Cơ chế tham vấn Trung Quốc-Malaysia và tác động đối với Biển Đông

Thứ sáu, 27 Tháng 9 2019 17:18
In

Tuyên bố gần đây về cơ chế tham vấn song phương giữa Trung Quốc và Malaysia về vẫn đề biển đã làm dấy lên những nghi ngại liên quan vấn đề Biển Đông mà hai bên có yêu sách lấn.

 

Tại một cuộc gặp với Ngoại trưởng Malaysia Saifuddin Abdullah, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị tuyên bố “một nền tảng mới cho đối thoại và hợp tác” về những vấn đề biển. Ngoại trưởng Saifuddin khẳng định cơ chế này sẽ do bộ ngoại giao của hai nước dẫn dắt. Malaysia và Trung Quốc có mối quan hệ thương mại bền chặt và năm 2019 đánh dấu 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương.

Tuy nhiên, các nguồn thạo tin về cuộc gặp giữa hai ngoại trưởng khẳng định cơ chế song phương Ngoại trưởng Trung Quốc đề xuất không phải là nền tảng thảo luận về những yêu sách ở Biển Đông. Các nguồn tin này giải thích: “ Malaysia kiên định với lập trường rằng cách duy nhất để giải quyết bất kỳ tranh chấp ở Biển Đông là thông qua Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)”.

Tuần trước, Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad đã công bố một “khuôn khổ hướng dẫn” mới cho chính sách đối ngoại của Malaysia, nhấn mạnh  Chính phủ nước này sẽ kiên định lập trường không liên kết với các cường quốc lớn đồng thời tuyên bố các kế hoạch dẫn dắt quá trình thúc đẩy hợp tác ở thế giới Hồi giáo.

Là một phần của khuôn khổ này, Thủ tướng Mahathir cho rằng không được tiến hành các hoạt động quân sự hóa ở Biển Đông đồng thời cần biến vùng biển này thành một khu vực hòa bình, hữu nghị và hợp tác thương mại.

Khuôn khổ có đoạn: “Về cơ bản, Biển Đông là một vùng biển hợp tác, kết nối, xây dựng cộng đồng và không có xung đột hay đối đầu. Điều này phù hợp với tinh thần của Tuyên bố về khu vực hòa bình, tự do và trung lập của ASEAN (ZOPFAN). Malaysia sẽ tích cực thúc đẩy tầm nhìn này ở ASEAN”.

Tuyên bố ZOPFAN nhằm “giữ khu vực Đông Nam Á không bị ảnh hưởng bởi các cường quốc bên ngoài dưới bất kỳ hình thức can thiệp nào”. Văn kiện này được các nước gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore ký kết năm 1971.

Mỹ, một cường quốc hải quân, thường xuyên thách thức các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với khu vực này bằng việc hường xuyên tiến hành các hoạt động tự do hàng hải ở Biển Đông.

Năm 2016, Philippines đã ký với Trung Quốc cơ chế tham vấn song phương về Biển Đông sau khi Tổng thống Rodrigo Duterte lên nắm quyền. Kể từ đó đến nay, hai nước thường tiến hành các cuộc thảo luận về các thỏa thuận khai thác chung ở Biển Đông, mặc dù không chi tiết cụ thể nào được tiết lộ ra ngoài.

Tuyên bố chủ quyền của Malaysia ở Biển Đông

Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển, Malaysia tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển và đáy biển trong vùng 200 hải lý tính từ đường cơ sở của nước này. Khu vực này bao gồm một thềm lục địa mở rộng mà Việt Nam cũng gửi hồ sơ đăng ký chung với Malaysia lên Liên Hợp Quốc năm 2009.

Tuy nhiên, chuyên gia Greg Poling, Giám đốc Sáng kiến Minh bạch Biển châu Á, cho biết Trung Quốc phản đối hầu hết yêu sách chủ quyền của Malaysia vì thuộc phạm vi cái gọi là “đường 9 đoạn” do Trung Quốc vạch ra.

Malaysia cũng tuyên bố chủ quyền đối với 12 đảo đá, rặng san hô và bãi cạn ở quần đảo Trường Sa, và hiện chiếm đóng 5 thực thể ở đây. Malaysia thiết lập các tiền đồn ở 5 thực thể này và hoạt động tuần tra giám sát do các lực lượng vũ trang Malaysia và Cơ quan Thực thi Biển đảm nhiệm. Trong số 5 thực thể này có Đá Hoa Lau (Swallow Reef) nơi Hải quân Hoàng Gia Malaysia duy trì sự hiện diện đồng thời đã bị biến thành một đảo nhân tạo với một khu nghỉ dưỡng.

Phản ứng của Trung Quốc với các yêu sách của Malaysia

Theo chuyên gia Joseph Liow Chin Yong, thuộc trường nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam của Singapore, phản ứng của Trung Quốc đối với các yêu sách của Malaysia thay đổi trong những năm qua, mặc dù quan điểm chung là phản đối bất cứ mọi yêu sách chủ quyền của nước khác đi ngược lại các yêu sách của Bắc Kinh.

Không giống với Việt Nam và Philippines, phản ứng của Bắc Kinh với Malaysia về vấn đề Biển Đông từ trước đến nay ít biến động hơn. Tuy nhiên, chuyên gia Liow lưu ý: “Tàu thuyền Trung Quốc đang tuần tra hướng về phía Nam Biển Đông  nhiều hơn. Các tàu thuyền này dường như đã xuất hiện ngoài khơi bờ biển phía Đông của Malaysia và thậm chí cả tập đoàn dầu khí quốc gia Malaysia Petronas cũng quan ngại về các hoạt động của tàu thuyền Trung Quốc xuất hiện gần khu vực các cơ sở khai thác dầu của họ ở ngoài khơi”.

Lâu nay, Trung Quốc vẫn giữ quan điểm giải quyết tranh chấp thông qua các kênh song phương giữa Bắc Kinh và từng nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Trong khi đó, ông Ian Storey, chuyên gia nghiên cứu cấp cao tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á Yusof Ishak ở Singapore quan ngại rằng các cuộc thỏa luận về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) chỉ nhằm giảm căng thẳng chứ không giúp giải quyết tranh chấp.

Cơ chế tham vấn song phương giúp giải quyết tranh chấp?

Giới chuyên gia nhận định cơ chế này khó có thể tạo ra bất kỳ bước đột phá nào tiến tới giải quyết tranh chấp Biển Đông, giải thích rằng cơ chế này không đả động gì đến Biển Đông. Tuy nhiên, chuyên gia Storey cho rằng việc thiết lập cơ chế này không chỉ phản ảnh biện pháp xử lý tranh chấp mà Bắc Kinh ưa dùng mà còn giúp củng cố luận điểm rằng “các nước châu Á đang cùng nhau tiến tới giải quyết những vấn đề an ninh châu Á và rằng nỗ lực này không cần sự tham gia của ‘các nước bên ngoài’ như Mỹ”.

Theo giới chuyên gia, các cơ chế tham vấn song phương kiểu này thường liên quan nhiều hơn đến quan điểm và nhận thức như trường hợp cơ chế tham vấn song phương giữa Philippines và Trung Quốc mà chuyên gia Poling cho rằng chưa tỏ rõ “nhiều dấu hiệu tiến triển”. Theo ông Poling, cho đến nay, cơ chế này liên quan nhiều hơn về việc thiết lập tiến triển nhận thức vốn có lợi về mặt chính trị đối với cả hai bên. Điều khác biệt là Trung Quốc giờ ngày càng cứng rắn hơn trong việc thỏa hiệp và nhượng bộ các tuyên bố chủ quyền của họ so với thời điểm mà Tổng thống Duterte lên nắm quyền. Ông Poling lập luận: “Điều này cũng có thể xảy ra tương tự đối với trường hợp của Malaysia trong bối cảnh tàu thuyền của lực lượng hải cảnh Trung Quốc có “hành động đe dọa” các hoạt động khai thác dầu mỏ của Malaysia”.

Trong khi đó, chuyên gia Liow tiếp tục nhận định rằng nếu cơ chế tham vấn song phương kiểu này thực chất không đả động gì đến các vấn đề Biển Đông thì cơ chế tham vấn chỉ là một diễn đàn để hai bên thảo luận.

Theo “SCMP

Nhật Linh (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: