10 - 4 - 2020 | 6:01
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Tính logic địa chính trị trong cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung

Tính logic địa chính trị trong cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung

Email In PDF.

Địa chính trị bao gồm các vấn đề chính trị, kinh tế và quân sự. Khi so sánh Trung Quốc và Nhật Bản, chúng ta phải chú ý cả ba vấn đề này. Trong trường hợp của Nhật Bản, các cân nhắc quân sự được ưu tiên hơn hai vấn đề kia và hạn chế các hành động của Mỹ. Trong trường hợp của Trung Quốc, cả chính trị và kinh tế đều thúc đẩy Mỹ hành động, trong khi không có sự cân nhắc về quân sự để ngăn chặn Mỹ. Tính lô gíc địa chính trị đã đưa chúng ta đến điểm này. Và Mỹ khó có thể lùi bước nếu Trung Quốc không nhượng bộ. 

  



Kể từ khi Donald Trump nhậm chức năm 2017, Mỹ đã đưa ra một loạt biện pháp nhằm cố gắng giảm mất cân bằng thương mại với Trung Quốc. Nhưng quyết định áp thuế Trung Quốc của Trump đã có từ trước một thập kỷ khi các đàm phán thất bại trong việc thiết lập một mối quan hệ thương mại công bằng hơn giữa hai nước. Chính quyền Obama đã có nhiều cuộc gặp cấp cao với các quan chức Trung Quốc để thảo luận về các rào cản của Trung Quốc đối với các mặt hàng nhập khẩu của Mỹ và thao túng đồng nhân dân tệ. Cho dù đúng hay không, các đời chính quyền Mỹ đều cho rằng Trung Quốc đã được hưởng lợi khi tiếp cận tự do thị trường Mỹ mà không đáp lại thứ gì.

Người Trung Quốc thể hiện muốn thỏa hiệp, nhưng họ không đáp ứng yêu cầu của Mỹ được tiếp cận sâu hơn vào thị trường Trung Quốc. Nền kinh tế Trung Quốc lâu nay phụ thuộc vào xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài, vì thị trường nội địa của chính họ không thể hấp thụ số lượng lớn hàng hóa mà ngành công nghiệp Trung Quốc sản xuất. Nhưng với sự bắt đầu mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính 2008, thị trường trong nước nhìn chung mang lại một ý nghĩa hoàn toàn mới.

Ví dụ Nhật Bản

Có một số điểm tương đồng giữa mối quan hệ thương mại Mỹ-Trung ngày nay và quan hệ thương mại Mỹ-Nhật trong những năm 1980 của thế kỷ trước. Trong suốt những năm 1970 và 1980, sản xuất công nghiệp Nhật Bản đã vượt quá nhu cầu trong nước, và Nhật Bản đã phải đóng cửa phần lớn thị trường của mình để nhập khẩu từ Mỹ. Từ giữa cho đến cuối những năm 1980 là thời điểm căng thẳng cực độ giữa hai nước. Mỹ đã đưa ra các mối đe dọa trả đũa nghiêm trọng, nhưng không thực hiện vì hai lý do. Thứ nhất, Nhật Bản là đồng minh chiến lược của Mỹ. Sự cần thiết phải ngăn chặn Vladivostok – đòi hỏi sự hợp tác của Nhật Bản – còn quan trọng hơn cả việc mất cân bằng thương mại của Mỹ với Nhật Bản. Thứ hai, vào cuối những năm 1980, nền kinh tế Nhật Bản bắt đầu sụp đổ. Cạnh tranh từ các trung tâm sản xuất khác đã buộc Nhật Bản giảm giá xuất khẩu, điều này làm giảm tỷ suất lợi nhuận và làm suy yếu hệ thống ngân hàng vốn là trụ đỡ cho ngành công nghiệp xuất khẩu của Nhật Bản. Các ngân hàng bị thu hẹp và phá sản, có nghĩa các nhà sản xuất Nhật Bản không thể xuất khẩu ở mức tương tự như trước đây.

Nhưng trước khi các ngân hàng sụp đổ, đã có sự cay đắng và tình cảm chống Nhật ở Mỹ về việc mất việc làm cho các nhà sản xuất Nhật Bản. Hôm nay, chúng ta chứng kiến những phản ứng tương tự đối với Trung Quốc. Và Trung Quốc cũng hiện đang phải đối mặt với cạnh tranh mạnh mẽ và hạ giá thành, trong khi cố gắng bước vào các thị trường cạnh tranh khác cao hơn về công nghệ.

Điều đó nói lên rằng, có một sự khác biệt cơ bản giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Nhật Bản là một tài sản chiến lược đối với Mỹ- trong một chừng mực nào đó, đã giúp kiềm chế cọ sát kinh tế. Trong khi đó, Trung Quốc không những không phải là tài sản chiến lược của Mỹ mà thực tế còn bị coi là một mối đe dọa chiến lược. Bắc Kinh vừa là mối đe dọa quân sự và kinh tế sẽ buộc các phản ứng khác nhau từ Washington.

Nhưng Trung Quốc đã làm theo chiến lược của Nhật Bản trong việc đối phó với Mỹ. Họ đã tổ chức nhiều cuộc họp mà kết thúc không có giải pháp nào. Vì dường như không có đòn bẩy nào để buộc Trung Quốc thay đổi chính sách của họ, nhiều chính quyền Mỹ đơn giản là tiếp tục tổ chức các cuộc đàm phán mà dường như cuối cùng chẳng đi đến đâu. Trong các cuộc đàm phán, Trung Quốc được hỗ trợ bởi các khoản đầu tư lớn vào Trung Quốc do các công ty Mỹ thực hiện, điều này đã thúc đẩy Washington duy trì mối quan hệ ổn định với Bắc Kinh. Nhưng trong khi những công ty này được hưởng lợi từ mối quan hệ với Trung Quốc, thì người ta luôn đặt câu hỏi liệu nền kinh tế Mỹ có được hưởng lợi như vậy hay không. Họ đến Trung Quốc để tận dụng giá nhân công rẻ, nhưng để làm vậy, họ phải đóng cửa các nhà máy ở Mỹ và loại bỏ những công nhân Mỹ. Đây chính là điểm mấu chốt vì sự giàu có chỉ được tạo ra khi họ ở Trung Quốc.

Một sự thay đổi

Trong các chính quyền trước đây, việc các doanh nghiệp Mỹ thuê sản xuất bên ngoài đã gây khó khăn cho hành động chống lại Trung Quốc. Nhưng sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, sự dịch chuyển ồ dạt của tầng lớp lao động công nghiệp mạnh mẽ trước đây đã tạo ra một bộ phận dân chúng đông đảo và giận dữ có tác động chính trị lớn giống như các doanh nghiệp Mỹ hoạt động ở Trung Quốc. Việc lựa chọn tiếp tục các cuộc đàm phán không có tác động đến chính sách của Trung Quốc đã dần tan biến.

Và vì vậy, chính quyền Trump đã sử dụng thuế quan để cố gắng buộc Trung Quốc mở cửa thị trường để cạnh tranh với Mỹ. Vấn đề là nền kinh tế Trung Quốc không có khả năng chấp nhận sự cạnh tranh như vậy. Khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành xuất khẩu của Trung Quốc khi suy thoái kinh tế toàn cầu giảm nhu cầu hàng hóa Trung Quốc. Điều này làm tổn thương nền kinh tế rất nhiều, làm mất cân bằng trong một cuộc khủng hoảng vẫn còn ảnh hưởng ở Trung Quốc ngày nay. Giải pháp chính của Trung Quốc cho vấn đề này là tăng tiêu dùng nội địa– một nhiệm vụ tỏ ra khó khăn bởi sự phân phối của cải ở Trung Quốc, các thị trường tài chính không thể tăng mạnh tín dụng tiêu dùng và việc xác định ngành công nghiệp Trung Quốc nhắm mục tiêu người tiêu dùng nước ngoài, thay vì trong nước. Việc bán iPads cho người nông dân Trung Quốc là điều không dễ dàng.

Cho phép Mỹ tiếp cận thị trường Trung Quốc sẽ là nỗi đau nếu không muốn nói là thảm họa. Thị trường nội địa Trung Quốc là bến đỗ duy nhất mà Trung Quốc có và nhu cầu của Mỹ tiếp cận sâu hơn là không thể đáp ứng. Trung Quốc đã trả đũa thuế quan của Mỹ nhưng rất yếu. Xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ chiếm 4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), trong khi xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc chỉ chiếm 0,5% GDP. Trung Quốc có thể gây thiệt hại cho Mỹ ít hơn là Mỹ gây thiệt hại cho Trung Quốc. Nhiều người chỉ trích đòn thuế của chính quyền Trump đối với Trung Quốc gây thiệt hại cho các nông trang và các nhà máy của Mỹ. Những chỉ trích này là hợp lý, nhưng nó không vẽ lên bức tranh đầy đủ.

Trung Quốc phản ứng bằng cách hạ thấp giá trị của đồng nhân dân tệ, do đó làm cho hàng xuất khẩu của họ rẻ hơn. Chiến lược này sẽ có hiệu quả trong ngắn hạn, nhưng vì nó làm tăng giá các mặt hàng như dầu mỏ, thì đây không phải là giải pháp dài hạn. Nó cũng chứng minh quan điểm của những người cho rằng Trung Quốc thao túng tiền tệ để củng cố vị thế là nhà xuất khẩu hàng đầu. Điều quan trọng cần nhớ rằng đây không phải là một lời buộc tội mới; chính quyền Obama đã rất tức giận về vấn đề này nhưng không trả đũa. Chính quyền Trung cũng đã nhiều lần lặp lại cáo buộc này và, đầu tháng 8, đã chính thức gán mác cho Trung Quốc là nước thao túng tiền tệ.

Nhưng Trump gần đây đe dọa sẽ có hành động nghiêm khắc hơn: buộc các công ty Mỹ ở Trung Quốc rời đi hoặc trở về Mỹ. Nếu Mỹ quyết tâm thực hiện thì nó sẽ gặp một số vấn đề pháp lý và sẽ bị thách thức bởi các tòa án trong thời gian dài. Một động thái như vậy sẽ là một mối đe dọa lớn đối với các doanh nghiệp Mỹ, có thể còn hơn cả chính Trung Quốc. Về mặt chính trị, động thái này củng cố quan điểm của Trump trong số những người Mỹ đổ lỗi cho việc Trung Quốc lấy đi việc làm của họ. Và với một cuộc bầu cử đang đến gần, chiến lược đe dọa chính trị của Trump là rõ ràng. Nhưng đó cũng là áp lực mà Mỹ đang đặt lên Trung Quốc. Các công ty công nghệ cao nước ngoài hoạt động ở Trung Quốc là nguồn chính để Trung Quốc tiếp cận các công nghệ mới.

Địa chính trị bao gồm các vấn đề chính trị, kinh tế và quân sự. Khi so sánh Trung Quốc và Nhật Bản, chúng ta phải chú ý cả ba vấn đề này. Trong trường hợp của Nhật Bản, các cân nhắc quân sự được ưu tiên hơn hai vấn đề kia và hạn chế các hành động của Mỹ. Trong trường hợp của Trung Quốc, cả chính trị và kinh tế đều thúc đẩy Mỹ hành động, trong khi không có sự cân nhắc về quân sự để ngăn chặn Mỹ. Nếu Trung Quốc quyết định phản đối quân sự, tốt hơn họ nên làm điều này bây giờ khi họ vẫn còn yếu, thay vì sau này khi họ mạnh hơn. Tính lô gíc địa chính trị đã đưa chúng ta đến điểm này. Và Mỹ khó có thể lùi bước nếu Trung Quốc không nhượng bộ.

George Friedman là một nhà dự báo và chiến lược gia địa chính trị được quốc tế công nhận về các vấn đề quốc tế và là người sáng lập và chủ tịch của Geopolitical Futures. Bài viết được đăng trên Geopolitical Futures.

Bùi Kiên (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Dịch COVID-19 tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Dịch COVID-19 tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Trung Quốc đã cố gắng giải quyết một cách thận trọng mối quan hệ với Mỹ, đồng thời triển khai sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng gia tăng trên toàn thế giới. Dịch COVID-19 đã làm trầm trọng thêm căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ và đặt ra những câu hỏi về vai trò lãnh đạo toàn cầu của Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Hy vọng và lo sợ của Đông Nam Á

Trung Quốc-Hy vọng và lo sợ của Đông Nam Á

Trung Quốc được nhìn nhận là nước có ảnh hưởng lớn nhất về kinh tế tại khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, niềm tin của khu vực vào Trung Quốc đã suy giảm trong một vài năm qua dựa trên thái độ của quốc gia này đối với các vấn đề lợi ích chung.

Đọc tiếp...

Tiềm năng quan hệ Mỹ-ASEAN

Tiềm năng quan hệ Mỹ-ASEAN

Cuộc thăm dò dư luận gần đây nhất của ISEAS cho thấy Trung Quốc đang nhanh chóng giành được ưu thế kinh tế và chiến lược ở Đông Nam Á so với Mỹ. Do đó, để lấy lại lợi thế của mình tại khu vực này, Mỹ phải xác định lại các điều khoản cạnh tranh.

Đọc tiếp...

Hậu quả của việc Mỹ mất VFA với Philippines

Hậu quả của việc Mỹ mất VFA với Philippines

Việc chấm dứt Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng (VFA) với Philippines sẽ khiến Mỹ dễ bị tổn thương hơn nữa trước các chính sách chính trị và đối ngoại trong nước của các đồng minh hiệp ước khác.  

Đọc tiếp...

Thế giới không chỉ xoay quanh Mỹ và Trung Quốc

Thế giới không chỉ xoay quanh Mỹ và Trung Quốc

Từ lâu, “phạm vi ảnh hưởng” đã trở thành một khái niệm được coi trọng trong việc quản lý sự phức tạp của quan hệ nước lớn. Việc thiết lập phạm vi ảnh hưởng cần đến sự hiểu biết chung không chỉ giữa các nước lớn, mà cả giữa những nước đã nằm trong phạm vi ảnh hưởng của họ.

Đọc tiếp...

Cách Duterte biến Philippines thành quân cờ của Trung Quốc

Cách Duterte biến Philippines thành quân cờ của Trung Quốc

Để giành được những đồng đôla phát triển đất nước, Rodrigo Duterte đã gây tổn hại đến an ninh quốc gia của Philippines. Quyết định chính sách đối ngoại lớn đầu tiên của Duterte là bác bỏ chiến thắng mang tính lịch sử của Philippines trước Trung Quốc trong vụ kiện liên quan đến tranh chấp chủ quyền trên biển.

Đọc tiếp...

Hợp tác Nga - Trung trong cuộc chiến chống COVID-19

Hợp tác Nga - Trung trong cuộc chiến chống COVID-19

Sự ủng hộ, tình cảm tốt đẹp và quyết tâm mạnh mẽ của Nga chống dịch Covid-19 đã phản ánh sự hợp tác nhân đạo ngày càng sâu rộng giữa Nga và Trung Quốc, thể hiện tình hữu nghị và quan hệ đối tác hợp tác chiến lược để cùng nhau vượt qua những khó khăn trước mắt.

Đọc tiếp...

Liệu liên minh Mỹ-Philippines có tan vỡ?

Liệu liên minh Mỹ-Philippines có tan vỡ?

Việc chấm dứt Thỏa thuận Các lực lượng Thăm viếng Mỹ-Philippines (VFA) có thể khiến cả Đông Nam Á dậy sóng, không chỉ gây tổn hại cho quốc phòng Philippines mà còn tới chiến lược biển của Mỹ đối với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Thành công của quan hệ đối tác Mỹ-Ấn

Thành công của quan hệ đối tác Mỹ-Ấn

Sau 3 năm Trump giữ chức tổng thống, quan hệ đối tác chiến lược với Ấn Độ, mà các chính quyền Mỹ liên tiếp nhau đã nuôi dưỡng như một bức tường thành âm thầm chống lại Trung Quốc, không chỉ tiếp tục tồn tại mà còn phát triển nở rộ.

Đọc tiếp...

Tác động của COVID-19 đối với kinh tế Thái Lan, Indonesia và Ấn Độ

Tác động của COVID-19 đối với kinh tế Thái Lan, Indonesia và Ấn Độ

Virus corona đã và đang giáng một đòn mạnh vào các nền kinh tế châu Á, cho thấy rõ cái giá phải trả khi phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ ở Đông Nam Á

Ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ ở Đông Nam Á

Cuộc khảo sát với các chuyên gia, học giả trong khu vực do Viện nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS-Yusof Ishak) thực hiện cho thấy cái nhìn mới mẻ và sâu sắc về mức độ ảnh hưởng của hai cường quốc thế giới là Mỹ và Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á. 

Đọc tiếp...

Chính sách thân Bắc Kinh của Tổng thống Duterte va phải bức tường thành nCoV

Chính sách thân Bắc Kinh của Tổng thống Duterte va phải bức tường thành nCoV

Sự bùng phát của đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (Covid-19) đã tác động không nhỏ tới kinh tế - xã hội của Philippines và gây áp lực cho chính sách thân Trung Quốc của chính quyền tổng thống Duterte.

Đọc tiếp...

Báo cáo trước Quốc hội Mỹ về đánh giá kinh tế và an ninh Mỹ- Trung

Báo cáo trước Quốc hội Mỹ về đánh giá kinh tế và an ninh Mỹ- Trung

Bất chấp những tham vọng ngày càng tăng của mình về định hình trật tự khu vực và thậm chí là trật tự toàn cầu, Bắc Kinh đang phải đối mặt với nhiều thách thức đối với các nỗ lực quản lý kinh tế, hiện đại hóa quân sự và ảnh hưởng chính trị vốn có thể hạn chế khả năng nước này đạt được các mục tiêu chính sách đối ngoại.  

Đọc tiếp...

Hậu quả địa chính trị của dịch nCoV

Hậu quả địa chính trị của dịch nCoV

Điều gì sẽ xảy ra nếu các kịch bản tồi tệ nhất về nCoV trở thành hiện thực và dịch bệnh này phát triển nhanh hơn so với các biện pháp phòng ngừa mà cộng đồng quốc tế và Trung Quốc đang triển khai? Dịch viêm đường hô hấp cấp do nCoV gây ra ở Trung Quốc có thể sẽ đạt đỉnh vào tháng này. Trong bối cảnh đó, hãy cùng nhau xem xét các hậu quả  địa chính trị và kinh tế của dịch bệnh này.

Đọc tiếp...

Thực chất Diễn đàn Công nghiệp Quốc phòng Nhật Bản-Philippines

Thực chất Diễn đàn Công nghiệp Quốc phòng Nhật Bản-Philippines

Nhật Bản và Philippines cuối cùng cũng đã tổ chức được vòng đầu tiên của Diễn đàn Công nghiệp Quốc phòng mới vào đầu tháng này. Mặc dù cơ chế này chỉ là một trong nhiều sự tiến triển trong quan hệ song phương, song có ý nghĩa đối với mối quan hệ an ninh, cũng như tổng thể mối quan hệ song phương nói chung.

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần cuối)

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần cuối)

Trước những áp lực của Mỹ và đồng minh, Trung Quốc đã chuyển hướng sang Nga. Tuy nhiên thực tế là Nga và Trung Quốc không phải là những đồng minh tự nhiên và họ nghi ngờ về từng động thái của nhau nhiều hơn là tin tưởng, điều này sẽ hủy hoại và làm cho bất kỳ thỏa thuận song phương nào mà họ có thể đạt được bị thất bại. Kết quả là Trung Quốc sẽ thấy mình thực sự bị cô lập và hoàn toàn phụ thuộc vào những nước mà họ đã kiểm soát để duy trì việc vận hành nền kinh tế của mình.

 

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 2)

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 2)

Bên cạnh những thách thức về kinh tế trong nước, Tập Cận Bình còn phải đối mặt với một nước Mỹ đang nhanh chóng mở rộng khả năng quân sự. Không dừng ở đó, ông Tập cũng phải đối mặt với các khả năng quân sự ngày càng mở rộng của Nhật Bản, Đài Loan và Philippines.  

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 1)

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 1)

Cơ hội “từ trên trời rơi xuống” dành cho Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế và thương mại thực sự đã qua. Hiện Trung Quốc đang vấp phải sự phản ứng dữ dội từ các nước trong khu vực và đặc biệt là từ Mỹ với một vị tổng thống dường như muốn đối đầu với Trung Quốc trên mọi mặt trận và bằng mọi cách.

Đọc tiếp...

Sách lược đầu tư của Mỹ vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Sách lược đầu tư của Mỹ vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ luôn là vấn đề được giới chiến lược, học thuật ở Trung Quốc và nước ngoài tập trung thảo luận và nghiên cứu. Nhưng những phân tích thực nghiệm cụ thể lại khá ít, tập trung quá nhiều vào lĩnh vực chính trị và an ninh. Bài viết sẽ tập trung vào sách lược cạnh tranh đầu tư cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ, phân tích mục tiêu, lộ trình và triển vọng phát triển của chiến lược này, đưa ra đánh giá mang tính thử nghiệm về tác động có thể có của chiến lược này đối với hợp tác “Vành đai và Con đường”.

Đọc tiếp...

Ý nghĩa chính trị trong chiến lược phòng thủ của Đài Loan

Ý nghĩa chính trị trong chiến lược phòng thủ của Đài Loan

Đài Loan sắp tới sẽ phải đối mặt với một thời kỳ đáng ngại. Chiến lược phòng thủ của Đài Loan đang trở nên phi logic trong khi Trung Quốc lại đang tiến gần tới khả năng thực hiện tuyên bố “thống nhất Đài Loan” của mình.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 6831 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin