22 - 10 - 2019 | 13:05
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home TIN THAM KHẢO NCBĐ Những khó khăn của Áchentina trong tranh chấp chủ quyền Malvinas

Những khó khăn của Áchentina trong tranh chấp chủ quyền Malvinas

Email In PDF.

Bài viết của nhà phân tích chính trị Gustavo Herren, đăng trên mạng bình luận Argenpress, bàn về những biện pháp khả thi cùng những hạn chế của Áchentina trong việc tranh chấp chủ quyền quần đảo Malvinas (tiếng Anh là Falkland) với Anh. Cùng xem và so sánh.


Trong tình thế hiện nay, để buộc Anh phải ngồi vào bàn thương lượng về chủ quyền Malvinas và phần lãnh hải tại Nam Đại Tây Dương, và hơn nữa, là để Áchentina có thể khôi phục phần nào chủ quyền thực tế tại quần đảo trên, Buênốt Airết cần phải làm được hai việc: thứ nhất là gây sức ép trên những đấu trường mà mình có lợi thế, và thứ hai là sức ép đó phải đủ lớn để tác động tới lợi ích được đặt vào cuộc chơi. Đây là một tiên đề lịch sử.


Nếu như sức ép tạo ra là không đủ hoặc không trúng, thì đó chẳng khác gì một cách bào chữa chính trị mang tính tình thế ở bên trong và kéo dài tình trạng không rõ ràng ở bên ngoài. Điều này đã từng xảy ra với nhiều chính phủ Áchentina.


Một trong những thế mạnh của Anh, quốc gia đã công nghiệp hóa và từng là cường quốc thực dân trong quá khứ, là quân sự. Nhưng ngay cả như vậy thì năm 1982, để quyết định cuộc chiến với Áchentina tại Malvinas, họ vẫn phải cần tới sự giúp đỡ công khai của đồng minh lịch sử Mỹ và một số nước khác, kể cả trong khu vực Mỹ Latinh (điển hình là Chilê dưới thời độc tài Pinochet). Một mặt mạnh khác của Anh là ngoại giao, chính là mặt trận mà Áchentina đã lựa chọn để thực hiện phần lớn các nỗ lực đòi chủ quyền và phản đối của mình.


Tuy nhiên, có một nghịch lý rằng điểm nhạy cảm của Anh – cái nôi của chế độ tư bản – lại chính là kinh tế, khi luôn phải tìm kiếm cân bằng giữa các quyền lợi của hệ thống tư bản. Các cường quốc luôn có truyền thống vận hành theo cái được gọi là “chiến tranh chính trị” – hay nói cách khác các hành động phi quân sự, được tiến hành trong cả thời bình lẫn thời chiến, nhưng lại có mục tiêu giống như một cuộc chiến tranh quân sự. Một trong những cơ chế “chiến tranh chính trị” này chính là cuộc chiến kinh tế, cái mà Anh đã áp dụng với Áchentina từ tháng 5/1810 với Chiến lược Castlereagh (lấy theo tên của Huân tước Catlereagh, cố Ngoại trưởng Anh và là người từng đưa ra phương châm “chúng ta không cần phải lo nghĩ tới việc ai nắm chính quyền tại Sông Bạc (tên cũ của Áchentina), mà cần quan tâm tới quyền làm chủ kinh tế tại đó”).


Trong cuộc xung đột Malvinas 1982, Áchentina cũng từng có điều kiện để phản công về kinh tế - tài chính chống lại kẻ thù của mình: Luân Đôn khi đó e sợ một cuộc chiến kinh tế hơn nhiều so với một cuộc chiến quân sự. Vào thời điểm ấy, Anh đã cùng với nhiều nước chủ nợ phương Bắc tiến hành cô lập tài chính Áchentina, và điều mà các nhà đầu tư người Anh (và châu Âu) lo lắng chính là Buênốt Airết sẽ đáp trả bằng cách ngừng trả lãi suất và các khoản nợ nước ngoài đáo hạn, yếu tố có thể góp phần tạo ra một cuộc khủng hoảng trong hệ thống tài chính thế giới.


Một vài tuần trước khi cuộc chiến bùng nổ, trung tâm tài chính quốc tế Luân Đôn rơi vào tình trạng mất cân đối do nguy cơ Buênốt Airết không trả nợ cho các ngân hàng lớn, các công ty và các nhà đầu tư Anh có nhiều quyền lợi tại quốc gia Nam Mỹ này, và từ sự thiếu tin tưởng của các quỹ đầu cơ trái phiếu trước hậu quả của cuộc xung đột. Các nguồn vốn bị đánh tháo, lãi suất bị nâng cao, các thị trường chứng khoán, vốn và hối đoái rung chuyển, và Ngân hàng Anh buộc phải can thiệp để bình ổn đồng Bảng. Các phương tiện truyền thông bắt đầu chỉ trích chính phủ của bà Thatcher do chi phí từ việc gửi hạm đội tới Nam Đại Tây Dương, ngân sách để duy trì căn cứ quân sự tại Malvinas (khi đó mới là dự án, được xây dựng sau cuộc chiến), cũng như hệ quả xã hội kéo theo là thất nghiệp và tăng thuế. Cuộc xung đột bắt đầu trở nên bất trắc với một cái giá rất cao đối với giới tư bản Luân Đôn, cũng như của nhiều nước khác, và thậm chí là với sự ổn định của hệ thống ngân hàng thế giới. Thế nhưng chính phủ quân sự độc tài Áchentina thời đó đã không hành động như vậy: Bộ trưởng Kinh tế Roberto Alemann đã thực hiện một chuyến công du tới các trung tâm tài chính quốc tế cam đoan rằng Buênốt Airết sẽ tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ tài chính của mình theo đúng thời gian và quy định… và rằng một khi cuộc xung đột kết thúc, Áchentina sẽ trả nợ cho Anh. Đây chính là hệ quả của tư tưởng kinh tế tự do mới tại các nước thứ ba – do các cường quốc tuyên truyền – rằng trong các cuộc xung đột chỉ có thể gây sức ép qua con đường ngoại giao hoặc quân sự, trong khi trên thực tế hai lĩnh vực này phụ thuộc một cách hệ thống vào các yếu tố kinh tế. Điều này cũng phản ánh phương châm “hãy làm theo những gì tôi nói mà đừng làm theo những gì tôi làm” của các nước lớn, trong khi chính họ luôn hành động đồng thời trên cả 3 mặt trận trên thực tế là không thể tách rời này.


Trước động thái khiêu khích mới đây của Anh, với việc chuyển một giàn khoan thăm dò dầu khí tới Malvinas, Áchentina sẽ phải tạo ra sức ép lớn tới đâu và tập trung nó vào những điểm chốt nào? Để phân tích điều này, trước hết cần phải hiểu được điều gì đã thúc đẩy Anh tăng cường sự hiện diện tại quần đảo mà họ coi là lãnh thổ hải ngoại này, đồng thời đưa ra yêu cầu mở rộng đặc quyền kinh tế của Malvinas với bán kính từ 200 lên tới 350 hải lý xung quanh các đảo chính, nâng tổng diện tích của vùng lãnh hải tuyên bố này lên khoảng 3,5 triệu km2 tại Nam Đại Tây Dương (tức lớn hơn cả phần lãnh thổ đất liền của Áchentina), chưa kể tới những toan tính của Luân Đôn tại Nam Cực.


Từ năm 2000 sản lượng dầu khí tại các mỏ của Anh tại Biển Bắc đã giảm dần đều, và các công ty dầu khí chính của họ như BP và Shell đang rời bỏ nơi đây để tìm kiếm các nguồn trữ lượng khác có lợi nhuận cao hơn như tại Trung Đông và Trung Á. Anh từ vị thế xuất khẩu đã trở thành nước nhập khẩu khí đốt. Các chuyên gia đã trù tính việc dỡ bỏ dần dần các dàn khoan dầu tại Biển Bắc từ nay tới năm 2035. Nguồn trữ lượng đầy tiềm năng tại vùng biển bao quanh Malvinas sẽ đóng vai trò thay thế những mỏ dầu cạn kiệt trên, nhưng ngoài dầu khí và hải sản phong phú, quần đảo này còn là điểm nút quan trọng để Anh có thể đòi hỏi quyền lợi được thăm dò và khai thác dầu khí tại Nam Đại Tây Dương, Nam Đại Dương
[1], và Nam Cực. Tại châu lục băng giá này – nguồn cung cấp nước ngọt tương lai cho thế giới – người ta đã tìm thấy nhiều mỏ dầu và khoáng sản (đặc biệt là các mỏ than tại khu vực bao quanh điểm cực). Mặc dù Luân Đôn đã ký Hiệp ước Nam Cực[2], văn bản ngăn ngừa mọi hoạt động khai thác khoáng sản và quân sự hóa “lục địa trắng” cho tới năm 2048, nhưng hiện tại đang có sức ép rất lớn từ các tập đoàn xuyên quốc gia và từ chính phủ nhiều nước đòi gỡ bỏ hạn chế đối với các tài nguyên của Nam Cực trước thời hạn trên. Thậm chí, nhiều nước có thể sẽ rút khỏi Hiệp ước trước thời điểm này.


Với cấu trúc tiêu thụ tăng theo cấp lũy thừa trong xã hội tư bản, cuộc chiến giành giật Nam Cực trên thực tế đã bắt đầu. Khác với các nước nhỏ, các cường quốc luôn lập kế hoạch theo những quá trình vĩ mô lịch sử, việc phân chia Nam Cực cho các tập đoàn khai thác khoáng sản của các nước này bao hàm cả việc tăng cường sức mạnh quân sự để đảm bảo quá trình khai thác, cũng như giành quyền kiểm soát chiến lược các tuyến đường vận tải và các hành lang kinh tế. Anh đang đi trước trong việc lấp đầy các không gian cần thiết khi nắm giữ hành lang đảo Ascención – Malvinas – đảo
Georgias Đại Tây Dương.

Trong khi đó, Mỹ tăng cường hiện diện tại khu vực Nam Đại Tây Dương với Hạm đội IV mới được tái khởi động và các căn cứ không – hải quân sử dụng chung với Anh, như tại Ascención và Malvinas (nhiều công ty của Mỹ cũng có đăng ký tham gia khai thác dầu khí tại khu vực này), và tạo lợi thế tại chính Nam Cực với các căn cứ rải rác của Lực lượng phòng thủ bờ biển, các dự án tăng cường sức mạnh không quân tại đây và thậm chí đã có một sân bay hoạt động thường xuyên (Amundsen – Scott, cho tới nay vẫn được đăng ký là sân bay khoa học) nằm tại ngay điểm cực.


Một cuộc chiến thầm lặng giữa nội bộ các cường quốc phương Bắc – cả Nga và Trung Quốc cũng sẽ sớm nhảy vào cuộc – đang được triển khai tại Nam Cực, mặc dù một số nước phương Nam cũng không muốn chậm chân theo sau các sự kiện này. Đơn cử là Ôxtrâylia – nước cùng với yêu cầu khu đặc quyền tại 2,5 triệu km2 tại
Nam Đại Dương (được Liên hợp quốc phê chuẩn năm 2008) đã tăng đáng kể chi phí quân sự, mức tăng cao nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Đằng sau Hiệp ước bảo vệ Nam Cực 1959 – với mục đích công khai là bảo tồn lục địa băng giá này như một không gian thiên nhiên để phát triển hòa bình – là cả một trường đấu tranh nóng bỏng và khốc liệt.


Trong những điều kiện ấy, sức ép mà Buênốt Airết đưa ra để có thể khiến Luân Đôn phải “ngồi vào bàn và thảo luận” về chủ quyền của Malvinas phải có đủ tầm cỡ của những lợi ích đang được đặt vào cuộc chơi. Malvinas không đơn thuần là một quần đảo, nó chính là điểm nổi của tảng băng của cải khổng lồ, bao gồm các tài nguyên trên đất liền và ngoài biển, trên và dưới thềm Đại Tây Dương, đồng thời là tiền sảnh dẫn tới châu Nam Cực. Chính những yếu tố này cùng vành đai năng lượng tiềm năng mới đại diện cho giá trị địa chính trị của quần đảo.


Hãy xét tới những quân bài mà Áchentina có thể sử dụng trong 3 mặt trận đã nêu. Về mặt ngoại giao – nơi người Anh có sức mạnh vượt ra ngoài khuôn khổ luật pháp quốc tế, những phản đối mang tính hệ thống của Buênốt Airết, cùng với yêu cầu liên tục tại các tổ chức đa phương cũng nhưng các tuyên bố ủng hộ của nhiều nước – mặc dù bị Mỹ và Liên minh châu Âu bỏ qua – vẫn giúp duy trì được vị thế chủ quyền của Áchentina tại Malvinas. Tuy nhiên cho tới nay, Buênốt Airết vẫn chưa sử dụng những quân bài mạnh mẽ hơn như trục xuất đại sứ Anh (như chính Áchentina đã từng làm với Đại sứ Ônđurát hay Bôlivia áp dụng với Đại sứ Mỹ, khi mà trong cả hai trường hợp đều không có xung đột vũ trang song phương nào), hoặc có thể xem xét lại hoặc hủy bỏ Hiệp ước Mađrít
[3] và thỏa thuận về bảo hộ đầu tư ký với Luân Đôn, hoặc không thừa nhận Hiệp ước Lixbon, ít nhất là phần nói về các lãnh thổ hải ngoại của các quốc gia thành viên tổ chức này (văn bản đã công nhận Malvinas là lãnh thổ của Anh).


Trong khi đó, có thể nhận thấy một phần của chiến lược ngoại giao của Anh trong vấn đề này là cố gắng giành giật thời gian, nhằm có thể tiến hành thêm nhiều hoạt động cụ thể để củng cố chủ quyền thực tế tại quần đảo đang tranh chấp này: ngày 15/2 vừa qua, một giàn khoan thăm dò dầu khí của công ty Ocean Guardian đã được đưa tới Malvinas và hiện đã bắt đầu hoạt động tại vùng biển quanh quần đảo, và theo dự báo nhiều giàn khoan tương tự cũng sẽ được chuyển tới trong thời gian tới. Mặt khác, bên cạnh Đại sứ quán, Anh có một lực lượng tình báo hoạt động mạnh mẽ tại Áchentina, với mức độ thâm nhập rất đáng kể vào bộ máy nhà nước, thậm chí ngay cả vào cơ quan phản gián của quốc gia Nam Mỹ này. Ảnh hưởng của các điệp viên này trong các vấn đề nội bộ của Áchentina có liên quan tới quyền lợi của Anh là rất lớn, kể cả công khai lẫn bí mật.


Trên mặt trận thứ hai, quân sự – nơi Anh sở hữu sức mạnh của một quốc gia công nghiệp hóa cùng sự hậu thuẫn của Mỹ và các đồng minh NATO khác, Áchentina đã loại bỏ mọi phương án sử dụng vũ lực. Nhưng nếu xét tới luận điểm rằng một phần của chiến tranh chính trị là chiến tranh tâm lý, và rằng hệ thống kinh tế – tài chính thế giới hoạt động dựa trên sự tin tưởng của các nhà đầu tư thể hiện qua các công cụ tài chính khả tín, thì không thể loại bỏ các hành động quân sự phi vũ trang. Từ khía cạnh này, có thể thấy, một trong những lựa chọn mà Áchentina có thể áp dụng trước mức độ quân sự hóa cao mang tính răn đe của Anh tại Malvinas là đáp trả bằng chính hình thức răn đe quân sự. Ưu thế quân sự về chiến tranh chính quy không phải luôn đảm bảo một chiến thắng cho các cường quốc, với các ví dụ điển hình tại Trung Đông và vùng Sừng châu Phi. Và như vậy, một lựa chọn theo hướng răn đe của Áchentina sẽ khiến Anh phải tăng chi phí quân sự thường xuyên tại Malvinas, điều sẽ làm giảm bớt nhiệt tình của các công ty dầu khí trong việc khoan thăm dò tại vùng biển đang có tranh chấp. Để thực thi biện pháp này, và khi vẫn tiếp tục với hệ thống hoạch định chính sách không dựa trên giả thuyết xung đột, Buênốt Airết có thể tăng số lượng các điểm chiến lược trong mạng lưới hệ thống bệ phóng cơ động có mang tên lửa tầm trung và mạng lưới tên lửa tầm xa, cùng với việc nâng cấp mạng lưới rađa, đặc biệt thiết lập thêm các điểm phòng thủ trong phần lãnh thổ đất liền tại 50 độ vĩ nam và tại tỉnh Tierra del Fuego (tỉnh cực Nam của Áchentina, chỉ cách Malvinas 600km và theo luật pháp Áchentina, là đơn vị hành chính quản lý quần đảo trên).


Tuy nhiên, trên thực tế, khả năng răn đe này rất khó xảy ra, khi mà học thuyết quân sự hiện tại của Áchentina hoàn toàn mang tính phòng thủ, loại bỏ mọi khả năng tấn công hay răn đe, điều có lợi tới mức khó tin cho người Anh. Đối với Bộ Quốc phòng Áchentina, quốc gia này không có giả thuyết xung đột và không có kẻ thù trong hay ngoài khu vực. Áchentina đã chấp nhận một thái độ hoàn toàn mang tính phòng ngự, và chỉ đáp trả khi bị một nước khác tấn công bằng quân sự. Học thuyết này cũng cho rằng tài nguyên thiên nhiên thuộc phạm vi bảo vệ quốc gia (trách nhiệm của các lực lượng cảnh sát), chứ không thuộc phạm vi phòng thủ quốc gia, và do đó những mối đe dọa cụ thể đối với các mục tiêu này sẽ không bị đáp trả bằng hành động quân sự. Nói cách khác, khi các nhân tố nước ngoài chiếm hữu tài nguyên thiên nhiên và năng lượng của Áchentina một cách hòa bình thì các nhân tố đó vẫn không bị nhìn nhận như kẻ thù từ bên ngoài.


Còn tại mặt trận thứ 3, kinh tế - tài chính, sức ép mà Chính phủ Áchentina tạo ra tới nay chủ yếu là nhằm gây khó khăn cho quá trình khai thác dầu khí của Anh tại Malvinas. Sắc lệnh mới đây của Tổng thống Cristina Fernández cũng nhằm vào mục tiêu này, khi đặt điều kiện cho các tàu đi tới quần đảo đang tranh chấp này; văn bản này cũng ngăn ngừa mọi hoạt động kinh doanh của các đơn vị dân sự Áchentina tại Malvinas. Nhưng một mặt Anh không công nhận tính hợp pháp của biện pháp này, mặt khác Áchentina cũng khó có thể thực hiện có hiệu quả sắc lệnh trên và ngăn ngừa được tình trạng buôn lậu dầu khí tại vùng biển này. Phương pháp này trên thực tế còn xa mới có thể gọi là một cuộc chiến kinh tế, nếu xét tới tầm vóc của những lợi ích được đặt vào trong cuộc chơi. Trên lý thuyết, Buênốt Airết có thể làm tăng phí tổn của Anh tại quần đảo này và thắt chặt nguồn cung cấp hàng hóa cho cư dân trên đảo bằng cách tác động tới Urugoay và Chilê, những bạn hàng chủ yếu của Malvinas (mặc dù điều này đối với Chilê hiện trở nên khó khăn hơn với việc tổng thống hữu khuynh Sebastián Piñera lên nắm quyền và ông này từng tuyên bố sẽ đàm phán các thỏa thuận dầu khí với người Anh tại Malvinas). Ngoài ra nhà cầm quyền Áchentina cũng cần phải đàm phán với chính phủ kế nhiệm tại Braxin để nước này cũng dừng các hoạt động kinh doanh với Malvinas, ít nhất là trong các lĩnh vực liên quan tới dầu khí (Braxin chính là nơi Anh hoàn thiện giàn khoan thăm dò vừa được gửi tới Malvinas). Một yếu tố cần nhắc lại trong cuộc chiến kinh tế là bất chấp khoảng cách địa lý xa xôi với Anh, cộng đồng cư dân Malvinas – tổng cộng khoảng 3000 người và mật độ dân cư chưa tới 1người/km2 – có đủ khả năng tự túc tài chính phần nhiều nhờ vào hoạt động chăn nuôi cừu, du lịch và từ năm 1986, với nguồn lợi nhuận lớn từ đánh bắt hải sản – khi Anh đơn phương mở rộng Khu đặc quyền kinh tế từ bán kính 12 hải lý lên 200 hải lý quanh quần đảo, lấn chiếm cả phần hải phận chưa từng bị tranh chấp cho tới thời điểm đó và tự cho quyền cấp phép đánh bắt cá ngay trong Vùng lãnh hải Áchentina. Với những diễn biến này, thu nhập bình quân đầu người trong những năm qua của người dân trên đảo tăng vọt, lên một trong những mức cao nhất tại Nam Mỹ, và gấp 3 lần chỉ số của Áchentina.


Khoản nợ nước ngoài khổng lồ của Áchentina cũng có thể chuyển hóa được thành một công cụ để ra điều kiện và gây áp lực trong cuộc đấu với các chủ nợ. Rõ ràng, khoản nợ này không chỉ đơn thuần là tập hợp của những số 0, mà là một nhân tố cân bằng trong hệ thống luân chuyển vốn toàn cầu, với các điểm nút là các trung tâm tài chính lớn của phương Tây, trong đó có Luân Đôn. Việc ngừng trả nợ cho tới khi xác định rõ ràng các chủ nợ thực tế và tiến hành một cuộc tổng kiểm toán để tìm ra những yếu tố gian lận (dựa trên những những yếu tố mà cơ quan tư pháp có thể kiểm tra) như Êcuađo và Braxin từng làm, hay vận động một cuộc trưng cầu ý dân như tại Aixơlen – nơi đại đa số dân chúng đã phản đối việc trả nợ cho các nhà đầu tư Anh và Hà Lan, là một vài trong số những giải pháp khả thi nhằm gây sức ép trên lĩnh vực kinh tế để có thể tạo ra những kết quả có lợi cho Áchentina trên một đấu trường khác. Thế nhưng một lần nữa, có thể thấy Buênốt Airết không hề có ý chí chính trị để dẫn dắt sự việc đi theo chiều hướng này, khi Tổng thống Fernández liên tục khẳng định sẽ hoàn trả đầy đủ các khoản nợ nước ngoài, củng cố lòng tin cho các thế lực chủ nợ, còn đa số phe đối lập trong quốc hội thì chỉ giới hạn tranh cãi của mình xem sẽ lấy nguồn quỹ nào để trang trải những ràng buộc tài chính này.
Đối với Chính phủ Áchentina, cũng như đa số phe đối lập, việc bình thường hóa tình trạng nợ nước ngoài là ưu tiên được đặt trên cả chính sách đối ngoại, vì họ coi đây là một trong các nền móng đảm bảo khả năng và tương lai cầm quyền của mình. Sự ổn định ở mức cao của giá cả các mặt hàng nguyên liệu trên thị trường thế giới cùng dự trữ ngoại tệ ngày càng dồi dào của ngân hàng trung ương của các nước mới nổi (trong trường hợp này bao gồm cả Áchentina) làm cho các trái phiếu nợ bằng đồng nội tệ trở nên cao giá trên thị trường chứng khoán và trở thành cơ hội kinh doanh béo bở cho các quỹ đầu tư tài chính quốc tế, cũng như các ngân hàng trung gian nước ngoài. Yếu tố này giúp cân bằng lại đáng kể những nguồn vốn khổng lồ mà các công ty xuyên quốc gia chuyển về nước xuất xứ của mình (nói cách khác là đánh tháo). Để bình thường hóa các mối quan hệ tài chính quốc tế của mình, Chính phủ Áchentina đã chỉ định 3 ngân hàng lớn của 3 trung tâm tài chính quan trọng đảm nhiệm các giao dịch trả nợ nước ngoài của mình gồm Citibank (Mỹ), Barclays (Anh) và Deutsche (EU), và một điểm đáng chú ý là Citibank và Barclays lại là những ngân hàng ràng buộc chặt chẽ với các tập đoàn khai khoáng trên thế giới (Barclays chính là cổ đông chính của Desire Petroleum, công ty đang tiến hành khoan thăm dò tại Malvinas).


Trong một cuộc chiến kinh tế chống lại một nhà nước tư bản khác, một trong những “vũ khí” có thể sử dụng chính là đánh vào vốn đầu tư, và theo nghĩa đó, Buênốt Airết có thể gây áp lực bằng cách tác động vào những quyền lợi của Anh tại Áchentina. Ví dụ, Buênốt Airết có thể áp dụng các hình phạt nặng, bao gồm cả khả năng sung công các công ty Anh hoạt động trong lãnh thổ Áchentina và thậm chí cả các công ty nước ngoài và bản địa khác có liên quan tới các hoạt động khai thác dầu khí của Anh tại Malvinas (trên thực tế đã có Nghị quyết 407/07 đi theo chiều hướng này nhưng không được tuân thủ).
Tuy nhiên, sau khi nhiều chính phủ liên tiếp theo đuổi chính sách tự do mới, giờ đây nền kinh tế Áchentina có tỷ lệ ngoại quốc hóa cao một cách bất thường. Các tập đoàn khai khoáng nước ngoài đang kiểm soát phần lớn hoạt động khai thác tài nguyên cấp tỉnh (bang) của Áchentina, và các ngân hàng cung cấp vốn cho các tập đoàn này đồng thời cũng là các cổ đông của các công ty dầu khí mà Anh cấp phép khai thác tại Malvinas. Vì vậy khó có khả năng chính phủ Áchentina sẽ áp dụng các biện pháp ảnh hưởng tới lợi ích của các công ty này mà sẽ chỉ hạn chế ở mức “khiếu nại” các tập đoàn vừa có chi nhánh tại Áchentina, vừa có chi nhánh tại Malvinas.


Nói tóm lại, với ý thức hệ và khung giá trị, cùng mức độ ràng buộc quyền lợi của các thế hệ lãnh đạo Áchentina vừa qua, sẽ rất khó để quốc gia Nam Mỹ này khôi phục được chủ quyền thực tế tại vùng lãnh hải tuyên bố của mình mà không phải trả một cái giá đắt hơn những gì mình giành được. Trong những điều kiện ấy, không khó hiểu khi những áp lực trong các mặt ngoại giao, quân sự và kinh tế của Buênốt Airết không những là chưa đủ, mà quan trọng hơn, là chỉ luôn chạy theo sự kiện, như lời của Thứ trưởng Ngoại giao Taccetti: “Chúng ta cần phải làm quen với việc suy nghĩ cho dài hạn. Mục tiêu đầu tiên của chính phủ Áchentina là ngồi vào bàn đàm phán với Anh để thương lượng về chủ quyền của các hòn đào (thuộc Malvinas) cùng những vùng biển bao quanh. Cho tới nay chúng tôi vẫn chưa đạt được điều này nhưng chúng tôi cho rằng sẽ đạt được mục tiêu ấy vào một thời điểm nào đó…”. Nhưng thời điểm đó bao giờ sẽ tới?





[1] Nam Đại Dương: vùng biển bao quanh Nam Cực với giới hạn là 60 độ vĩ nam, là đại dương rộng thứ 4 thế giới, nhưng tới năm 2000 mới được Tổ chức Thủy văn quốc tế (IHO) chấp thuận. Tuy nhiên hiện tại nhiều quốc gia vẫn chưa chấp nhận khái niệm này và tiếp tục coi đây là phần kéo dài của Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Bắc Băng Dương.

[2] Hiệp ước Nam Cực: do đại diện của 12 quốc gia ký năm 1959 bao gồm Áchentina, Anh, Bỉ, Chilê, Liên Xô (cũ), Mỹ, Na Uy, Nam Phi, Nhật Bản, Niu Dilân, Pháp và Ôxtrâylia. Có hiệu lực từ năm 1961 và sau đó có thêm 35 nước tham gia.

[3] Hiệp ước Mađrít: ký tại Mađrít tháng 2/1990 giữa Áchentina và Anh nhằm tái thiết lập quan hệ ngoại giao, bị cắt đứt từ Chiến tranh Malvinas 1982, trong đó phần nói về quần đảo Malvinas sau này được Buênốt Airết và Luân Đôn hiểu theo hai cách khác nhau

 



Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Ba vấn đề Mỹ đối mặt khi tập hợp liên minh chống Trung Quốc

Ba vấn đề Mỹ đối mặt khi tập hợp liên minh chống Trung Quốc

Hiện là thời điểm khó khăn đối với các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương khi họ bị cuốn vào cuộc cạnh tranh ngày càng gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc. Một đồng minh lâu năm của Mỹ là Philippines đang thay đổi cách tiếp cận với Washington và Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn Trung Quốc-Malaysia và tác động đối với Biển Đông

Cơ chế tham vấn Trung Quốc-Malaysia và tác động đối với Biển Đông

Tuyên bố gần đây về cơ chế tham vấn song phương giữa Trung Quốc và Malaysia về vẫn đề biển đã làm dấy lên những nghi ngại liên quan vấn đề Biển Đông mà hai bên có yêu sách lấn.

Đọc tiếp...

Khai thác chung với Trung Quốc ở Biển Đông - Hiểm họa và lợi ích

Khai thác chung với Trung Quốc ở Biển Đông - Hiểm họa và lợi ích

Tiến triển nào trong hoạt động hợp tác ở vùng biển tranh chấp chỉ diễn ra nếu Trung Quốc chấp nhận thỏa hiệp với các quốc gia yêu sách khác bằng cách công nhận phán quyết ngày 12/7/2016 dựa trên công ước UNCLOS khi Philippines là bên thắng kiện.

Đọc tiếp...

Viễn cảnh "ác mộng" trên Biển Đông từ quan điểm của Nhật Bản

Viễn cảnh

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe lo ngại rằng Biển Đông có thể trở thành một "ao nhà của Bắc Kinh",... một vùng biển đủ sâu để Hải quân của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) có thể triển khai các tàu ngầm tấn công hạt nhân, có khả năng phóng các tên lửa mang đầu đạn hạt nhân.

Đọc tiếp...

Trung Quốc sẽ làm gì với các đảo đá trên Biển Đông?

Trung Quốc sẽ làm gì với các đảo đá trên Biển Đông?

Trung Quốc sẽ tiếp tục thâu tóm các thực thể ở Biển Đông và sẽ sử dụng các căn cứ này để phô trương sức mạnh và thực hiện hành vi đe dọa. Liệu Trung Quốc có thực sự bảo vệ các thực thể cũng như có kế hoạch gì sắp tới?

Đọc tiếp...

Châu Âu “quyết tâm can dự” vào châu Á-Thái Bình Dương và Biển Đông?

Châu Âu “quyết tâm can dự” vào châu Á-Thái Bình Dương và Biển Đông?

Theo giới phân tích, các nước lớn ở châu Âu đang tìm cách tăng cường sự hiện diện của họ ở châu Á-Thái Bình Dương bằng các chiến dịch tự do hàng hải trong bối cảnh lo ngại căng thẳng gia tăng ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và Philippines nhận được gì khi cùng khai thác tài nguyên?

Trung Quốc và Philippines nhận được gì khi cùng khai thác tài nguyên?

Với thoả thuận khai thác dầu và khí chung, Trung Quốc được chia lợi nhuận và có chỗ đứng ở Bãi Cỏ Rong trong khi công nhận chủ quyền của Philippines.

Đọc tiếp...

Những "giới hạn đỏ" ở Biển Đông

 Những

Trong bối cảnh cuộc chiến thương mại vẫn rất căng thẳng, quân đội Mỹ và Trung Quốc gần đây liên tục có các hành động "ăn miếng trả miếng" tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Cuộc gặp Tập Cận Bình-Duterte: Màn phô diễn về Biển Đông?

Cuộc gặp Tập Cận Bình-Duterte: Màn phô diễn về Biển Đông?

Chuyến công du Bắc Kinh lần thứ 5 của ông Duterte ít nhất lẽ ra phải là thời điểm thể hiện sự dũng cảm của Philippines - và tạo ra một sự thay đổi đối với trục chính sách đối ngoại hướng tới Trung Quốc của ông, khi tất cả những năm tháng cúi đầu phục tùng trước đây lẽ ra phải giúp Philippines có được một vị thế tốt hơn trên bàn đàm phán.

Đọc tiếp...

Trung Quốc tìm cách mở rộng EEZ trên Biển Hoa Đông

Trung Quốc tìm cách mở rộng EEZ trên Biển Hoa Đông

Trong khi Trung Quốc và Nhật Bản tranh cãi về phân định biển, các tàu nghiên cứu Trung Quốc hoạt động trên thực địa để củng cố yêu sách của Bắc Kinh ở Biển Hoa Đông.

Đọc tiếp...

Cuộc tập trận Mỹ-ASEAN dưới góc nhìn của giới phân tích

Cuộc tập trận Mỹ-ASEAN dưới góc nhìn của giới phân tích

Việc Mỹ và các quốc gia thành viên ASEAN lần đầu tiên tập trận hàng hải chung có hàm ý và tác động như thế nào trong bối cảnh căng thẳng trên biển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương gia tăng hiện nay?

Đọc tiếp...

Doanh nghiệp Trung Quốc củng cố vai trò trên Biển Đông?

Doanh nghiệp Trung Quốc củng cố vai trò trên Biển Đông?

Theo một nghiên cứu mới đăng trên ISEAS, các doanh nghiệp (SOE) của Bắc Kinh đang đóng vai trò ngày một lớn trong hoạt động xây dựng trên Biển Đông và tìm cách củng cố vị thế vững chắc trong những năm sắp tới. Nghiên cứu trên đã cho thấy Bắc Kinh đang khuyến khích các doanh nghiệp này hoạt động tại đây.

Đọc tiếp...

Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tại Đối thoại Shangri La 2018

Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tại Đối thoại Shangri La 2018

Đối thoại Shangri La thường niên lần thứ 17 ở Singapore năm nay đã không gây thất vọng với số lượng Bộ trưởng Quốc phòng và các quan chức cấp cao tham dự đạt mức kỷ lục. Trong đó, nội dung địa chiến lược của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nổi lên là chủ đề trọng tâm của hội nghị này.

Đọc tiếp...

Philippines có thể cùng khai thác với Trung Quốc ở Biển Đông?

Philippines có thể cùng khai thác với Trung Quốc ở Biển Đông?

Chuyên gia Batongbacal cho rằng bài báo năm 1999 mà Ngoại trưởng Cayetano đề cập không hề phản ánh tình hình ở Philippines và Trung Quốc sau khi Tòa Trọng tài phán quyết, bởi bài báo này đã được viết cách đây 19 năm.

Đọc tiếp...

Biển Đông vẫn "làm nóng" Đối thoại Shangri-La 2018

Biển Đông vẫn

Hội nghị thượng đỉnh rất được mong chờ giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đã không làm lu mờ Đối thoại Shangri-La. Tranh chấp Biển Đông đã trở thành vấn đề nóng và được đề cập đến trong nhiều phát biểu của các Bộ trưởng và tại các phiên thảo luận.

Đọc tiếp...

Tác động của không gian Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đối với ASEAN

Tác động của không gian Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đối với ASEAN

Mặc dù Tổng thống Mỹ đã nhiều lần ám chỉ đến khái niệm không gian Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong các bài phát biểu cuối năm 2017, và khái niệm này có liên quan đến Chiến lược An ninh Quốc gia và Chiến lược Quốc phòng, nhưng “Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và cởi mở” cũng chỉ được các nước trong khu vực đón nhận với sự dè dặt.

Đọc tiếp...

Triển vọng cho hòa bình ở Biển Đông

Triển vọng cho hòa bình ở Biển Đông

Mặc dù Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông sẽ mất nhiều thời gian để hiện thực hóa, song các bên cũng cần phải suy nghĩ nghiêm túc về triển vọng của Bộ Quy tắc về việc Chạm trán Bất ngờ trên biển dành cho các lực lượng hàng không và dưới mặt biển.

Đọc tiếp...

Giới phân tích: Mỹ cần ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông

Giới phân tích: Mỹ cần ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông

Do vấn đề Triều Tiên đang phủ sóng các báo xuất bản ngoài châu Á, những diễn biến quan trọng liên quan đến tình hình Biển Đông - nguyên nhân chính gây căng thẳng ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trước khi Triều Tiên bắt đầu thử tên lửa tầm xa và vũ khí hạt nhân - đã không được chú ý một cách đầy đủ.

Đọc tiếp...

Kế hoạch thăm dò hợp tác dầu khí giữa Trung Quốc và Philippines đối mặt nhiều thách thức

Kế hoạch thăm dò hợp tác dầu khí giữa Trung Quốc và Philippines đối mặt nhiều thách thức

Trong bối cảnh mối quan hệ giữa hai nước đang phát triển, Trung Quốc và Philippines mới đây đã củng cố thêm bằng một thỏa thuận chia sẻ tài nguyên tại Biển Đông. Chủ đề này được ông Tập và Tổng thống Duterte thảo luận tại cuộc gặp song phương, bên lề Diễn đàn Bác Ngao.

Đọc tiếp...

Malaysia có nên đổi tên một phần Biển Đông?

Malaysia có nên đổi tên một phần Biển Đông?

Quan điểm trước đây của Malaysia về vấn đề Biển Đông dưới thời chính quyền của Thủ tướng Najib Razak có thể được tóm gọn tốt nhất bằng cụm từ là cách tiếp cận “chắc ăn” nhằm bảo vệ những lợi ích của Malaysia vừa duy trì mối quan hệ với Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Thách thức vẫn chờ COC

Thách thức vẫn chờ COC

ASEAN cần phải giải quyết các vấn đề cấp bách và phức tạp như định nghĩa về quân sự hóa, liệu COC có cần tính ràng buộc và phạm vi địa lý áp dụng trước khi tiến tới đồng thuận về những nguyên tắc làm giảm tranh chấp biển ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Phức tạp trong cách hành xử của Philippines đối với Trung Quốc

Phức tạp trong cách hành xử của Philippines đối với Trung Quốc

Sự chuyển hướng mạnh mẽ khỏi quan điểm truyền thống vốn thường dựa vào đồng minh hiệp ước là Mỹ của Manila đã khiến dư luận trong nước và khu vực không khỏi choáng váng, nhất là trong bối cảnh tham vọng về chủ nghĩa mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc ngày càng lộ rõ.

Đọc tiếp...

Trung Quốc muốn đối đầu với Mỹ tại Biển Đông?

Trung Quốc muốn đối đầu với Mỹ tại Biển Đông?

Ngày 17/1, tàu khu trục USS Hopper đã tiến vào vùng biển trong phạm vi 12 hải lý của Bãi cạn Scarborough. Giới chức Trung Quốc hoàn toàn có thể phớt lờ hoạt động của tàu USS Hopper, song phản ứng gay gắt của họ có thể là dấu hiệu cho thấy cường quốc này đã sẵn sàng đối đầu trực diện với Mỹ.

Đọc tiếp...

Trump "bận bịu" với Triều Tiên, Trung Quốc tiến vào Tây Thái Bình Dương

Trump

Gần đây, Trung Quốc đã tăng tốc các hoạt động không quân và hải quân ở những khu vực nhạy cảm gần Nhật Bản và Đài Loan. Đây là một phần trong công cuộc viễn chinh của nước này nhằm mở rộng sự hiện diện quân sự ra Thái Bình Dương.

Đọc tiếp...

Úc muốn “hồi sinh” phán quyết Tòa Trọng tài ở Biển Đông

Úc muốn “hồi sinh” phán quyết Tòa Trọng tài ở Biển Đông

Ngày 10/1, Úc tuyên bố nước này sẽ không ủng hộ các hành động của bất kỳ quốc gia nào đi ngược lại phán quyết của Tòa trọng tài thường trực (PCA) về vấn đề Biển Đông, trong đó có hoạt động quân sự hóa, đồng thời khuyến khích cả Trung Quốc lẫn Philippines thực thi quyết định này.

Đọc tiếp...

Lý do Úc lo ngại trước các hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông

Lý do Úc lo ngại trước các hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông

Biển Đông cách Canberra hơn 6.000 km song những hoạt động của Trung Quốc tại vùng biển tranh chấp này đang khiến giới chức ngoại giao và quốc phòng Úc không khỏi lo ngại ở hai khía cạnh “tự do hàng hải” và “trật tự quốc tế dựa trên luật pháp”.

Đọc tiếp...

Tình hình Biển Đông: Khoảng lặng trước cơn bão

Tình hình Biển Đông: Khoảng lặng trước cơn bão

Nhiều bức ảnh chụp từ vệ tinh gần đây cho thấy Trung Quốc đang âm thầm tiếp tục các hoạt động xây dựng và cải tạo trên Biển Đông, và nhiều khả năng sẽ sớm có những biện pháp khẳng định chủ quyền mạnh mẽ hơn.

Đọc tiếp...

Tại sao Trung Quốc duy trì biên giới “mập mờ” trên Biển Đông?

Tại sao Trung Quốc duy trì biên giới “mập mờ” trên Biển Đông?

Theo một bản đồ Trung Quốc gửi lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa năm 2009, “đường 9 đoạn” có “độ dày” tới 20km. Trung Quốc đã biểu thị một đường ranh giới đủ rõ ràng để các nước khác phải chú ý nhưng cũng đủ mập mờ để đàm phán về quyền kiểm soát thực sự.

 

Đọc tiếp...

Chính quyền Trump "tăng tốc" chiến dịch tự do hàng hải ở Biển Đông

Chính quyền Trump

Đầu tuần này, Mỹ đã tiến hành chiến dịch FONOP thứ 4 trên Biển Đông trong năm nay, sau khi tái khởi động chiến dịch này vào tháng 5/2017 sau 7 tháng tạm ngừng. Theo hãng tin Reuters, tàu USS Chafee - tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường lớp Arleigh Burke - đã thách thức yêu sách biển quá mức của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Trung Quốc kéo Indonesia vào vũng lầy Biển Đông

Trung Quốc kéo Indonesia vào vũng lầy Biển Đông

Tình hình Biển Đông dường như lại nóng lên sau khi Trung Quốc chỉ trích Indonesia về quyết định đổi tên khu vực đảo Natuna giàu khí đốt tự nhiên của nước này. Điều gì ẩn sau một cái tên như vậy? Có vẻ như nó mang khá nhiều ý nghĩa, đặc biệt đối với những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, khu vực Bắc Kinh ngày càng có xu hướng coi là sân sau.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5469 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin