24 - 8 - 2017 | 11:48
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home KINH TẾ/HỘI NHẬP Đã đến lúc Mỹ mạnh tay với vấn đề đầu tư Trung Quốc?

Đã đến lúc Mỹ mạnh tay với vấn đề đầu tư Trung Quốc?

Email In PDF.

Về kinh tế và nhất là trong đầu tư, những số liệu cụ thể cho thấy rằng, Trung Quốc cần Mỹ hơn rất nhiều so với Mỹ cần Trung Quốc. Với việc Trung Quốc có những hành động không mấy “thân thiện” với các nhà đầu tư Mỹ, đã đến lúc Mỹ cần thay đổi và mạnh tay hơn với Trung Quốc.

 

Hàng năm, Phòng Thương mại Mỹ ở Trung Quốc thực hiện một cuộc khảo sát tâm lý kinh doanh của các doanh nghiệp nước mình, và năm nay có gần 500 doanh nghiệp phản hồi. Ba trên bốn doanh nghiệp báo cáo rằng họ cảm thấy ít được chào đón hơn ở Trung Quốc so với hai thập kỷ trước đây. Những kết quả trên phản ánh một thực tế là các doanh nghiệp và nhà đầu tư Mỹ ngày càng phải đối mặt với một môi trường kinh doanh khó khăn và không thân thiện ở Trung Quốc. Vụ tranh chấp bản quyền giữa Apple và một công ty Trung Quốc và tuyên bố của Uber rằng công ty này sẽ bán chi nhánh của mình ở Trung Quốc cho Didi Chuxing, một đối thủ bản địa, là những ví dụ mới đây phản ánh xu thế trên. 

Chẳng ai nghi ngờ việc nước Mỹ và doanh nghiệp Mỹ có lợi ích to lớn trong duy trì mối quan hệ tốt đẹp về kinh tế, chính trị với Trung Quốc. Nhưng một thực tế đáng chú ý khác là những vấn đề đặc biệt mà các công ty Mỹ phải đối mặt ở đó. Đó là hàng loạt vấn đề từ những quy định không rõ ràng và thiếu nhất quán đến những lệnh cấm hoàn toàn đối với đầu tư nước ngoài ở những lĩnh vực như thực phẩm và truyền thông. Thách thức ở đây là việc làm thế nào để mang lại sự công bằng hơn cho hai thực tế nêu trên, điều đó có nghĩa là thực thi một chính sách của Mỹ với mục tiêu đạt được nguyên tắc có đi có lại về đầu tư với Trung Quốc, thậm chí là nó bị hạn chế trong vài năm qua và với những ngoại lệ mà hai bên thống nhất đối với các dự án đầu tư ở các lĩnh vực thực sự quan trọng đối với an ninh quốc gia. 

Chính sách đó phải được dựa trên hai nguyên tắc. Thứ nhất là khẳng định lại rằng, về kinh tế và nhất là trong đầu tư, Trung Quốc cần Mỹ hơn rất nhiều so với Mỹ cần Trung Quốc. Thứ hai là phải công nhận rằng, khi nói đến môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Mỹ ở Trung Quốc, thật thiếu khả thi nếu tìm kiếm sự đền bù từ Chính phủ Trung Quốc, bởi vì cho đến nay gần như chẳng có ai thành công bằng cách đó. Cách tốt nhất để vươn tới Bắc Kinh là thông qua hàng nghìn cá nhân và nhóm doanh nhân Trung Quốc có lợi ích ngày càng lớn trong việc duy trì khả năng tiếp cận nền kinh tế Mỹ. Khi những lợi ích của những người trong nước đứng trước nguy cơ hiện hữu, Bắc Kinh sẽ lắng nghe họ rõ ràng hơn rất nhiều so với bất kỳ một đề nghị nào từ Washington. 

