cách Bình Thuận (Phan Thiết) 270 hải lý. Quần đảo trải dài từ 6o 2’ vĩ B, 111o28’ vĩ B, từ kinh độ 112 o Đ, 115 o Đ1.4) trong vùng biển chiếm khoảng 160.000 đến 180.000 km2. Biển tuy động nhưng diện tích các đảo, đá, bãi nổi trên mặt nước lại rất ít, chỉ tổng cộng 11km2.
 
Về số lượng đảo theo thống kê của tiễn sĩ Nguyễn Hồng Thao (Vụ Biển thuộc Ban Biên giới Chính Phủ) năm 1988 bao gồm 137 đảo, đá, bãi (1.5) không kể 5 bãi ngầm thuộc thềm lục địa Việt Nam (gồm bãi Phúc Trần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tứ Chính).
 
Theo thống kê của Pháp năm 1933 gồm 9 đơn vị chính là các đảo, đá, bãi phụ cận. Philipines đã liệt kê mộ danh sách 53 đơn vị gồm hòn đảo và cù lao trong một khu vực 976 dặm vuông. Căn cứ vào hải đồ vẽ năm 1979 của Cục Bản đồ Qân Sự Bộ Tổng Tham Mưu (Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam), quần đảo Trường Sa có thể chia ra làm chín cụm chính kể từ Bắc Xuống Nam:
 
1. Cụm Song Tử gồm 2 đảo, đá, 2 bãi:
 
Song Tử Đông (Northeast Cay, Pei Zi Dao hay Pei –tzu Tao (Trung Quốc), Parola Isl,. (Phi) 11o 255’ vĩ B, 114o20’ kinh Đ).
 
Song Tử Tây (Southwest Cay, Nan Zi Dao Nan) hay Nan –tzu Tao ( Trung Quốc), Pugad Isl., (phi) 11o255’ vĩ B, 114o kinh Đ)
 
Hai hòn đảo này sinh đôi nằm ở cực bắc của quần đảo trường sa, ngang vĩ đọ với Phan Rang (NInh Thuận). Chính vì có vị trí này mà đội Bắc Hải hoạt động ở vùng này từ cuối thể kỷ XVII lấy xuất đinh từ tỉnh Bình Thuận. Trên đảo có những cây cao trung bình, nhiều phân chim có thể chế biến thành phân bón. Vòng quanh hai đảo này, về phía Đông và Nam chừng năm hải lý có nhiều mỏm đá ngầm. Rong biển mọc nhiều ở đây.
 
Song Tử Đông hơi tròn, diện tích 20 acres, dài 900m, rộng 250m, cao độ 3m, có nhiều bãi cát và san hô xung quanh, nhiều cây cối, một ít dừa. Năm 1963, Việt Nam Cộng Hòa có dựng một bia chủ quyền. Philippines cho quân chiếm đóng từ năm 1968.
 
Song Tử Tây hình lưỡi liềm, diện tích nhỏ hơn Song Tử Đông, dài 700m, rộng 300m, có nước ngọt, có một vườn dừa và nhiều cây nhỏ. Có tháp rada thời Việt Nam Cộng Hòa. Hiện Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đang trấn giữ cả hòn đảo.
 
Cụm Song Tử còn có Đá Bắc (North Reef, Pei Jiao hay Tung -  Pei – Chiao (Trung Quốc) 11o28 vĩ B, 114o kinh Đ), Đá Nam (South Reef, Nan Jiao hay Nai –lo- Chiao, 11o vĩ B, 114o18 kinh Đ)
Phía Đông cụm Song Tử còn có bãi cạn Đinh Ba ở phía Bắc ( Trident Shoal, Yong deng Ansha hay Yung –teng An –sha (Trung Quốc), TatLong, Tulis Shoal (Phi), 11o20 vĩ B, 114o42 kinh Đ) và bãi Núi Cầu (Lys Shoal, Lesi Ansha (Trung Quốc), Bisugo Shoal (Phi), 11o205 vĩ B, 114o35 kinh Đ phía Nam.
 
2. Cụm đảo Thị Tứ
 
Ở phía Nam cụm Song Tử, gồm đảo Thị Tứ và các bãi đá
 
- Đảo Thị Tứ (Thi Tu Island, Zhong Ye Dao hay Chung -Yeh Tao (Trung Quốc), Pagasa Isl (phi) 11 o 027 vĩ B, 114o17 kinh Đ). Đảo nằm ở phía Đông Bắc của đảo Trường Sa (Spratley) do san hộ tạo thành lẫn với cát trắng và đá vôi.
 
Đảo hình bầu dục, bề ngang 550m, dài 700m, có giếng nước ngọt. Trên đảo có cây mù u, cây bàng, nhiều cây leo chằng chịt. Chung quanh đảo có rất nhiều rong biển và các bãi đá ngầm. Quanh đảo có nhiều cá, đổn đột, rong biển.
 
-Phía Bắc Đảo Thị Tứ gồm Đá Hoài An (Xandi, 11o03 vĩ B, 114o134 kinh Đ), đá Tri Lễ (Sandy Cay, 11o037 vĩ B, 114o154 kinh Đ), đá Vĩnh Hảo (11o045 vĩ B, 114o22 kinh Đ), đã Cái Vung (11o079 vĩ B, 114o115 kinh Đ).  – Phía Nam đảo Thị Tứ là đá Xu Bi (Subi Reef, Zhu Bi Jiao, Zamora Reef (Phi),10o54vĩ B, 114o06 kinh Đ), cách đảo Thị Tứ chừng 14 hải lý.
 
3. Cụm Loai Ta
 
Ở phía Đông cụm Thị tứ gồm đảo Loai Ta phía dưới và cồn San Hô Lancan hay An Nhơn (Lankan Cay, Yang xin Zhou, Panata, 10o45 vĩ B, 114o33 kinh Đ) ở phía Đông. Phía Bắc là cụm đảo Loai Ta (10o407 vĩ B, 114o24 kinh Đ Loai ta Island, Namyue Dao(Trung Quốc), Kota(Phi) (hình 1.24)). Đảo hình tròn, đường kính 300m, cao chừng 2m, có nhiều cây lớn mọc quanh đảo. Phía Bắc đảo có nhiều cây dừa. Vòng quanh đảo có nhiều bãi cát trắng tạo nên vẻ đẹp nên thơ, có giếng nước ngọt nhưng rất ít nước.
 
Cụm còn có đá An Lão (Menzeis Reef , Mong zi Jiao (Trung Quốc), Lankandula Reef, 11o038 vĩ B, 114o48 kinh Đ), bãi Đường (Chan tan (Trung Quốc), 11o vĩ B, 114o42 kinh Đ), bãi An Nhơn Bắc (đá cuội) (Ku gui Jiao (Trung Quốc) 10o465 vĩ B, 114o34 kinh Đ), bãi Lọai Ta Bắc(Laoita Reef, Shuan huan Shazhou, 11o422 vĩ B, 114o210 kinh Đ), bãi Lọai Ta Nam (Laoita Bank, Shuan huan Shazhou, 11o427 vĩ B, 114o195 kinh Đ). Phía Đông cụm Loại Ta có đảo Dừa và Đá Cá Nhám.
 
4. Cụm đảo Nam Yết hay Ti Gia.
 
- Ở phía Nam cụm Loại Ta, nằm kết một vòng san hô Tizart Bank, gồm đảo Nam Yết (NamYit Island, Hong xui dao, 10o11 vĩ B, 114o217 kinh Đ), đảo Sơn Ca (Sand Cay, Dungian shazhou, 11o227 vĩ B, 114o285 kinh Đ), cùng bãi Bàn Than (10o231 vĩ B, 114o245 kinh Đ), đá Núi Thị (Petley Reef, Bolan Jiao, 10o247 vĩ B, 114o348 kinh Đ), đá En Đất (Eldad Reef, An da jiao, 10o21 vĩ B, 114o41 kinh Đ), đá Lạc ( Meiji Jiao, 10o102 vĩ B, 114o148 kinh Đ)) , đá Gaven (Gaven Reef, Nan xun jiao, 10o127 vĩ B, 114o13 kinh Đ), đá Lớn (Great Discovery Reef, Daxian jiao, 10o045 vĩ B, 114o52 kinh Đ), đá Nhỏ (Small Discovery Reef, Xiaoxien jiao, 10o015 vĩ B, 114o52 kinh Đ), đá Đền Cây Cỏ (Western or Flora Temple Reef, Fulusi jiao, 10o147 vĩ B, 114o375 kinh Đ), Cụm này có đảo rộng nhất của Trường Sa là Ba Bình và cao nhất là đảo Nam Yết.
 
+ Đảo Nam Yết (NamYit Isl., Hongxui Jiao (Trung Quốc) Binago (Phi) 10o11 vĩ B, 114o217 kinh Đ).
Đảo lớn thứ hai sau Ba Bình, song là hòn đảo cao nhất của quần đảo, ở phía Nam của cụm, hình chữ C, dài khoảng 700m, rộng 250m cao 4,7m (15ft) (sách China Boundaries của Ying Cheng Kian (Illiois, 1984) ghi đảo này cao tới 64 ft, Ocean Year Book 10 (Chicago, 1993) ghi kể cả cây cao 20m). Trên đảo có nhiều loại cây, nhiều nhất là cây hú xương (cao hơn 3m), cây nhàu (cao hơn 3m), mù u (5m), dừa cao nhất (khoảng 12m) và nhiều giống cây nhỏ có gai vùng nhiệt đới. Chim, vít ở đây rất ít, Giếng nước không ngọt, hơi lờ lợ. Chung quanh đảo có vòng san hô và nhiều bãi đá ngầm.
(Phía Bắc đảo có cầu tàu đối diện với đảo Ba Bình do Đài Loan chiếm đóng). Tại đây có công sự phòng thủ kiên cố, được đặt bộ chỉ huy toàn thể quân lính Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975, quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp quản.
 
+Đảo Sơn Ca (Sand Cay, Dungian shazhou, 10o227 vĩ B, 114o285 kinh Đ).
Đảo có hình giống chữ C, dài 391m, rộng 156m, cao 3m (so với mực nước trung bình).
Đảo có các loại cây như hú xương, bang, chiếc bạc và cỏ dại, dây leo mọc khắp nơi. Trước năm 1975 đều có quân đội Việt Nam Cộng Hòa chiếm đóng và sau đó được Quân Đội Nhân Dân Việt Nam tiếp quản.
 
+ Đảo Ba Bình (Itu Aba Island, Taiping dao (Trung Quôc), Ligaw I (Philippines), 10o0228 vĩ B, 114o217 kinh Đ).
Đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa, độ cao chừng 4m (13ft) thấp hơn Nam Yết một chút; theo niên giám Đài Loan 1993, dài 1360m cao 3,8m diện tích 489.600m 2 (gần 50 ha).
Có điều kiện sinh hoạt tốt nhất, đất đai màu mỡ, trồng trọt khoai mì, rau cải,chuối… Chung quanh có san hô, mặt nước khá yên tĩnh, tiểu đĩnh có thể cập bến khá tốt. Phía Tây Nam cụm Nam Yết có đá Chữ Thập (Fiery Cross or N.W, Yungshu jiao Kagilingan Reef, 9o353 vĩ B, 114o542 kinh Đ). Hòn đá chữ Thập là chỗ cao nhất của một bãi cạn dài 25km, rộng tối đa 6 km, bị quân Trung Quốc chiếm đóng, biến nơi đây thành cơ sở quân sự quan trọng.
 
5. Cụm đảo Sinh Tồn
 
Ở phía Nam quần đảo Nam Yết Tigia. Gồm có đảo Sinh Tồn (Sin Cowe Island, Hing hong dao, 9o526 vĩ B, 114o192 kinh Đ) )(hình 1.28), đá Sinh Tồn Đông, (9o526 vĩ B, 114o192 kinh Đ), đã Nhạn Gia (9o532 vĩ B, 114o202 kinh Đ), Đá Bình Khê (Endmund Reef, 9o530 vĩ B, 114o232 kinh Đ), Đá Ken Nan (Mekennam Reef, (9o535 vĩ B, 114o273 kinh Đ), Đá Tư Nghĩa (Hughes Reef, (9o542 vĩ B, 114o293 kinh Đ), Đá Bãi Khung (Holiday Reef, 9o565 vĩ B, 114o335 kinh Đ), Đá Đức Hòa (Empire Reef, 9o573 vĩ B, 114o348 kinh Đ), Đá Ba Đầu ( Whitsun Reef, Weinan jiao (Trung Quốc) 9o59 vĩ B, 114o390 kinh Đ), Đá An Bình (Ross Reef 9o535 vĩ B, 114o364 kinh Đ), Đá Bia (Bamfore, 9o497 vĩ B, 114o302 kinh Đ) Đá Văn Nguyên (Jones Reef, 9o407 vĩ B, 114o285 kinh Đ), Đá Phúc Sỹ (Higgen Reef 9o467 vĩ B, 114o240 kinh Đ), Đá Len Đao, Đá Gạc Ma (Johnson  Reef, Zhang jiao (Trung Quốc), Mabine Reef(Phi) 9o420 vĩ B, 114o127 kinh Đ), Đá Cô Lin (Conlins Reef, Cao lin jiao, 9o450 vĩ B, 114o138 kinh Đ), Đã Nghĩa Hành (Lovele Reef, 9o50 vĩ B, 114o157 kinh Đ), Đa Tam Trung (9o511 vĩ B, 114o160 kinh Đ), Đá Sơn Hà(Gent Reef, 9o52 vĩ B, 114o175 kinh Đ).
Ba hòn đảo trên và một số hòn đảo nhỏ nổi lên tạo thành một vòng đài san hô có tên là “Union Reef”.
 
6. Cụm đảo Trường Sa.
 
Ở phía Nam và phía Tây Nam của cụm Sinh Tồn, trải dài theo chiều ngang, gồm có 3 đảo, các đá, bãi: Đá Lát (Ladd Reef, Riji jiao, 8o358 vĩ B, 111o55 kinh Đ), Đảo Trường Sa (Spratley Island, Nan wei dao, 8o384 vĩ B, 111o55 kinh Đ) (hình 1.30), Bãi Đá Tây (West Reef  (Sand patch), Xijiao jiao, 8o52 vĩ B, 112o14 kinh Đ), Đá Đông (East Reef, Dong Jiao, Silangan Reef, 8o502 vĩ B, 111o345 kinh Đ), Đá Châu Viên (Cuarteron Reef, Hua yang Jiao, 8o53 vĩ B, 111o500 kinh Đ), Đa Tốc Khan (Alison Reef, Liumen jiao, 8o50 vĩ B, 111o00 kinh Đ), Đá Núi Le (Coznwalis S. Reef, Nan hua jiao, 8o45ĩ B, 111o11 Kinh Đ), Đá Tiên Nữ (Tennent Reef, Pigion, Tian Ian jiao, 8o52 vĩ B, 111o39 kinh Đ).
 
Cụm đảo Trường Sa nằm phia Đông, kế cận các bãi, đá thuộc thềm lục địa Việt Nam như Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tư Chính. Đảo lớn nhất là đảo Trường Sa (hình 1.29), người Pháp đã gọi là đảo bão tố ( Ile de Tempete), có dạng hình tam giác cân mà đấy hơi chệch về phía Bắc. Đáy dài 350m, hai cạnh kia, mỗi cạnh dài 450m, cao độ ở phía Bắc là 3,5m  ở phía Nam là 2,1m so với mặt nước lúc nước ròng. Có khả năng thiết lập phi đạo. Sau năm 1975 Việt Nam đã xây sân bay dài 800m.
Không có cây lớn, nhiều nhất là Nam Sâm, có dược tính, các loại rau sam, Muống biển. Có loại chim Hải Âu trắng, sơn ca, chim én. Có giếng nước ngọt , khá sâu, độ cao 3m, ngọt tốt 9/10, xong lại có mùi tanh của san hô.
 
Trước năm 1975 có quân trú phòng Việt Nam Cộng Hòa, có cầu tàu về phía Tây Đảo. Sau khi tiếp quản, Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã xây càu tàu lớn hơn.
Ngoài ra còn có đảo Trường Sa Đông (Central Reef, Zhong jiao, 8o55 vĩ B, 112o21 kinh Đ), Đảo Phan Vinh (Pearson Reef, Bisheng jiao, 8o58 vĩ B, 113o 413 kinh Đ).
 
7. Cụm đảo An Bang
 
Ở phía Nam cụm đảo Trường Sa (Spratley) gồm có một đảo và các bãi, đá: Đá Ba Kè (Bombay Castle, Pongpo bao jiao, 7o56 vĩ B, 111o 440 kinh Đ), Bãi Đất ( Orileana Shoal, Aonan Ansha, 7o41 vĩ B, 113o 440 kinh Đ). Bãi Đinh (Kinhston, Shoal, Jin du ansha, 7o34 vĩ B, 111o 345 kinh Đ), Bãi Vũng Mây (John Pacth, Changpun, ansha, 7o47 vĩ B, 113o 35 kinh Đ), Bãi Thuyền Chài (Barque Canada Reef Bai jiao, 8o10 vĩ B, 113o 18 kinh Đ), Đá Hà Tần ( Lzzie, Webr Li xei jiao, 8o045 vĩ B, 113o 10 kinh Đ), Đá Tân Châu (10o505 vĩ B, 115o 51 kinh Đ), Đa Lục Giang ( Hopp Reef, He jiao, 10o105 vĩ B, 115o 215 kinh Đ), Đa Long Hải (Livok Reef, Nan Tang quan dao, 10o105 vĩ B, 115o 17 kinh Đ), Bãi Trăng Khuyết (Half Moon Shoal Banyeu jiao 8o52 vĩ B, 113o 51 kinh Đ), Đá Công Đo (Commodore Reef, Siling jiao, 8o22 vĩ B, 115o 13 kinh Đ), Đá Kỳ Vân (Marivels Reef , Nan hai jiao, 7o37 vĩ B, 113o 56 kinh Đ), Bãi Kiệu Ngựa (Asdasier Reef, Andu jiao, 7o37 vĩ B, 113o 56 kinh Đ),  Đá Hoa Lau (Swallow Reef, Dan Wan jiao 7o24 vĩ B, 113o 56 kinh Đ), Đá Sắc Lôt (  Royal Charlotts Reef, Huan lu jiao, 6o565 vĩ B, 113o 36 kinh Đ), Đá Louisa (Louisa Reef, Nan tong jiao, 6o209 vĩ B, 113o 154 kinh Đ).
 
Đảo duy nhất là đảo An Bang (Ambonay Cay, Anbo shazou, 7o 522 vĩ B, 113o 542 kinh Đ). Đảo An Bang giống như một cái túi đáy nằm ở phía Đông và miện túi thắt lại ở phía Tây. Đảo tương đối là nhỏ và dài, chỉ rộng 20 m so với mặt nước lúc nước ròng.
 
8 Cụm đảo Bình Nguyên.
 
Cụm đảo ở về phía Đông gồm đảo Bình Nguyên (Flat Island, Fei xin dao 10o49 vĩ B, 115o 495 kinh Đ), và đảo Vĩnh Viễn (Nashan Island, Ma huan dao, 10o44 vĩ B, 115o 48 kinh Đ). Mỗi đảo diện tích khoảng 15 acres. Đảo Vĩnh Viễn dài chừng 580m, cao khoảng 2m, Đảo Bình Nguyên thấp hơn, rất hẹp bề ngang.
 
Phía Nam gần đảo Vĩnh Viễn có Đá Hoa (10o32 vĩ B, 115o 432 kinh Đ), Đá Đít Kim Sơn (10o325 vĩ B, 115o 472 kinh Đ), Đá Đin (10o30 vĩ B, 115o 421 kinh Đ), Đá Hàn Sơn (10o28 vĩ B, 115o 115 kinh Đ), Đá Pét (10o276 vĩ B, 115o 464 kinh Đ), Cồn san hô Giắc- xôn. Về phía Nam, xa hơn nữa có đá Vành Khăn ( Mischief Reef, Mei ji jiao, 9o 55 vĩ B, 115o 32 kinh Đ), Bãi Cỏ Mây (2ndThomas Shoal, Ren ai Reef,   9o44 vĩ B, 115o515 kinh Đ), Bãi Cạn Suối Ngà (2ndThomas Shoal, Xinyu jiao, 9o195 vĩ B, 115o555 kinh Đ), Đá Bốc Xan (Boxall Reef, Pai she jiao, 9o353 vĩ B, 116o095kinh Đ), Bãi Cạn Sa Bin (Sabina Shoal, Xian  xin ansha, 9o45 vĩ B, 116o29 kinh Đ).  Phía Đông cụm đảo Bình Nguyên là cụm đảo Vĩnh Viễn có đã Hợp Kim (Hopkins  Reef, Huo xing jiao, 10o49 vĩ B, 116o06 kinh Đ), Bãi Mỏ Vịt (Hirane Shoal, An tang tan, 10o54 vĩ B, 116o205 kinh Đ),  Đá Ba Cờ  (Baker Reef, Bei she jiao, 19o43 vĩ B, 5o116 kinh Đ), Đá Khúc Giac (Iroqois Reef, Feng lai jiao, 10o37 vĩ B, 116o10 kinh Đ), Đa Bá, Đá giò Gà (North Pennsylvania Reef, Yang ming jiao 10o485 vĩ B, 116o515 kinh Đ).  Bãi Cạn Nam, ( Southern Bank, Nan fang gian tan, 10o  28 vĩ B, 116o  42 kinh Đ), Đá Chà Và (Brown, 10o345 vĩ B, 117o017 kinh Đ), Bãi Cạn Nâu ( Brown Bank, Dong tan 10o44 vĩ B, 117o189 kinh Đ),  Bãi Cạn Rạch Vang (Templer Bank, Zhong xi tan, 10 o40 vĩ B, 117o165 kinh Đ), Bãi Cạn Rạch Lấp (o45 vĩ B, 116o29 kinh Đ)
Carnatic Shoal, Hong shi anhsha, 10o06 vĩ B, 117o205 kinh Đ),  Bãi Cạn Na Khoai (Lord Auckland Shoal, Elan ansha 10 o205 vĩ B, 115o165 kinh Đ).

Đại sử ký tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông

Đại sử ký tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông

Biên niên các sự kiện chính liên quan đến tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, từ thế kỷ 19 đến nay.

 

 

Đọc tiếp...

Danh sách các đảo, đá, bãi thuộc quần đảo Trường Sa

Danh sách các đảo, đá, bãi thuộc quần đảo Trường Sa

Đọc tiếp...

Biển Đông: Địa chiến lược và Tiềm năng kinh tế

Biển Đông: Địa chiến lược và Tiềm năng kinh tế

Bài viết giới thiệu về điều kiện tự nhiên, vị trí địa chiến lược, các  tài nguyên kinh tế của Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đọc tiếp...

Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa
Người Pháp gọi là Archipel des ile Spratley, người Anh, người Mỹ gọi là Spratley Islands hay Spratlies. Trung Quốc gọi là Nansha (Nam Sa) hay Nan Wei quần đảo. Philipines gọi là Kalayaan. Nhật gọi là Shinan Guto.
Đọc tiếp...

Quần đảo Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa Quần đảo Hoàng Sa nằm trong một phạm vi khoảng 15.000 km2, giữa kinh tuyến khoảng 111 độ Đông đến 113 độ Đông, khoảng 95 hải lý(1 hải lý = 1,853  km), từ 17o05’ xuống 15o45’ độ vĩ Bắc, khoảng 90 hải lý; xung quanh là độ sâu hơn 1000m, song giữa các đảo có độ sâu thường dưới 100m.
Đọc tiếp...

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

Đăng nhập