19 - 9 - 2014 | 8:29
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home TỌA ĐÀM, HỘI THẢO Hội thảo quốc tế về Biển Đông lần thứ 3 (Hà Nội 11/2011) GS. Erik Franckx và Marco Benatar, Đường cơ sở thẳng bao quanh các đảo không cấu thành một quốc gia quần đảo

GS. Erik Franckx và Marco Benatar, Đường cơ sở thẳng bao quanh các đảo không cấu thành một quốc gia quần đảo

Email In PDF.

Bài viết tập trung vào vấn đề áp dụng đường cơ sở quần đảo đối với các quần đảo giữa biển, đó là những quần đảo thuộc về một quốc gia mà với bất kỳ lý do nào đó không thể được xem như là quốc gia quần đảo theo Luật biển Quốc tế 1982. Bài viết cũng sẽ xem xét đến những lập luận mang tính pháp lý về  khả năng vẽ đường cơ sở thẳng xung quanh các quần  đảo xa bờ theo luật quốc tế tại Biển Đông

GS. Erik Franckx

[Bài viết này chỉ là những ghi chép phục vụ mục đích thuyết trình. Xin không trích dẫn. Tất cả các phần của bài viết sẽ được phát triển sâu hơn sau này. Rất mong nhận được ý kiến góp ý.]

I. GIỚI THIỆU

Tranh chấp Biển Đông đã chứng minh là một lò lửa cho một loạt các cuộc tranh cãi pháp lý, từ vấn đề phạm vi các vùng biển[1], cho đến các yêu sách đảo[2] và quyền tự do hàng hải.[3] Một trong các vấn đề nổi cộm yêu cầu phải nghiên cứu kỹ hơn nữa liên quan đến các đường cơ sở sẽ được vẽ xung quanh các đảo ở giữa Biển Đông.[4] Quan điểm đầu tiên mà bất kỳ ai cũng có thể nghĩ đến đó là việc áp dụng cơ chế đường cơ sở thông thường phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.[5]

 Thực ra, nghiên cứu quy định của Điều 121(2):

“Trừ những điều được quy định trong  đoạn 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của một đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác.”

Kết hợp với Điều 5:

“Trừ khi có quy định trái ngược của Công ước, đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển, như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận.”

đưa chúng ta đến kết luận rằng các đường cơ sở thông thường, ví dụ như ngấn nước triều thấp nhất của bờ biển và có thể là đường cơ sở thẳng nếu đáp ứng các điều kiện có thể áp dụng đối với từng đảo riêng biệt.[6]

Tuy nhiên, có hai yếu tố đáng chú ý liên quan đến Biển Đông. Trước tiên, một vài cấu trúc ở giữa biển có thể được xem như là một nhóm đảo và/hoặc “quần đảo”, một thuật ngữ pháp lý được định nghĩa theo một loạt các tiêu chuẩn về lịch sử - địa lý và kinh tế - chính trị.[7] Thứ hai, các quốc gia lục địa/đại lục[8], các quốc đảo[9], cũng như một quốc gia quần đảo[10] đã đưa ra các yêu sách đối với các vùng lãnh thổ này. Việc xem quốc gia có đủ điều kiện yêu sách xét từ khía cạnh luật biển có hệ quả rất quan trọng.

Do đó, một câu hỏi then chốt được đặt ra đó là: liệu các quốc gia có thể nối các đảo (gộp thành một khối) trong một hệ thống nối các điểm ngoài cũng của nhóm đảo này? Hệ quả thực tế rất quan trọng, bởi vì đường cơ sở dùng để tính bề rộng của các vùng biển khác nhau thuộc thẩm quyền của các quốc gia ven biển (hướng ra biển)[11] và vùng biển nào trở thành nội thuỷ hay vùng nước quần đảo (hướng vào đất liền) phụ thuộc vào quy chế được áp dụng.[12]

Cũng nên lưu ý rằng việc xác định thành phần chính xác cũng như các đặc điểm của các nhóm đảo ở Biển Đông là một nhiệm vụ dành cho các nhà địa lý hơn là cho các nhà làm luật. Với mục đích đóng góp một cách lý giải mang tính lý thuyết pháp lý cho vấn đề này, chúng tôi sẽ xem xét các quy tắc có thể áp dụng một cách khái quát. Do đó, các học giả có thể sử dụng các quan điểm đó một cách hiệu qủa khi gặp phải các vấn đề cụ thể hơn ở Biển Đông. Hơn nữa, chúng tôi sẽ tập trung phân tích tình trạng của các quốc gia ngoài các quốc gia quần đảo (các quốc gia này nên được xem xét riêng biệt), hay còn gọi là “các quốc gia hỗn hợp”.[13] Chúng tôi sẽ xem xét từ góc độ liệu hai quy chế thay thế để vẽ đường cơ sở xung quanh các đảo xa bờ có cơ sở pháp lý hợp lý theo luật quốc tế hay không: quy chế đường cơ sở quần đảo và đường cơ sở thẳng. Việc giải quyết tính có thể áp dụng của các cách tiếp cận thay thế đường cơ sở thông thường chắc chắn không phải là một điểm tranh luận trong bối cảnh Biển Đông. Minh chứng là Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ban hành luật trong đó nước này áp dụng hệ thống đường cơ sở thẳng cho quần đảo Hoàng Sa.[14]

Đọc toạn bộ bản dịch tại đây

Erik Franckx

Giáo sư Nghiên cứu, Trưởng Khoa Luật quốc tế và Châu Âu và Giám đốc Trung tâm Luật quốc tế, Vrije Universiteit Brussel, BỉThành viên Toà trọng tài thường trực.

 Marco Benatar

Nghiên cứu viên, Tổ chức nghiên cứu – Flanders (FWO); Thành viên, Khoa Luật quốc tế và Châu Âu và Trung tâm Luật quốc tế, Vrije Universiteit Brussel, Bỉ

 

Bản gốc tiếng Anh: “Straight baselines around insular formations not constituting an Archipelagic state

Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba: Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011.



[1] Ví dụ A.G. Oude Elferink, ‘The Islands in the South China Sea: How Does Their Presence Limit the Extent of the High Seas and the Area and the Maritime Zones of the Mainland Coasts?’, 32 Ocean Development and International Law (2001) 169.

[2] Ví dụ M. Chemillier-Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands (Kluwer, 2000).

[3] Ví dụ E. Franckx, ‘American and Chinese Views on Navigational Rights of Warships’, 10 Chinese Journal of International Law (2011) 187.

[4] Chúng tôi sẽ không thảo luận về vấn đề quyền sở hữu đối với các cấu trúc đảo khác nhau. Chỉ quốc gia sở hữu các đảo mới có thể vẽ đường cơ sở mà có thể bị phản đối và công nhận theo luật quốc tế. Khi nghiên cứu các tranh luận liên quan đến đảo, một vấn đề quan trọng đó là phân biệt vấn đề chủ quyền với các vấn đề khác. Xem R.W. Smith, ‘Maritime Delimitation in the South China Sea: Potentiality and Challenges’, 41 Ocean Development & International Law (2010) 214, tr. 220.

[5] United Nations Convention on the Law of the Sea, 10/12/1982, 1833 U.N.T.S. 397 (có hiệu lực vào ngày 16/11/1994) [Công ước 1982].

[6] Xem thêm M.H. Nordquist, United Nations Convention on the Law of the Sea 1982: A Commentary (Vol. III, Martinus Nijhoff, 1995), tr. 338.

[7] M. Tseggelidou, ‘The Legal Regime of Archipelagos’, 17 Thesaurus Acroasium (1991) 663, tr. 667.

[8] Brunei, Malaysia, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Việt Nam.

[9] Liên quan đến Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), chúng tôi sẽ không bàn về địa vị của nước này trong luật quốc tế (Xem J. Crawford, The Creation of States in International Law (Oxford University Press, 2006), tr. 198-221).

[10] Philippines. Do Cộng hoà Trung Hoa tuyên bố yêu sách quần đảo, quốc gia này cũng có thể được xem xét ở đây.

[11] T. Scovazzi, ‘Baselines’, in R. Wolfrum (ed.), Max Planck Encyclopedia of Public International Law, www.mpepil.com, tại § 1.

[12] Nội thuỷ: Điều 8 Công ước 1982. Xem thêm C.J. Colombos, The International Law of the Sea (6th ed., Longmans, 1967): “trong vùng biển này, ngoại trừ các điều ước đặc biệt, nếu thực hiện nghiêm theo luật, các quốc gia khác không thể đòi hỏi bất kỳ quyền lợi nào cho các tàu hay vật thể của mình mặc dù vì lý do dựa vào lợi ích của thương mại và hàng hải quốc tế, quốc gia đó có thể cho rằng một tập quán quốc tế đang hình thành trong thời hiện đại rằng sự tiếp cận của các tàu nước ngoài vào các vùng biển này không nên bị từ chối ngoại trừ dựa trên một số lý do quốc gia bắt buộc.” Vùng nước quần đảo: Điều 47 Công ước 1982. Xem thêm C.J. Piernas, ‘Archipelagic Waters’, in R. Wolfrum (ed.), Max Planck Encyclopedia of Public International Law, www.mpepil.com, tại §§ 14-18 (lưu ý rằng vùng nước quần đảo có đặc điểm giống nội thuỷ đó là cả 2 vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển và cho phép quyền qua lại vô hại và quyền quá cảnh nhưng cũng phải tùy thuộc vào quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia láng giềng).

[13] Định nghĩa bởi Piernas, như trên, tại § 5 là “các quốc gia nằm trong vùng đất lục địa và trong một hoặc nhiều hơn các quần đảo.” Xem thêm P.E.J. Rodgers, Midocean Archipelagos and International Law: A Study in the Progressive Development of International Law (Vantage Press, 1981), tr. 165.

[14] Xem D.J. Dzurek, ‘The People’s Republic of China Straight Baseline Claim’, IBRU Boundary and Security Bulletin (Summer 1996) 77, tr. 84-85. PRC cũng tuyên bố rằng quốc gia này sẽ xác định đường cơ sở cho quần đảo Trường Sa vào một lúc nào đó. Xem K. Zou, Law of the Sea in East Asia: Issues and Prospects (Routledge, 2005), tr. 46.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Ramses Amer, Việt Nam, Trung Quốc và tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông: Đánh giá tác động của các sự kiện tháng 5-6 năm 2011

Ramses Amer, Việt Nam, Trung Quốc và tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông: Đánh giá tác động của các sự kiện tháng 5-6 năm 2011

Bài viết phân tích việc Trung Quốc và Việt Nam đối phó với những căng thẳng liên quan đến tranh chấp tại Biển Đông. Tác giả tập trung vào những sự kiện gây căng thẳng gần đây trong cuối tháng 5 và đầu tháng 6 năm 2011. Những diễn biến được phân tích trong bối cảnh rộng hơn về cách tiếp cận Việt Nam – Trung Quốc đối với quản lý tranh chấp biên giới lãnh thổ.

Đọc tiếp...

Ian Storey, Những vận động trong nội khối ASEAN và tranh chấp biển Đông: tác động tới tiến trình DOC/COC và Đề xuất ZoPFFC

Ian Storey, Những vận động trong nội khối ASEAN và tranh chấp biển Đông: tác động tới tiến trình DOC/COC và Đề xuất ZoPFFC

Việc đạt được một sự đồng thuận mạnh mẽ về tranh chấp Biển Đông trong ASEAN đã và đang là một thách thức với tổ chức này trong hai thập niên trở lại đây, nguyên nhân là do những khác biệt về lợi ích quốc gia của các quốc gia thành viên. Bài viết xem xét cách thức ASEAN – với tư cách là một khối-đương đầu với căng thẳng đang tăng lên ra sao; mức độ đồng thuận mà các nước đã và đang gầy dựng; cũng như thực tế chính trị của những hạn chế trong sự đồng thuận. Bài tham luận sẽ tập trung vào Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC) và tiến trình đạt được Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (CoC); cũng như phản ứng của ASEAn đối với đề xuất thành lập ZoPFFC[1] của Phi-líp-pin.

Đọc tiếp...

Hasjim Djalal, Biển Đông: Hợp Tác vì An ninh và Phát triển Khu vực

Hasjim Djalal, Biển Đông: Hợp Tác vì An ninh và Phát triển Khu vực

Bài viết nêu lên những mặt tích cực trong cách tiếp cận vấn đề Biển Đông qua kênh 2 thông qua các hội thảo, dự án hợp tác khoa học…Một số bài học kinh nghiệm mà tác giả rút ra thông qua 20 năm quản lý tiến trình Hội thảo về Biển Đông (SCSW) có thể được cân nhắc, xem xét áp dụng như một giải pháp tăng cường hợp tác, ngăn ngừa xung đột tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

GS. Raul C. Pangalangan, Những phát triển gần đây trong Luật đường cơ sở của Philippines

GS. Raul C. Pangalangan, Những phát triển gần đây trong Luật đường cơ sở của Philippines

Bài viết bàn về cuộc tranh cãi pháp lý giữa hai quan điểm giữa một bên là quan điểm của những người theo chủ nghĩa dân tộc và một bên là những người theo quan điểm hiện đại về việc là Philippin có nên từ bỏ toàn bộ “các đường hiệp ước” năm 1898 và áp dụng các quy tắc hiện đại về Luật biển hay không . Quan điểm của những người theo chủ nghĩa dân tộc bám chặt yêu sách mở rộng đối với các vùng biển được nêu ra trong Hoà ước năm 1898, theo đó đế quốc thực dân Tây Ban Nha khi xưa đã nhượng lại quần đảo Philippines cho Hoa Kỳ. Quan điểm của những người theo chủ nghĩa hiện đại sẽ tuân theo các vùng biển xác định nhưng được chấp nhận rộng rãi theo quy định trong Công ước về Luật biển. Bài viết cũng  lý giải vì sao Philippin vẫn  tiếp tục duy trì quan điểm chủ nghĩa dân tộc và giải thích vì sao lập luận theo chủ nghĩa hiện đại lại không thể áp đảo Đọc tiếp...

GS. Erik Franckx và Marco Benatar, Đường cơ sở thẳng bao quanh các đảo không cấu thành một quốc gia quần đảo

GS. Erik Franckx và Marco Benatar, Đường cơ sở thẳng bao quanh các đảo không cấu thành một quốc gia quần đảo

Bài viết tập trung vào vấn đề áp dụng đường cơ sở quần đảo đối với các quần đảo giữa biển, đó là những quần đảo thuộc về một quốc gia mà với bất kỳ lý do nào đó không thể được xem như là quốc gia quần đảo theo Luật biển Quốc tế 1982. Bài viết cũng sẽ xem xét đến những lập luận mang tính pháp lý về  khả năng vẽ đường cơ sở thẳng xung quanh các quần  đảo xa bờ theo luật quốc tế tại Biển Đông Đọc tiếp...

Mạng lưới song phương các khu bảo tồn giữa Việt Nam và Trung Quốc: Giải pháp thay thế cho lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc trên Biển Đông

Mạng lưới song phương các khu bảo tồn giữa Việt Nam và Trung Quốc: Giải pháp thay thế cho lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc trên Biển Đông

Chủ trương của bài viết[1] này là thành lập một mạng lưới song phương bảo tồn biển giữa Trung Quốc và Việt Nam ở khu vực Tây Bắc của Biển Đông, như một giải pháp thay thế cho lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm mà Trung Quốc đang thực hiện tại Biển Đông. Một giải pháp như vậy nếu như chính thức được thực hiện, nó không chỉ giúp bảo tồn nguồn sinh vật biển, mà còn đóng góp vào việc thúc đẩy mối quan hệ song phương Việt Nam và Trung Quốc, cũng như giúp giảm căng thẳng khu vực này.

Đọc tiếp...

GS. Robert C Beckman và Leonardo Bernard, Các Khu vực Tranh chấp ở Biển Đông: Triển vọng giải quyết bằng Trọng tài hoặc Ý kiến Tư vấn

GS. Robert C Beckman và Leonardo Bernard, Các Khu vực Tranh chấp ở Biển Đông: Triển vọng giải quyết bằng Trọng tài hoặc Ý kiến Tư vấn

Trên cơ sở đề xuất của Philippin về việc thành lập một khu vực hòa bình, hữu nghị và hợp tác ở Biển Đông, bài viết phân tích về những khả năng cho đề xuất này, mà cụ thể là  tập trung vào việc xác định những khu vực có tranh chấp và không có tranh chấp. Bài viết cũng sẽ phân tích các nghĩa vụ theo luật quốc tế của các Quốc gia yêu sách liên quan đến các khu vực tranh chấp, trong đó bao gồm những hạn chế theo luật quốc tế đối với những hành động đơn phương mà Quốc gia được phép thực hiện trong các khu vực tranh chấp. Đọc tiếp...

GS. Stein Tønnesson, Luật Pháp Quốc tế ở Biển Đông:thúc đẩy hay hỗ trợ giải quyết xung đột?

GS. Stein Tønnesson, Luật Pháp Quốc tế ở Biển Đông:thúc đẩy hay hỗ trợ giải quyết xung đột?

Sự tác động qua lại giữa sức mạnh và luật pháp ở biển Đông chưa được hiểu một cách đúng đắn. Để phân tích các tranh chấp đối với các vấn đề về quyền hàng hải, chủ quyền đối với các hòn đảo và sự phân định ranh giới của các khu vực biển, chúng ta cần hiểu cách các nước định nghĩa và bảo vệ lợi ích địa chính trị của mình cũng như những cách thức mà luật pháp quốc tế ảnh hưởng đến các yêu sách và hành vi xung đột của họ. Đọc tiếp...

GS. Kuan-Hsiung Wang, Giải pháp cho tranh chấp nghề cá ở Biển Đông thông qua hợp tác và quản lý khu vực

GS. Kuan-Hsiung Wang, Giải pháp cho tranh chấp nghề cá ở Biển Đông thông qua hợp tác và quản lý khu vực

Trước sự phức tạp của tranh chấp Biển Đông, tác giả cho rằng hợp tác là một trong các giải pháp góp phần giải quyết tranh chấp. Nhằm thúc đẩy hợp tác tại khu vực Biển Đông, tác giả đề xuất có thể bắt đầu bằng việc bảo tồn và quản lý tài nguyên cá và cần phải được thực hiện theo một cơ chế thống nhất ở các cấp quốc gia, khu vực và quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả. Bài viết này đưa ra kết luận về sự cần thiết của tổ chức quản lý nghề cá khu vực (RFMO) trong việc bảo tồn và quản lý các tài nguyên nghề cá trên Biển Đông. Hơn nữa, mô hình này có thể góp phần giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Đọc tiếp...

GS. Leszek Buszynski, Quốc tế hóa Biển Đông: Ngăn chặn và quản lý xung đột

GS. Leszek Buszynski, Quốc tế hóa Biển Đông: Ngăn chặn và quản lý xung đột

Bài viết phân tích những diến biến tranh chấp chủ quyền, vấn đề khai thác dầu khí tại Biển Đông – một nhân tố quan trọng khi mà nhu cầu về năng lượng toàn cầu ngày càng tăng, cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Biển Đông đang được gắn với các vấn đề chiến lược rộng lớn hơn liên quan đến chiến lược hải quân của Trung Quốc khi nước này tăng cường phát triển sức mạnh quân sự để bảo vệ tuyến đường biển kéo dài đến Trung Đông. Nó cũng trở thành vấn đề đối với sự hiện diện của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương cũng như mối quan hệ đồng minh của nước này trong khu vực. Tác giả cho rằng điều cần thiết trong giai đoạn này là một thỏa thuận đa phương về các biện pháp để ngăn chặn việc các vấn đề nhỏ leo thang thành xung đột trong khi chưa có cách giải quyết đối với tranh chấp trong các yêu sách. Thỏa thuận này cần phải có hai nhân vật chính là Mỹ và Trung Quốc, cũng như các quốc gia yêu sách thuộc khối ASEAN. Đọc tiếp...

Daniel Shaeffer, Tại sao Trung Quốc nhất định cần Biển Đông cho riêng mình: Một quan điểm độc lập và hướng tới tương lai từ bên ngoài

Daniel Shaeffer, Tại sao Trung Quốc nhất định cần Biển Đông cho riêng mình: Một quan điểm độc lập và hướng tới tương lai từ bên ngoài

Nhiều người cho rằng sự quả quyết của Trung Quốc tại Biển Đông là dựa trên những lý do kinh tế và môi trường. Nhưng đấy chỉ là những lý do bề mặt. Biển Đông không khác gì một quân cờ trong kế hoạch phòng thủ tổng thể mà Trung Quốc đang xây dựng nhằm hạn chế cái được cho là mối đe dọa Mỹ.

Đọc tiếp...

TS. Koh Choong-suk và TS. Yearn Hong Choi, Vùng đặc quyền kinh tế trong các bài báo truyền thông và học thuật chủ yếu 2010: Biển Đông và các vùng biển khác

TS. Koh Choong-suk và TS. Yearn Hong Choi, Vùng đặc quyền kinh tế trong các bài báo truyền thông và học thuật chủ yếu 2010: Biển Đông và các vùng biển khác

Bài nghiên cứu hướng đến tìm hiểu những phát hiện của giới học thuật tập trung vào vùng đặc quyền kinh tế trong năm 2011, từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng tám. Trong bài viết tác giả liệt kê những vấn đề liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế trong mối quan hệ với các vấn đề trên biển và đại dương đã được thảo luận, những đề xuất để mang lại vùng biển và đại dương hòa bình và để bảo vệ môi trường biển và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển và đại dương. Cơ sở dữ liệu của công trình nghiên cứu này là ProQuest. Cơ sở dữ liệu này có sẵn trong hệ thống thư viện công cộng ở Hoa Kỳ, tập hợp 80 tạp chí chuyên ngành và các tờ báo lớn. Đọc tiếp...

TS. Nguyễn Thị Lan Anh, Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc và an ninh hàng hải tại khu vực Biển Đông

TS. Nguyễn Thị Lan Anh, Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc và an ninh hàng hải tại khu vực Biển Đông

Biển Đông là nơi hội tụ của nhiều mối quan tâm về an ninh trên biển. Dưới góc độ an ninh truyền thống, những xung đột về yêu sách lãnh thổ và vùng biển ngày càng gay gắt khiến cho xung đột vũ trang có thể xảy ra tại khu vực biển Đông. Tất cả những triển vọng này đặt an ninh của khu vực biển Đông ở mức báo động cao. Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc là một khuôn khổ pháp lý đa phương và toàn diện nhằm giúp các quốc gia sử dụng và quản lý biển một cách hòa bình, công bằng và bền vững trên cơ sở tôn trọng chủ quyền lẫn nhau, giúp các bên xác định và thu hẹp đối tượng của tranh chấp chủ quyền, thiết lập cơ chế hợp tác về bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển và đặc biệt là nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia trong vùng biển nửa kín. Nhằm áp dụng hiệu quả các quy định của Công ước vào bối cảnh đặc thù của biển Đông, các quốc gia cần cụ thể hóa các quy định của Công ước để xây dựng một bộ luật ứng xử có hiệu lực ràng buộc trong khu vực. Đọc tiếp...

GS. Jon M. Van Dyke, Hợp tác khu vực ở Biển Đông

GS. Jon M. Van Dyke, Hợp tác khu vực ở Biển Đông

Là biển nửa kín, theo , Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc quy định rằng các quốc gia ven bờ “nên hợp tác với nhau để thực thi các quyền và nghĩa vụ của họ theo Công ước”. Cụ thể hơn, Công ước hướng dẫn các nước phối hợp quản lý, bảo tồn, thăm dò và khai thác các nguồn lợi sinh vật của biển” và phối hợp các hoạt động của họ liên quan đến việc bảo vệ và bảo tồn môi trường biển”. Mặc dù vậy, theo GS. Jon M. Van Dyke[1] các nước ven bờ Biển Đông đã không xây dựng được một tổ chức khu vực hiệu quả nào và hợp tác trực tiếp về cơ bản cũng không thành công. Đọc tiếp...

TS. S.D. Pradhan, Căng thẳng gia tăng tại Biển Đông: Nguyên nhân và giải pháp

TS. S.D. Pradhan, Căng thẳng gia tăng tại Biển Đông: Nguyên nhân và giải pháp

Những yêu sách đối kháng, tầm quan trọng cả về chiến lược và kinh tế, đặc biệt là những động thái và quan điểm của Trung Quốc gần đây trong tranh chấp biên giới cả trên bộ và trên biển với các quốc gia láng giềng đã khiến cho tình hình Biển Đông  trở nên căng thẳng, thậm chí theo  các chuyên gia ẩn chứa rủi ro xung đột vũ trang. Tuy nhiên, theo tác giả một số các tiến triển có tính tích cực cũng đã diễn ra, trên cơ sở đó bài viết đưa ra một số giải pháp thực tiễn giải quyết vấn đề

Đọc tiếp...

TS. Renato Cruz De Castro, Cách tiếp cận thực dụng của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông: Tác động tới an ninh khu vực

TS. Renato Cruz De Castro, Cách tiếp cận thực dụng của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông: Tác động tới an ninh khu vực

Trung Quốc đang sử dụng các chiến thuật chính trị cường quyền liên quan đến các yêu sách lãnh thổ của mình bao gồm: a) trích dẫn yêu sách lịch sử b) áp dụng cách tiếp cận song phương để làm suy yếu ASEAN; c) dựa vào kế sách chia để trị trong đối phó với từng nước thành viên ASEAN và tạo ta một sự chia rẽ giữa ASEAN và Mỹ; và d) củng cố sức mạnh hải quân giúp Trung Quốc giải quyết tranh chấp lãnh thổ theo cách của mình. Với cách tiếp cận chính trị thực tiễn mà Trung Quốc sử dụng trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông sẽ khiến cho tương lai của Đông Á trở thành quá khứ của Châu Âu.

Đọc tiếp...

GS. Koichi Sato, Biển Đông: Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động đối với hợp tác an ninh

GS. Koichi Sato, Biển Đông: Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động đối với hợp tác an ninh

Những tuyên bố và hành động nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đang gây căng thẳng với các nước láng giềng Đông Nam Á. Mỹ, Nhật và Úc cũng thể hiện sự quan ngại đối với an ninh và tự do hàng hải ở Biển Đông. Bài tham luận[1] phân tích những thách thức trên biển này và những hệ lụy đối với hợp tác an ninh giữa Trung Quốc và các nước láng giềng bao gồm Nhật và Mỹ.

Đọc tiếp...

Hà Anh Tuấn, ASEAN và tranh chấp Biển Đông

Hà Anh Tuấn, ASEAN và tranh chấp Biển Đông

Căng thẳng đang leo thang xung quanh những tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trong vài năm qua đã trở thành mối quan ngại chính về an ninh ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Trong bối cảnh đó, ASEAN, được cho là một trong những tổ chức khu vực thành công nhất trên thế giới, chưa đóng vai trò đáng kể trong việc làm dịu những tranh cãi nóng bỏng giữa các bên tranh chấp. Bài viết này phân tích rằng ASEAN có lợi ích, trách nhiệm, và khả năng để tham gia tích cực hơn trong vấn đề này và đóng góp vào quá trình giải quyết tranh chấp. Đọc tiếp...

TS. Vijay Sakhuja, Lợi ích của Ấn Độ ở Biển Đông

TS. Vijay Sakhuja, Lợi ích của Ấn Độ ở Biển Đông

Thời gian gấn đây, Biển Đông luôn trong tâm điểm của dư luận quốc tế bởi những hành động, tuyên bố của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền tại Biển Đông. Đáng lưu ý là việc nước này cảnh báo sự can dự của các quốc gia không liên quan bên ngoài. Tất cả những yếu tố gây bất ổn đó cũng sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của Ấn Độ trên khía cạnh thương mại hảng hải, khai thác dầu khí. New Delhi cũng gia tăng quan ngại về tuyên bố “ những lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc vì rất có thể điều này cũng sẽ mở rộng áp dụng đối với những khu vực tranh chấp biên giới phía bắc của Ấn Độ. Đọc tiếp...

GS. Evgeny A.Kanaev, Nga và vấn đề Biển Đông: Tìm hiểu một cách tiếp cận thực tiễn

GS. Evgeny A.Kanaev, Nga và vấn đề Biển Đông: Tìm hiểu một cách tiếp cận thực tiễn

Những diến biến tại Biển Đông gần đây cho thấy một điều gần như chắc chắn rằng hồ sơ vấn đề Biển Đông sẽ ngày một quan trọng đối với các cường quốc châu Á  - Thái Bình Dương. Từ những đánh giá về những nỗ lực của ASEAN nhằm giải quyết vấn đề, bài viết đưa ra những lựa chọn trong chính sách của Nga đối với Biển Đông một cách phù hợp nhằm giảm căng thẳng vấn đề tranh chấp tại đây.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

Đăng nhập