Một minh họa điển hình cho những khác biệt trong lĩnh vực đầu tư giữa Mỹ và Trung Quốc là câu chuyện lâu năm đang diễn ra về Hiệp định Đầu tư song phương Mỹ-Trung Quốc (gọi tắt là BIT). Các cuộc đàm phán bắt đầu từ năm 2008 và đến nay đã trải qua 24 vòng. Vấn đề gai góc nhất là điều mà các nhà đàm phán thương mại gọi là “danh sách tiêu cực”: một nhóm lĩnh vực kinh tế được duy trì trong tình trạng đóng cửa với đầu tư nước ngoài ngay cả sau khi hiệp định trên hoàn thành. Nước Mỹ muốn một “danh sách tiêu cực” rất ngắn, trong khi Bắc Kinh tìm cách bảo hộ số lượng lĩnh vực và ngành công nghiệp lớn hơn nhiều. Nhưng những khác biệt giữa Bắc Kinh và Washington còn lớn hơn cả vấn đề chính sách nói trên. Thực ra, những khác biệt đó phản ánh sự mâu thuẫn căn bản giữa Mỹ và Trung Quốc liên quan đến vấn đề đầu tư nước ngoài. Như chuyên gia David Dollar thuộc Viện Brookings đưa ra nhận định với tạp chí “Wall Street Journal” hồi tháng 9 vừa qua: “Trung Quốc là quốc gia ‘đóng’ nhất trong nhóm nước G20 về đầu tư trực tiếp từ nước ngoài”. Tuy nhiên, lập trường của Mỹ, với một vài ngoại lệ, nói chung là hoan nghênh loại đầu tư trên, và Bộ Tài chính Mỹ cũng đã đồng ý với những thứ đã đạt được ở giai đoạn đàm phán ban đầu của BIT. 

Một số tổ chức tại Mỹ cũng có lập trường tương tự trong đó có Ủy ban quốc gia về quan hệ Mỹ-Trung. Báo cáo năm 2016 của Ủy ban này, với tiêu đề “Những người láng giềng mới”, thực sự là một văn bản đáng chú ý bởi nó công khai khuyến khích sự ủng hộ trong giới chính trị và công chúng cho đầu tư từ Trung Quốc vào Mỹ. Báo cáo trên, được sắp xếp bởi hội đồng bầu cử nghị viện, tạo được sự chú ý đối với vấn đề việc làm và khoản thu từ thuế mà đầu tư Trung Quốc mang đến mỗi địa phương. (Một ví dụ hay xuất hiện khi ông Donald Trump chuẩn bị chỉ định Thống đốc bang Indiana, Mike Pence, làm người đồng tranh cử với mình. Financial Times, cũng dẫn cùng nguồn với báo cáo của ủy ban trên, cho rằng “Doanh nghiệp Trung Quốc thuê người dân Idiana ở các nơi thuộc 9 đơn vị bầu cử của bang này”). Thậm chí ở New Hamshire, một địa phương mà người ta ít khi nghĩ đến với tư cách là một nơi nhận được nhiều đầu tư nước ngoài, thì báo cáo trên cũng được quan tâm. Bang này cho biết, có hai công ty “chiếm đa số” khối lượng đầu tư Trung Quốc ở bang và rằng hai công ty đó vừa mới thuê hơn 300 người.” Và đáng chú ý, báo cáo trên cho biết Dự án Segway do New Hamshire đầu tư đã được bán lại cho một nhà đầu tư Trung Quốc một năm trước đây. 

Tất nhiên, những khoản đầu tư như vậy là rất nhỏ nếu so sánh với các thương vụ tỷ đô của Trung Quốc ở California, New York, và Texas. Thương vụ bán Khách sạn Waldorf Astonia ở New York trị giá 1,95 tỷ USD cho các nhà đầu tư Trung Quốc nhận được sự quan tâm đặc biệt trên truyền thông Mỹ. Tuy nhiên, tất cả những bản báo cáo như vậy về đầu tư Trung Quốc chỉ phản ánh những dòng đầu tư hiện hành và mới đây, tương đối khác với tổng lượng đầu tư nước ngoài trực tiếp của Trung Quốc vào Mỹ. 

Những nguồn đầu tư trên bé nhỏ một cách đáng ngạc nhiên. Hết năm 2014, cơ sở dữ liệu từ Phòng Phân tích kinh tế của Bộ Thương mại Mỹ chỉ ra rằng tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Mỹ là 2.900 tỷ USD, và 80% trong số đó (tương đương với 2.300 tỷ) là đến từ 8 quốc gia và trong số đó không có tên Trung Quốc. Thay vào đó, 4 nguồn cung cấp đầu tư nước ngoài lớn nhất ở Mỹ là Vương quốc Anh, Nhật Bản, Hà Lan và Canada (lần lượt là 450 tỷ, 373 tỷ, 305 tỷ và 261 tỷ USD). Chỉ riêng 4 quốc gia trên đã chiếm gần 1.400 tỷ trong tổng lượng đầu tư nước ngoài 2.900 tỷ của Mỹ trong năm 2014, và 4 nước khác ở châu Âu (Luxembourg, Đức, Thụy Sỹ và Pháp) theo sát phía sau, mỗi nước với một lượng đầu tư trong khoảng 224 đến 243 tỷ USD. 

Mỗi nước trong số 8 quốc gia trên có một lượng đầu tư cao nhất của Mỹ được tính bằng hàng trăm tỷ USD, trong khi đó các khoản đầu tư được báo cáo cho Trung Quốc cao nhất chỉ được tính bằng chục tỷ USD. Tất nhiên, trong năm 2015, số liệu của Bộ Thương mại Mỹ chỉ ra, đầu tư Trung Quốc ở Mỹ chỉ vừa đạt mức đầu tư của Singapore, một đất nước với 6 triệu người. 

Do sự chú ý của công chúng thường được dành cho đầu tư Trung Quốc ở Mỹ, những con số tương đối nhỏ bé này có vẻ đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, những khoản đầu tư trên được che giấu trong hình ảnh dễ nhận biết của các con số chính thức của Mỹ. Một số nguồn đã cung cấp các con số ước tính lớn hơn, một số trong đó phản ánh hoạt động đầu tư gần đây nhất của Bắc Kinh. Ví dụ, trong khi số liệu chính thức của Mỹ năm 2014 chỉ ra rằng tổng lượng đầu tư vào Mỹ của Trung Quốc ít hơn 10 tỷ USD, Bộ Thương mại Trung Quốc báo cáo con số 38 tỷ USD cho năm đó và 46,6 tỷ USD cho năm 2015. Tập đoàn Rhodium, một công ty tư vấn Mỹ, cung cấp một con số còn lớn hơn, 63 tỷ USD cho năm 2015. Nhưng bản chất cuối cùng của vấn đề không thay đổi: tổng lượng đầu tư Trung Quốc ở Mỹ thấp hơn rất nhiều so với của 8 quốc gia đứng đầu. 

Điều đó có nghĩa là tầm quan trọng của đầu tư Trung Quốc đối với Mỹ là tương đối nhỏ. Tất nhiên là nó có giá trị, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp liên quan, nhưng không giống với các nước mà đầu tư từ bên ngoài vào được nhiều người coi như là quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia, đó không phải là trường hợp của nước Mỹ. Quan hệ đầu tư Trung Quốc đối với Mỹ gợi lại câu chuyện ngụ ngôn của Aesop về con ruồi đậu trên sừng một con bò: khi con ruồi tuyên bố là nó sẽ chuẩn bị rời đi, con bò trả lời rằng nó đã không hề biết việc con ruồi đến và sẽ không biết khi nào con ruồi đó bay đi. 

Mỹ nên lựa chọn một chính sách thận trọng tương tự như vậy đối với những đề nghị đầu tư từ Trung Quốc. Một lý do là để nói với các nhà đầu tư Trung Quốc rằng kinh doanh như thường lệ sẽ không còn áp dụng đối với thị trường đầu tư nước ngoài ở Mỹ. Một lý do khác là liệu một khoản đầu tư sẽ là tư nhân hay của nhà nước; khoản đầu tư đó có đe dọa cạnh tranh ở thị trường mà nó sẽ ảnh hưởng hay không; và liệu nó có xâm phạm an ninh quốc gia của Mỹ hay không, bằng việc tác động đến cấu trúc sống còn của quốc gia, nguồn cung các nguyên liệu thiết yếu, hoặc bằng việc khoản đầu tư được đề nghị đó liên quan đến những công nghệ gốc quan trọng ở Mỹ, như microchip, và những máy công cụ hiện đại. 

Một vài trong số những vấn đề trên, nhất là những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia và những nghi vấn về sở hữu nhà nước hay tư nhân của các khoản đầu tư được đưa ra, đã được nêu lên trong mối liên hệ với các khoản đầu tư Trung Quốc ở Đức và Anh cũng như mới đây nhất là ở Úc. Ở Anh, vấn đề là việc xây dựng nhà máy năng lượng hạt nhân Hinkley Point, trong đó Trung Quốc là nguồn cung cấp tài chính chủ yếu. Khía cạnh trên làm dấy lên quan ngại trong giới an ninh của Anh. Trong khi đó ở Đức, một số đề nghị bán cho các nhà đầu tư Trung Quốc đã gieo hồi chuông cảnh tỉnh cho Berlin. Vụ việc khởi đầu là việc dự kiến bán công ty robot lớn của Đức Kuka cho một nhà đầu tư Trung Quốc, một thương vụ mà Thủ tướng Đức Angela Merkel ban đầu hết sức phản đối. Những quan ngại của bà Merkel tập trung vào hai vấn đề: một là tác động đến nền kinh tế Đức nếu vị thế gần như duy nhất trong phát triển robot của nước này bị bán mất cho nước ngoài; vấn đề khác là sự thất bại của Trung Quốc trong việc tạo ra sự đối xử công bằng, có đi có lại cho các khoản đầu tư của Đức ở Trung Quốc. Tất nhiên, khi bà Merkel đến thăm Bắc Kinh vào hồi tháng 6 vừa qua, bà đã yêu cầu giới chức trách sở tại cho các công ty nước ngoài các quyền và đặc cách như những doanh nghiệp nội địa. 

Tuy nhiên, ở cả Đức và Anh, những mối quan ngại trên đã không thể ngăn chặn các thương vụ đó. Ở Anh, Thủ tướng Theresa May đồng ý một cách bất đắc dĩ với dự án Hinkley Point, mặc dù bà bổ sung các bước đi liên quan đến an ninh để gắn vai trò giám sát của chính phủ mà có thể áp dụng đối với những lời đề nghị đầu tư tương tự trong tương lai, cùng với những đảm bảo mới rằng Anh vẫn mở cửa đối với đầu tư nước ngoài. Tình hình tương tự cũng diễn ra ở Đức: Tháng 8/2016, sau nhiều tháng trì hoãn, thương vụ bán Kuka với giá 5 tỷ USD đã bất đắc dĩ được thông qua, mặc dù Phó Thủ tướng Sigmar Gabriel tiếp tục tranh cãi rằng vấn đề với thương vụ trên không phải là chủ nghĩa bảo hộ như một số người nói, mà thay vào đó xuất phát từ việc Đức khăng khăng muốn có các sân chơi công bằng. 

Mục tiêu trên vẫn là một mối quan ngại của Đức. Cuối tháng 10 vừa qua, quyết định của Berlin rút lại sự ủng hộ cho thương vụ bán công ty microchip Aixtron trị giá 736 triệu USD cho một quỹ đầu tư Trung Quốc đã chỉ ra một sự thay đổi quan trọng trong tư duy của người Đức đối với sự việc đó. Điều này cũng khuyến khích những hy vọng trong Liên minh châu Âu (EU) cho một thỏa thuận đầu tư song phương với Trung Quốc – một hiệp định mà theo cả Thủ tướng Merkel và Phó Thủ tướng Gabriel đang hướng tới là để cân bằng môi trường đầu tư. Trong khi đó ở Úc, Canberra đã đình chỉ thương vụ bán một mạng lưới điện rộng lớn cho Trung Quốc, và các nghị sỹ quốc hội nước này được sự ủng hộ của một nhóm kinh doanh giàu có, quyết liệt phản đối thương vụ bán cho một công ty Trung Quốc một trang trại gia súc có diện tích bằng nước Cộng hòa Ireland. Tuy nhiên, sau một nỗ lực kéo dài gần hai năm, vào cuối tháng 10 vừa qua, họ đã “chào thua” trước lời đề nghị lớn hơn bởi chính các nhà đầu tư Trung Quốc. 

Không giống như các nước trên, ở Mỹ, Ủy ban đa thành viên về Đầu tư nước ngoài của Bộ Tài chính có quyền đình chỉ bất kỳ một dự án đầu tư tiềm năng nào mà cơ quan này cho rằng không phù hợp với những yêu cầu về an ninh quốc gia Mỹ. Chính thức thì cơ quan này ít khi làm như vậy, nhưng mới đây, có nhiều dấu hiệu cho thấy các khoản đầu tư Trung Quốc ở Mỹ đang thu hút sự chú ý mới. Ví dụ, Thượng nghị sỹ Chuck Grassley đã đề nghị rằng Bộ Nông nghiệp Mỹ cần được bổ sung vào Ủy ban về Đầu tư nước ngoài, cụ thể là bởi vì những hệ quả tiềm tàng của các khoản đầu tư nước ngoài đối với nguồn cung nông nghiệp và thực phẩm của nước này. 

Tóm lại, những đánh giá này cung cấp một nền tảng rộng lớn để truyền tải một cách mạnh mẽ tới lãnh đạo Trung Quốc rằng, việc đảm bảo cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư được chính phủ Mỹ đối xử công bằng hơn nhiều so với Bắc Kinh đã đảm bảo cho họ. Sức ảnh hưởng của Mỹ ở trong cuộc đàm phán đó sẽ được tăng cường bằng những điều nhắc nhở Bắc Kinh rằng nước này ít phụ thuộc hơn nhiều vào đầu tư Trung Quốc so với nhiều người nghĩ và chứng cứ không thể chối cãi được rằng các nhà đầu tư Trung Quốc ngày càng cần và muốn đầu tư ở Mỹ. Đối xử công bằng và có đi có lại đã trở thành trung tâm của chính sách kinh tế và thương mại của Mỹ kể từ thời Chính quyền Tổng thống Roosevelt áp dụng thành quả quan trọng của Ngoại trưởng Cordell Hull đó là Đạo luật Hiệp định thương mại bình đẳng năm 1934. Và hiện là thời điểm chín muồi để làm mới lại di sản đó.

Bernard K. Gordon là Giáo sư danh dự về Khoa học Chính trị tại trường Đại học New Hampshire và là tác giả cuốn “America’s Trade Follies”. Bài viết được đăng trên Foreign Affairs.

Trần Quang (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Đầu tư của Trung Quốc tại châu Âu: Bài học cho Đông Nam Á

Đầu tư của Trung Quốc tại châu Âu: Bài học cho Đông Nam Á

Đầu tư của Trung Quốc vào châu Âu hiện nay vẫn còn hạn chế, tuy nhiên EU đang cảm thấy áp lực ngày càng lớn khi chưa rõ động cơ đằng sau các nguồn đầu tư này. Những phân tích về tác động từ những khoản đầu tư của Trung Quốc vào Châu Âu rất đáng để Đông Nam Á học hỏi.

Đọc tiếp...

Lý do quan hệ kinh tế Mỹ-Trung cần cân bằng hơn

Lý do quan hệ kinh tế Mỹ-Trung cần cân bằng hơn

Cả Mỹ và Trung Quốc đều gắn với nhau do sự phụ thuộc cùng có lợi. Trung Quốc phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu Mỹ với khoảng 161,6 tỷ USD trong năm 2015 trong khi Mỹ dựa vào việc Trung Quốc nắm giữ trái phiếu chính phủ Mỹ và các tài sản USD khác.

Đọc tiếp...

Cuộc ganh đua nhằm tạo dựng khuôn khổ RCEP giữa Trung – Nhật

Cuộc ganh đua nhằm tạo dựng khuôn khổ RCEP giữa Trung – Nhật

Cuộc ganh đua nhằm tạo dựng khuôn khổ của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) đang tăng tốc, khi Trung Quốc và Nhật Bản có cách nhìn khác nhau về thỏa thuận thương mại tại khu vực có phạm vi ảnh hưởng tới 1/2 dân số thế giới và chiếm 1/3 sản lượng kinh tế toàn cầu này.

Đọc tiếp...

Indonesia coi trọng IORA chỉ sau ASEAN?

Indonesia coi trọng IORA chỉ sau ASEAN?

Indonesia đang nỗ lực thể hiện vai trò, vị trí của mình trong Hiệp hội các Quốc gia vành đai Ấn Độ Dương với mong muốn tổ chức này sẽ góp phần thực hiện chiến lược trở thành “trung tâm biển” của nước này, giúp đưa Indonesia lên một tầm cao mới.

Đọc tiếp...

Quốc gia nào sẽ thay thế Trung Quốc trở thành “công xưởng” của thế giới?

Quốc gia nào sẽ thay thế Trung Quốc trở thành “công xưởng” của thế giới?

Các quốc gia như Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam đều có những đặc điểm để thay thế Trung Quốc, trong đó Ấn Độ là nước đang chiếm ưu thế nhất. Tuy nhiên, điều này chưa phải là cơ sở đầy đủ để cho rằng các quốc gia khác sẽ không thể trở thành một "Trung Quốc mới". 

Đọc tiếp...

Đã đến lúc Mỹ mạnh tay với vấn đề đầu tư Trung Quốc?

Đã đến lúc Mỹ mạnh tay với vấn đề đầu tư Trung Quốc?

Về kinh tế và nhất là trong đầu tư, những số liệu cụ thể cho thấy rằng, Trung Quốc cần Mỹ hơn rất nhiều so với Mỹ cần Trung Quốc. Với việc Trung Quốc có những hành động không mấy “thân thiện” với các nhà đầu tư Mỹ, đã đến lúc Mỹ cần thay đổi và mạnh tay hơn với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Những tác động rõ ràng đầu tiên của Brexit

Những tác động rõ ràng đầu tiên của Brexit

Hơn 6 tuần đã trôi qua kể từ khi cử tri Vương quốc Anh quyết định để quốc gia này rút khỏi Liên minh châu Âu (EU), khoảng thời gian đủ để một số tác động kinh tế của cuộc trưng cầu dân ý đó trở nên rõ ràng đối với cả Anh và châu Âu.

Đọc tiếp...

Việt Nam được lợi gì từ Brexit

Việt Nam được lợi gì từ Brexit

Đối với kinh tế Việt Nam, Brexit không hẳn sẽ chỉ đem đến những tác động tiêu cực mà Việt Nam sẽ vẫn có được một số lợi ích nhất định, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.

Đọc tiếp...

Vấn đề Brexit: Cuộc khủng hoảng kinh tế mới chỉ bắt đầu

Vấn đề Brexit: Cuộc khủng hoảng kinh tế mới chỉ bắt đầu

Các chuyên gia cũng thường mắc sai lầm, song lần này, những người ủng hộ Brexit sẽ phải trả giá đắt vì đã phớt lờ ý kiến từ các chuyên gia kinh tế. Cuộc trưng cầu ý dân này sẽ đem đến những hệ lụy tức thì và thậm chí là lâu dài.

Đọc tiếp...

TPP và những tác động đối với Châu Á - Thái Bình Dương

TPP và những tác động đối với Châu Á - Thái Bình Dương

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) - một thỏa thuận thương mại tiêu chuẩn cao đối với các thành viên tham gia, trong khi đó thế giới hiện cũng đang tồn tại nhiều hiệp định, cơ chế thương mại vốn đem lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia. Vậy tại sao TPP lại thu hút sự quan tâm của các nền kinh tế và là trung tâm trong các cuộc tranh luận?

Đọc tiếp...

Ba ngộ nhận về quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN

Ba ngộ nhận về quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN

Các đánh giá thường thể hiện Trung Quốc là đối tác kinh tế quan trọng nhất đối với các nước Đông Nam Á. Nhưng theo quan điểm của tác giả, thực chất lại hoàn toàn không phải vậy.

Đọc tiếp...

Báo cáo của ADB: Xu hướng và Triển vọng kinh tế Trung Quốc

Báo cáo của ADB: Xu hướng và Triển vọng kinh tế Trung Quốc

Theo dự báo của Ngân hàng Phát triển châu Á, tăng trưởng GDP của Trung Quốc được dự đoán sẽ giảm xuống 6,5% trong năm 2016, nằm trong phạm vi mục tiêu của chính phủ là 6,5%-7%, và giảm xuống 6,3% trong năm 2017 trước khi ổn định hay tăng lên một lần nữa.

Đọc tiếp...

Nguy cơ trở lại của một khủng hoảng kinh tế

Nguy cơ trở lại của một khủng hoảng kinh tế

Những tín hiệu tiêu cực về nền kinh tế thế giới đang lấn át những tín hiệu lạc quan: sự giảm tốc của nền kinh tế thế giới, sự hụt hơi của khu vực châu Âu, nền kinh tế Nhật Bản vẫn trì trệ, những tín hiệu về một cuộc chiến tiền tệ…  Những biến động mạnh mẽ này có thể gây nguy hiểm cho sự phục hồi vốn còn chậm chạp trên thế giới.

Đọc tiếp...

Tăng trưởng Châu Á bước vào thời kỳ khó khăn

Tăng trưởng Châu Á bước vào thời kỳ khó khăn

Châu Á đang đối mặt với bối cảnh kinh tế mới nhiều thách thức. Cùng với sự trì trệ của các nền kinh tế lớn, xu hướng phòng ngừa rủi ro tại các thị trường tài chính và sự chấm dứt của chu kỳ tăng giá hàng hóa cơ bản, động lực tăng trưởng của kinh tế Châu Á đang suy giảm.

Đọc tiếp...

Triển vọng kinh tế Trung Quốc năm 2016

Triển vọng kinh tế Trung Quốc năm 2016

Để đạt được mục tiêu đề ra, Trung Quốc các biện pháp can thiệp cải cách mạnh mẽ, duy  trì sự ổn định của đồng Nhân dân Tệ. Năm 2016, thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc là làm thế nào không hy sinh quá nhiều tăng trưởng kinh tế, mà vẫn bảo đảm được vấn đề an ninh kinh tế. Đó thực sự là một nhiệm vụ khó khăn. 

Đọc tiếp...

Ảo tưởng của Trung Quốc về chuyển đổi nền kinh tế

Ảo tưởng của Trung Quốc  về chuyển đổi nền kinh tế

Trong bối cảnh nền kinh tế phương Tây đang trì trệ, thì việc Trung Quốc  giảm giá tiền tệ quy mô lớn nhằm quay lại mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu sẽ không còn phù hợp.

Đọc tiếp...

Trung Quốc sẽ gia nhập TPP trong 5 - 7 năm tới?

Trung Quốc sẽ gia nhập TPP trong 5 - 7 năm tới?

Khi không tham gia TPP, chuyển dịch thương mại sẽ khiến Trung Quốc phải trả giá. Trung Quốc cần phải thực hiện những bước đi như thế nào để đối phó và tham gia TPP một cách thuận lợi?

Đọc tiếp...

Kinh tế toàn cầu và những nguy cơ

Kinh tế toàn cầu và những nguy cơ

Kinh tế toàn cầu hiện phải đối mặt với những mối nguy được đánh giá là trầm trọng nhất kể từ thời Ngân hàng đầu tư lớn Lehman Brothers của Mỹ, “ngòi nổ” cho cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Đọc tiếp...

Nỗi lo về một cuộc chiến tiền tệ đang bị thổi phồng?

Nỗi lo về một cuộc chiến tiền tệ đang bị thổi phồng?

Sự hỗn loạn gần đây ở các thị trường tiền tệ thế giới, đặc biệt ở châu Á, đang phản ánh sự hiểu nhầm của nhà đầu tư và một số chính trị gia về động thái Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ (NDT). Ở một số khía cạnh, đây là phản ứng thái quá về tác động của động thái này.

Đọc tiếp...

Những trở ngại nào kéo dài quá trình đàm phán TPP?

Những trở ngại nào kéo dài quá trình đàm phán TPP?

Năm năm sau các cuộc đàm phán thương mại, 29 chương quy tắc dày đặc và hàng trăm dòng thuế quan đi đến hồi kết. Hiện nay các nhà đàm phán vẫn đang tranh luận về văn bản nhằm thiết lập một khu vực thương mại Thái Bình Dương mới liên kết 12 nước từ Mỹ đến Việt Nam.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 12134 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin