Biển Đông: Vẫn không có bằng chứng trong các yêu sách lịch sử của Trung Quốc

Thứ sáu, 26 Tháng 9 2014 10:03
In

Các lập luận gần đây của học giả Trung Quốc lặp lại một số hiểu lầm thường thấy và không đưa ra được các dẫn chứng thực tế củng cố cho các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.

 

 

Hai học giả đã đáp lại lời kêu gọi của tôi đối với những người ủng hộ các tuyên bố lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông: đó là hãy cung cấp những bằng chứng có thể xác thực ủng hộ cho các lập luận của họ. Tuy nhiên hồi đáp của Tiến sỹ Li Dexia và Tan Keng Tat (http://www.rsis.edu.sg/rsis-publication/rsis/co14165) đã chứng tỏ rằng nhiệm vụ này khó khăn như thế nào. Hai học giả trên không thể chứng minh được Trung Quốc đã có yêu sách đối với bất kỳ đảo cụ thể nào trước 1909, và không một khẳng định nào của họ đưa ra được một bằng chứng xác thực. Một vài trong số các khẳng định đó rõ ràng là không đúng sự thật.

Đâu là bằng chứng cho thấy đã có quan chức cận đại của Trung Quốc đưa ra được một yêu sách đối với bất kỳ một thực thể nào ở Biển Đông? Không có bằng chứng nào cho thấy Trịnh Hòa (Zheng He) hay bất cứ đô đốc hải quân nào thuộc triều đại nhà Minh (Ming Dynasty) đã từng đưa ra một yêu sách như vậy. Điều này cũng tương tự đối với quân đội viễn chinh Mông Cổ một thế kỷ trước. Khoảng 500 năm trước các thủy thủ thường chạy thuyền xung quanh ven bờ biển Đông để tránh sự nguy hiểm của các bãi đá/san hô hoang nằm giữa biển Đông. Nếu như các tác giả trên biết tới những tài liệu hoặc bằng chứng khác chứng minh điều ngược lại thì đây là lúc cần công bố những bằng chứng đó.

Sự mơ hồ vẫn còn đó

Vẫn có những văn bản cổ nhất định của người Trung Quốc nhắc tới “các đảo/quần đảo”, thế nhưng chúng vẫn cực kỳ mơ hồ, không liên quan tới các vùng đất cụ thể và không đưa ra được các bằng chứng về sự khám phá hay tuyên bố chủ quyền. Một vài trong số các văn bản này là các báo cáo thông tin được những người ngoại quốc đến Trung Quốc cung cấp, một số khác đề cập tới các vùng đất bí ẩn gần lối vào của thế giới ngầm và một số khác nữa là những bản sao chép của bản đồ Châu Âu.

Tiến sỹ Li và Tan cũng đưa ra một số các lập luận cụ thể khác. Tôi cần phải đề cập lần lượt theo từng luận điểm.

Các tác giả đã không thuyết phục được cá nhân tôi về tên gọi Xisha (Tây Sa) – để nói tới quần đảo Paracel (Hoàng Sa) – xuất hiện trong các văn bản của Trung Quốc trước khi cái tên “West Sand” (Bãi cát phía Tây) xuất hiện trên các bản đồ của Châu Âu. Tôi đã chấp nhận rằng những người Châu Âu đã lấy các tên gọi địa phương để dùng cho các thực thể nhưng trong trường hợp này, tôi tin rằng điều điều ngược lại đã xảy ra. Tôi cũng rất sẵn sàng để bị chứng minh là mình sai – nhưng chỉ khi có bằng chứng cụ thể.

Sự khẳng định của Trung Quốc cho rằng thỏa thuận năm 1887 giữa Pháp và Trung Quốc ghi nhận việc trao lại Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc rõ ràng không đúng sự thật. Công ước được ký kết tại Bắc Kinh vào ngày 26/6/1887 rõ ràng chỉ liên quan tới khu vực Đông Dương mà thực dân Pháp coi là “Bắc Kỳ” (Tonkin) – vùng cực Bắc mà hiện nay là Việt Nam.

“Quan niệm phổ biến”, không phải là bằng chứng lịch sử

Tôi mong muốn được biết nhiều hơn về “cột mốc đá” (stone marker) ở quần đảo Trường Sa (Paracels) được dựng nên bởi các quan chức Trung Quốc vào năm 1902 và bởi hải quân Trung Quốc được cử tới đảo Duy Mộng (Drummond) năm 1907. Tôi đã tìm hiểu về các sự kiện này và thấy rằng không có một bằng chứng nào chứng thực việc hai sự kiện trên đã diễn ra. Tiến sỹ Li và Tan dựa vào nguồn gốc gì để đưa ra các lời khẳng định trên?

Càng nghiên cứu các tuyên bố của Trung Quốc, tôi càng nhận thấy những lập luận của họ đều dựa trên các khẳng định không căn cứ được lặp đi lặp lại hàng thập kỷ mà không có sự kiểm chứng nghiêm túc nào. Rất nhiều trong số các khẳng định này đã trở thành một phần của “quan niệm phổ biến” quốc tế về Biển Đông. Chúng được đề cập trong các bài viết của Hungdah Chiu và Choon-ho Park, trong bài viết  “Các đảo/quần đảo tranh chấp trên Biển Đông” của tác giả Dieter Heinzig năm 1976, và trong cuốn sách “Tranh chấp Biển Đông” của Marwyn Samuels năm 1982 – những tài liệu mà rất nhiều các học giả sau này đã dựa vào tham khảo.

Nỗ lực của Heinzig and Samuels có thể xem là các nghiên cứu tiên phong, mang lại cái nhìn sâu sắc cho chủ đề này. Nhưng các nghiên cứu của họ lại chủ yếu dựa trên các bài viết được đăng tải trên các báo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc sau khi Trung Quốc chiếm đóng nửa phía Tây quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1/1974.

Một bài được đăng vào tháng Ba 1974 trong ấn phẩm hàng tháng của Nguyệt san Thất thập Niên đại (Ch'i-shi nien-tai yüeh-k'an), và hai bài trong ấn phẩm hàng tháng của tờ Minh Báo (Ming Pao) tháng 5/1974. Các bài báo rõ ràng không phải là các bài viết học thuật trung lập: chúng được viết để bao biện cho cuộc xâm lược.

Các trích dẫn được chọn lọc

Có ít nhất hai ví dụ trong các bài bình luận của mình, hai tác giả Li và Tan đã trích dẫn một cách chọn lọc các tài liệu lịch sử. Ví dụ đầu tiên liên quan tới Công thư của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gửi tới người đồng cấp Trung Quốc vào tháng 9/1958 – đáp lại “Tuyên bố về Vùng Lãnh hải” của Bắc Kinh. Tuyên bố này mở rộng các vùng lãnh hải mà Trung Quốc yêu sách ra phạm vi 12 hải lý. Động thái này nhằm ngăn chặn các tàu của Mỹ can thiệp nhằm hỗ trợ các đồn trú quân sự của Đài Loan trên các đảo Kim Môn (Jinmen) và Mã Tổ (Mazu), mà sau đó đã bị quân đội Trung Quốc nã pháo.

Phần thứ hai của Tuyên bố năm 1958 khẳng định yêu sách của Trung Quốc đối với các thực thể ở Biển Đông. Toàn văn bức Công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho Chu Ân Lai đã không nhắc đến phần thứ hai này dù tán đồng phần đầu. Câu văn đầy đủ là: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận (recognize) và chấp thuận (approve) bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về quyết định liên quan đến lãnh hải của Trung Quốc”. Đúng là Công thư trên không bác bỏ tuyên bố của Trung Quốc một cách dứt khoát, nhưng nó cũng không chấp thuận yêu sách này.

Hai tác giả cũng trích dẫn sai Tuyên bố Cairo ngày 27/11/1943, theo đó: “Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi TẤT CẢ các vùng lãnh thổ khác mà nước này đã chiếm hữu được bằng bạo lực và sự tham lam”. Tuy nhiên, trích dẫn này không phải là cách diễn tả đúng tuyên bố trên.

Câu văn thật sự như sau: “Nhật Bản sẽ bị tước hết tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà nước này đã chiếm hữu hay chiếm đóng từ lúc chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu năm 1914, và rằng tất cả các vùng lãnh thổ mà Nhật Bản đã lấy cắp của Trung Quốc như Mãn Châu (Manchuria), Đài Loan (Formosa) và Bành Hồ (The Pescadores) phải được trao trả cho Trung Hoa Dân Quốc. Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi tất cả các lãnh thổ khác mà nước này đã chiếm hữu được bằng bạo lực và sự tham lam”.

Không có đề cập về bất kỳ thực thể nào tại biển Đông, ngoại trừ Formosa (Đài Loan) và Bành Hồ (The Pescadores), và không có đề cập nào về “sự sở hữu” của các vùng lãnh thổ khác mà Nhật Bản sẽ bị trục xuất.

Cần phân nhỏ thành các yêu sách cụ thể

 Việc tôi khẳng định rằng “Trung Quốc, Việt Nam và Philippines tuyên bố sở hữu các nhóm đảo lớn như thể chúng là các đơn vị độc lập (single units)” là hoàn toàn đúng theo thực tế. Tôi chưa bao giờ nói Philippines yêu sách quần đảo Paracels hay Việt Nam yêu sách là Hoàng Sa (Pratas). Tuy nhiên cả hai nước này, giống như Trung Quốc, đều có yêu sách với các nhóm đảo lớn như thể chúng là một đơn vị độc lập.

Philippines yêu sách một nhóm đảo thuộc quần đảo Trường Sa (Spratlys) mà  Philippines gọi là nhóm đảo Kalayaan và Việt Nam yêu sách quần đảo Paracels với tên là “Hoàng Sa” và quần đảo Spratlys với tên là “Trường Sa”. Các tranh chấp biển Đông sẽ trở nên dễ giải quyết hơn nếu các yêu sách lớn trên được chia nhỏ thành các yêu sách cụ thể đối với các thực thể cụ thể, được củng cố bằng các bằng chứng cụ thể.

Tôi không giương cờ ủng hộ cho các yêu sách của Việt Nam, Philippines, Pháp hay thậm chí của Anh đối với các thực thể trên Biển Đông. Tôi chỉ đơn thuần chỉ ra rằng phía Trung Quốc đã không đưa ra được bằng chứng lịch sử thuyết phục nào cho các khẳng định của chính họ.

Để cải thiện tình trạng này đòi hỏi phải có bằng chứng về các hành động chủ quyền thực tế được thể hiện bởi các đại diện của chính phủ. Luận điểm của tôi là phía Trung Quốc không có hành động chủ quyền thực tế nào trước ngày 6/6/1909 đối với trường hợp quần đảo Hoàng Sa và ngày 12/12/1946 ở quần đảo Trường Sa.

Bill Hayton là tác giả của cuốn “Biển Đông: Cuộc đấu tranh quyền lực tại châu Á", sắp được xuất bản bởi Đại học Yale. Ông cũng là tác giả của cuốn “Việt Nam: Con Rồng đang lên”. Bài viết được đăng trên The Nation.

Hà My (dịch)

Minh Ngọc (Hiệu đính)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: