25 - 2 - 2020 | 22:32
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Tại sao một cuộc chiến Mỹ-Trung có thể leo thang ngoài tầm kiểm soát?

Tại sao một cuộc chiến Mỹ-Trung có thể leo thang ngoài tầm kiểm soát?

Email In PDF.

Một cuộc chiến tranh giữa hai nước vẫn ít có khả năng xảy ra, nhưng triển vọng đối đầu quân sự - ví dụ như xuất phát từ một chiến dịch quân sự của Trung Quốc nhằm vào Đài Loan – không còn là không thể như trước kia. Và xác suất một cuộc đối đầu như vậy leo thang thành hạt nhân đã cao hơn những gì mà hầu hết các nhà phân tích và hoạch định chính sách vẫn hình dung.

 

Những năm gần đây, sức mạnh của Trung Quốc tăng lên bao nhiêu thì nguy cơ chiến tranh với Mỹ cũng tăng lên bấy nhiêu. Dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, Trung Quốc đã tăng cường áp lực chính trị và kinh tế đối với Đài Loan và xây dựng cơ sở quân sự trên các rạn san hô ở Biển Đông, làm gia tăng lo sợ của Washington về việc chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc sẽ đe dọa các đồng minh của Mỹ và ảnh hưởng đến khu vực. Các tàu khu trục của Mỹ đã đi qua Eo biển Đài Loan, trước sự phản đối lớn tiếng từ phía Bắc Kinh. Các nhà lập pháp Mỹ đã lên tiếng đặt câu hỏi về việc liệu họ có nên cử thêm một chiếc tàu sân bay đi qua eo biển này nữa hay không. Các máy bay tiêm kích phản lực của Trung Quốc đã chặn máy bay Mỹ trên không phận phía trên Biển Đông. Trong khi đó Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đẩy các tranh chấp kinh tế âm ỉ lâu nay lên mức sôi sục.

Một cuộc chiến tranh giữa hai nước vẫn ít có khả năng xảy ra, nhưng triển vọng đối đầu quân sự - ví dụ như xuất phát từ một chiến dịch quân sự của Trung Quốc nhằm vào Đài Loan – không còn là không thể như trước kia. Và xác suất một cuộc đối đầu như vậy leo thang thành hạt nhân đã cao hơn những gì mà hầu hết các nhà phân tích và hoạch định chính sách vẫn hình dung.

Các thành viên cộng đồng nghiên cứu chiến lược của Trung Quốc có xu hướng phủ nhận những quan ngại như trên. Tương tự, những nghiên cứu của Mỹ về một cuộc chiến tiềm tàng với Trung Quốc thường loại bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân khỏi kết quả phân tích, coi vấn đề này là không liên quan đến chiều hướng của một cuộc xung đột. Khi được hỏi về vấn đề này vào năm 2015, Dennis Blair, cựu tư lệnh lực lượng Mỹ tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, phán đoán khả năng xảy ra khủng hoảng hạt nhân Mỹ-Trung là “zero”.

Sự bảo đảm này thật sai lầm. Nếu được triển khai chống lại Trung Quốc, phong cách chiến tranh thông thường được ưa thích của Lầu Năm Góc sẽ là một công thức tiềm năng cho leo thang hạt nhân. Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, cách tiếp cận đặc trưng của Mỹ về chiến tranh vẫn luôn đơn giản: thọc sâu vào lãnh thổ của đối phương để nhanh chóng đập tan các cơ sở quân sự then chốt của kẻ thù bằng tổn thất tối thiểu. Nhưng Lầu Năm Góc phát triển công thức này trong những cuộc chiến nhằm vào Afghanistan, Iraq, Libya, và Serbia, không nước nào trong số này có vũ khí hạt nhân.

Trung Quốc, ngược lại, không chỉ có vũ khí hạt nhân, nước này còn đưa những vũ khí này vào các lực lượng quân sự thông thường của mình, khiến rất khó có thể tấn công cái này mà tránh được cái kia. Điều đó có nghĩa là một chiến dịch quân sự lớn của Mỹ nhằm vào các lực lượng truyền thống của Trung Quốc nhiều khả năng cũng sẽ đe dọa kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Khi đối mặt với một mối đe dọa như vậy, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể quyết định sử dụng vũ khí hạt nhân khi còn có thể.

Khi các nhà lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc tìm cách xoay xở với một mối quan hệ chồng chất sự ngờ vực lẫn nhau, họ phải nhìn thẳng vào thực tế rằng một cuộc chiến tranh thông thường có thể trượt sâu thành một cuộc đối đầu hạt nhân. Mặc dù nguy cơ này không phải là cao xét ở góc độ tuyệt đối, nhưng hậu quả của nó đối với khu vực và thế giới sẽ là khủng khiếp. Chừng nào Mỹ và Trung Quốc còn tiếp tục theo đuổi những chiến lược lớn như hiện nay của mình, thì nguy cơ này vẫn tiếp tục hiện hữu. Điều đó có nghĩa là lãnh đạo của cả hai bên cần phải từ bỏ ảo tưởng rằng họ có thể dễ dàng phát động một cuộc chiến tranh hạn chế. Thay vào đó, họ nên tập trung vào việc kiểm soát hoặc giải quyết những căng thẳng chính trị, kinh tế và quân sự có thể dẫn đến xung đột ngay từ đầu.

Một loại đe dọa kiểu mới

Có một số lý do để lạc quan. Thứ nhất, lâu nay Trung Quốc vẫn kiên định với học thuyết hạt nhân không tấn công. Sau vụ thử hạt nhân đầu tiên của mình vào năm 1962, Trung Quốc cơ bản tránh chạy đua vũ trang, chỉ phát triển một kho vũ khí hạt nhân nhỏ và đơn giản hơn rất nhiều so với tiềm lực của nước này cho phép. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc luôn kiên định cho rằng vũ khí hạt nhân chỉ có ích trong việc ngăn ngừa đe dọa và tấn công hạt nhân. Ở góc độ lịch sử, mục đích hạn hẹp như vậy chỉ cần một vài vũ khí hạt nhân là đủ bảo đảm khả năng đáp trả của Trung Quốc trong trường hợp bị tấn công. Đến tận ngày nay, Trung Quốc vẫn duy trì cam kết “không sử dụng trước”, hứa hẹn rằng nước này sẽ không bao giờ sử dụng vũ khí hạt nhân trước.

Triển vọng một cuộc xung đột hạt nhân cũng có thể tưởng chừng như chỉ là tàn tích của Chiến tranh Lạnh. Hồi đó, Mỹ và các đồng minh sống trong nỗi lo sợ rằng một cuộc tấn công của khối Hiệp ước Vacsava sẽ nhanh chóng ngập tràn châu Âu. NATO luôn sẵn sàng sử dụng vũ khí hạt nhân trước để ngăn chặn một cuộc tấn công như vậy. Cả Washington lẫn Moskva đều thường trực lo lắng rằng lực lượng hạt nhân của mình sẽ bị quét sạch trong một cuộc tấn công hạt nhân bất ngờ từ phía đối phương. Mối lo sợ chung này làm gia tăng nguy cơ một siêu cường có thể vội vàng phóng vũ khí vì niềm tin sai lầm rằng mình đang bị tấn công. Ban đầu, mối nguy hiểm của những cuộc tấn công không được phê chuẩn cũng luôn hiện hữu. Trong những năm 1950, các quy trình an toàn lỏng lẻo đối với vũ khí hạt nhân của Mỹ trên lãnh thổ NATO, cũng như mức độ giám sát ở mức tối thiểu của dân sự đối với các tư lệnh quân sự Mỹ, đã đặt ra những nguy cơ nghiêm trọng về việc leo thang hạt nhân có thể xảy ra mà không có mệnh lệnh rõ ràng từ Tổng thống Mỹ.

Tin tốt là những lo lắng thời Chiến tranh Lạnh không liên quan nhiều đến mối quan hệ hiện tại giữa Mỹ và Trung Quốc. Không nước nào có thể nhanh chóng tràn vào lãnh thổ của nhau trong một cuộc chiến tranh thông thường. Cả hai đều không có vẻ gì lo ngại về một cú sét hạt nhân từ trên trời rơi xuống. Và sự kiểm soát chính trị dân sự đối với vũ khí hạt nhân ở cả hai nước đều tương đối mạnh. Điều còn lại, về lý thuyết, là lôgích dễ chịu về sự ngăn ngừa lẫn nhau: trong một cuộc chiến giữa hai cường quốc hạt nhân, cả hai bên đều sẽ không phát động đòn tấn công hạt nhân vì sợ đối phương sẽ đáp trả tương xứng.

Tin xấu là vẫn còn một yếu tố nữa tồn tại: Một cuộc chiến thông thường đe dọa kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Các lực lượng thông thường có thể đe dọa lực lượng hạt nhân theo những cách tạo ra áp lực khiến xung đột leo thang – nhất là khi các lực lượng thông thường tinh nhuệ hơn của Mỹ đối mặt với những kho vũ khí hạt nhân mong manh và tương đối nhỏ, như của Trung Quốc. Nếu các chiến dịch của Mỹ đe dọa hoặc gây tổn hại đến lực lượng hạt nhân của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể sẽ nghĩ rằng Washington còn có những ý đồ khác ngoài mục tiêu giành thắng lợi trong cuộc chiến thông thường – rằng nước này có khi đang tìm cách vô hiệu hóa hoặc phá hủy thẳng thừng kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc, có lẽ để mở đầu cho việc thay đổi chế độ. Giữa màn sương chiến tranh, Bắc Kinh có thể miễn cưỡng kết luận rằng một sự leo thang hạt nhân hạn chế - một đòn tấn công phủ đầu đủ nhỏ để tránh sự đáp trả tổng lực từ phía Mỹ - là lựa chọn khả thi để tự vệ.

Điểm nóng đáng lo ngại nhất cho một cuộc chiến Mỹ-Trung là Đài Loan. Mục tiêu lâu dài của Bắc Kinh về việc thống nhất hòn đảo này với Trung Hoa Đại lục rõ ràng là mâu thuẫn với tham vọng lâu nay của Washington về việc duy trì nguyên trạng ở eo biển. Không khó hình dung việc mâu thuẫn này có thể dẫn tới chiến tranh. Ví dụ, Trung Quốc có thể quyết định rằng cánh cửa mở ra cơ hội về quân sự hoặc chính trị để giành lại quyền kiểm soát hòn đảo này đang đóng lại và phát động một cuộc tấn công, sử dụng lực lượng không quân và hải quân để phong tỏa các cảng của Đài Loan hoặc ném bom hòn đảo này. Mặc dù luật của Mỹ không đòi hỏi Washington phải can thiệp trong một kịch bản như vậy, nhưng Đạo luật Quan hệ với Đài Loan quy định rằng Mỹ sẽ “xem bất kỳ nỗ lực nào nhằm quyết định tương lai của Đài Loan mà không phải bằng những biện pháp hòa bình, bao gồm việc tẩy chay hoặc cấm vận, là một sự đe dọa tới hòa bình và an ninh của khu vực Tây Thái Bình Dương và là mối quan ngại nghiêm trọng đối với Mỹ.” Trong trường hợp Mỹ can thiệp nhân danh Đài Loan, siêu cường duy nhất của thế giới và đối thủ cạnh tranh đang lên sẽ bị cuốn vào cuộc chiến nước lớn đầu tiên của thế kỷ 21.

Trong quá trình diễn ra một cuộc chiến như vậy, các hoạt động quân sự thông thường của Mỹ nhiều khả năng sẽ đe dọa, vô hiệu hóa, hoặc phá hủy hoàn toàn một số năng lực hạt nhân của Trung Quốc – bất kể làm như vậy có phải là mục tiêu công khai của Mỹ hay không. Trong thực tế, nếu Mỹ tiến hành cách thức chiến tranh mà nước này đã thực hiện hơn 30 năm qua thì kết cục nêu trên là gần như chắc chắn.

Hãy xem xét trường hợp tác chiến tàu ngầm. Trung Quốc có thể sử dụng các tàu ngầm tấn công trang bị vũ khí thông thường của mình để phong tỏa cảng Đài Loan hoặc ném bom hòn đảo, hoặc để tấn công các lực lượng của Mỹ và đồng minh trong khu vực. Nếu điều đó xảy ra, hải quân Mỹ sẽ gần như chắc chắn tiến hành một chiến dịch chống tàu ngầm, qua đó nhiều khả năng sẽ đe dọa đến 4 tàu ngầm hạt nhân trang bị tên lửa đạn đạo của hải quân Trung Quốc. Các tàu ngầm vũ khí thông thường và vũ khí hạt nhân của Trung Quốc cùng chia sẻ một hệ thống liên lạc trên bờ; một cuộc tấn công của Mỹ vào các cơ sở truyền dẫn này do vậy sẽ không chỉ làm gián đoạn hoạt động của lực lượng tàu ngầm tấn công Trung Quốc mà còn chia cắt các tàu ngầm hạt nhân này khỏi sự liên lạc với Bắc Kinh, khiến cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc không chắc chắn về số phận lực lượng hạt nhân hải quân của mình. Bên cạnh đó, các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo hạt nhân lệ thuộc vào sự bảo vệ của các tàu ngầm tấn công, cũng giống như chiếc máy bay ném bom cồng kềnh phụ thuộc vào những chiếc máy bay tiêm kích. Nếu Mỹ đánh chìm những tàu ngầm tấn công của Trung Quốc, thì cũng đồng nghĩa với việc đánh chìm chính lực lượng bảo vệ các tàu ngầm tên lửa đạn đạo của Trung Quốc, khiến cho lực lượng này trở nên dễ bị tổn thương.

Thậm chí nguy hiểm hơn thế, các lực lượng Mỹ săn lùng các tàu ngầm tấn công của Trung Quốc cũng có thể vô tình đánh chìm một tàu ngầm vũ khí hạt nhân do nhầm lẫn. Xét cho cùng, ít nhất thì cũng có một vài tàu ngầm tấn công của Trung Quốc có thể đang hộ tống tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân, đặc biệt là trong thời chiến, khi Trung Quốc có thể tung hết các tàu ngầm hạt nhân này ra khỏi cảng và cố đưa chúng đến sát tầm vươn tới lục địa Mỹ. Vì từ trước đến nay việc xác định chính xác mục tiêu vẫn luôn là một trong những thách thức khó khăn nhất của tác chiến tàu ngầm, một tàu ngầm Mỹ có thể rơi đúng vào tầm bắn của một chiếc tàu ngầm Trung Quốc mà không chắc nó là loại nào, nhất là trong một môi trường đông đúc, ồn ào như Eo biển Đài Loan. Những lời nói sáo rỗng về việc phải thận trọng lúc bình thường thì rất dễ. Trong thời chiến, khi các tàu ngầm tấn công Trung Quốc có thể đã tung ra đòn tấn công chết người, thủy thủ đoàn phía Mỹ có thể sẽ quyết định bắn trước và hỏi sau.

Ngoài yếu tố về cảm giác dễ bị tổn thương từ phía Trung Quốc, quy mô nhỏ của lực lượng tàu ngầm trang bị vũ khí hạt nhân của nước này cũng đồng nghĩa rằng chỉ cần hai vụ việc như trên cũng đủ hủy diệt một nửa năng lực răn đe từ biển của nước này. Trong khi đó, bất kỳ chiếc tàu ngầm trang bị vũ khí hạt nhân nào của Trung Quốc thoát khỏi số phận trên thì nhiều khả năng cũng bị cô lập khỏi đường dây liên lạc với các chỉ huy trên bờ, trong tình trạng không có lực lượng hộ tống, và không thể quay trở về các căn cứ đã bị phá hủy. Nếu điều đó xảy ra, Trung Quốc về cơ bản là không còn năng lực răn đe hạt nhân hải quân.

Tình trạng trên bờ cũng tương tự, nơi mà bất kỳ chiến dịch quân sự nào của Mỹ cũng sẽ đụng tới vào lực lượng tên lửa đạn đạo thông thường trên bộ ngày càng lớn của Trung Quốc. Phần lớn lực lượng này đặt trong tầm bắn đến Đài Loan, sẵn sàng phóng tên lửa đạn đạo vào hòn đảo hoặc bất kỳ đồng minh nào đến ứng cứu. Một lần nữa, thắng lợi của quân Mỹ lại phụ thuộc vào việc khuất phục được lực lượng tên lửa đạn đạo thông thường này. Và một lần nữa, sẽ gần như là không thể nào làm như vậy mà không động chạm gì đến lực lượng tên lửa đạn đạo hạt nhân của Trung Quốc. Các tên lửa đạn đạo hạt nhân và thông thường của Trung Quốc cũng thường gắn chung căn cứ chỉ huy, nghĩa là nhiều khả năng chúng sẽ chia sẻ các hệ thống cung cấp và vận chuyển, tuyến tuần tra, và cơ sở hạ tầng hỗ trợ khác. Cũng có khả năng là chúng chia sẻ một số mạng lưới chỉ huy và kiểm soát, hoặc là Mỹ sẽ không thể phân biệt được giữa các mạng lưới hạt nhân và thông thường ngay cả khi chúng tách biệt nhau về mặt thực thể.

Đã thế một số tên lửa đạn đạo của Trung Quốc còn có thể mang cả đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân, và cả hai phiên bản này đều hầu như không thể phân biệt nổi đối với hệ thống do thám trên không của Mỹ. Trong một cuộc chiến, việc nhắm mục tiêu vào các phiên bản thông thường cũng có khả năng đồng nghĩa với việc phá hủy một số loại hạt nhân trong quá trình đó. Ngoài ra, đưa máy bay có người lái vào tấn công các bãi phóng tên lửa và căn cứ của Trung Quốc sẽ đòi hỏi ít nhất là sự kiểm soát một phần không phận của Trung Quốc, điều đó cũng sẽ lại đòi hỏi phải làm suy yếu hệ thống phòng không của nước này. Nhưng làm suy yếu mạng lưới phòng không bờ biển của Trung Quốc nhằm phát động một cuộc chiến tranh thông thường cũng sẽ lại khiến cho phần lớn lực lượng hạt nhân của Trung Quốc không còn được bảo vệ.

Một khi Trung Quốc bị tấn công, các nhà lãnh đạo nước này có thể sẽ lo sợ rằng ngay cả những tên lửa đạn đạo liên lục địa được triển khai ở sâu trong lục địa cũng dễ bị tổn thương. Trong nhiều năm, giới quan sát đã coi các nỗ lực quân sự thất bại của Mỹ nhằm xác định và phá hủy những tên lửa Scud của Iraq trong Chiến tranh Vùng Vịnh 1990-1991 như bằng chứng cho thấy các tên lửa di động là hầu như miễn nhiễm trước nguy cơ bị tấn công. Do đó, theo lối tư duy này, Trung Quốc vẫn có thể duy trì một năng lực răn đe hạt nhân bất kể thiệt hại do Mỹ gây ra đối với các khu vực bờ biển của Trung Quốc. Nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy không phải như vậy. Các tên lửa đạn đạo liên lục địa của Trung Quốc lớn và kém cơ động hơn tên lửa Scud của Iraq trước đây, và chúng rất khó để di chuyển mà không bị phát hiện. Nhiều khả năng Mỹ cũng đã theo dõi chúng sát sao hơn rất nhiều trong thời bình. Và hệ quả là Trung Quốc ít có khả năng sẽ xem việc săn lùng thất bại đối với tên lửa Scud ở Iraq gần 30 năm trước như sự bảo đảm rằng kho vũ khí hạt nhân còn lại của nước này bây giờ cũng sẽ an toàn, đặc biệt là trong một cuộc chiến tranh thông thường cường độ cao đang diễn ra.

Sự chỉ trích gay gắt của Trung Quốc đối với các hệ thống phòng thủ tên lửa khu vực của Mỹ được thiết kế để ngăn chặn một cuộc tấn công tiềm tàng của Triều Tiên cũng đã phản ánh những lo sợ thâm căn cố đế này. Lo lắng của Bắc Kinh nằm ở chỗ hệ thống này có thể giúp Washington chặn được khá nhiều tên lửa Trung Quốc có thể phóng nếu Mỹ tấn công kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Loại chiến dịch quân sự như vậy có vẻ như khả thi hơn rất nhiều trong mắt Bắc Kinh nếu một cuộc chiến thông thường đã bắt đầu phá hủy nghiêm trọng những bộ phận khác trong lực lượng răn đe hạt nhân của Trung Quốc. Khó khăn thêm nữa là nhận thức theo thời gian thực của Trung Quốc về tình trạng các lực lượng của mình có thể sẽ bị hạn chế, vì làm “mù mắt” đối phương là một phần tiêu chuẩn trong điều lệnh tác chiến của quân đội Mỹ.

Nói một cách đơn giản, chiến lược ưa thích của Mỹ nhằm bảo đảm một chiến thắng thông thường trong quá trình thực hiện nhiều khả năng sẽ gây đe dọa đến phần lớn kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc, cả trên bộ và trên biển. Việc liệu Mỹ có thực sự có ý đồ nhắm vào tất cả vũ khí hạt nhân của Trung Quốc hay không sẽ chỉ là thứ yếu. Điều quan trọng là ở chỗ các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ cho rằng họ đang bị đe dọa.

Những bài học từ quá khứ

Đến lúc này, câu hỏi sẽ là Trung Quốc sẽ phản ứng như thế nào? Liệu nước này sẽ kiềm chế và kiên định cam kết “không sử dụng trước” ngay cả khi các lực lượng hạt nhân của họ có vẻ như đang bị tấn công hay không? Hoặc liệu nước này có dùng đến các vũ khí hạt nhân trên khi còn có thể, đánh cược rằng một sự leo thang hạn chế sẽ chặn đứng chiến dịch của Mỹ, nếu không thì cũng đe dọa để Washington phải xuống thang?

Các văn bản và tuyên bố của Trung Quốc vẫn mập mờ một cách có chủ ý ở điểm này. Vẫn không rõ chính xác là những năng lực nào được Trung Quốc coi là một phần trong lực lượng răn đe hạt nhân cốt lõi của mình và cái nào được xem là ít quan trọng hơn. Ví dụ, nếu Trung Quốc vốn đã công nhận rằng lực lượng răn đe hạt nhân đặt trên biển của nước này là tương đối nhỏ và yếu, thì việc mất một vài tàu ngầm tên lửa đạn đạo trong một cuộc chiến có thể sẽ không dẫn đến sự thay đổi bất thường cực đoan nào trong tính toán của Trung Quốc.

Điều nguy hiểm nằm ở chỗ những động thái thời chiến có thể làm thay đổi quan điểm của Trung Quốc về ý đồ của Mỹ. Nếu Bắc Kinh xem việc các lực lượng hạt nhân trên biển và trên bộ của mình dần bị xóa sổ là một ý đồ có tính toán nhằm phá hủy năng lực răn đe hạt nhân của Trung Quốc, hoặc thậm chí như khúc mở đầu cho một đòn tấn công hạt nhân, thì Trung Quốc có thể sẽ xem việc leo thang hạt nhân có giới hạn như một cách để buộc xung đột phải chấm dứt. Ví dụ, Trung Quốc có thể sử dụng vũ khí hạt nhân để nhất thời phá hủy những căn cứ không quân Mỹ đặt ra mối đe dọa lớn nhất đối với kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Trung Quốc cũng có thể sẽ tung ra đòn tấn công hạt nhân mà không cần mục đích quân sự trực tiếp – vào một khu vực không có người ở hoặc trên biển – như một cách phát đi tín hiệu rằng Mỹ đã vượt quá lằn ranh đỏ.

Mặc dù kịch bản leo thang như vậy nhìn thì có vẻ xa vời, nhưng lịch sử của Trung Quốc thì lại cho điều khác. Năm 1969, tình thế tương tự đã đưa Trung Quốc đến bờ vực chiến tranh hạt nhân với Liên Xô. Đầu tháng 3 năm đó, binh lính Trung Quốc phục kích lính biên phòng Liên Xô giữa lúc căng thẳng gia tăng xung quanh một khu vực biên giới tranh chấp. Chưa đầy 2 tuần sau, hai nước đã ở trong một cuộc chiến tranh biên giới không tuyên bố với pháo hạng nặng và máy bay. Cuộc xung đột nhanh chóng leo thang vượt ra khỏi những gì lãnh đạo Trung Quốc đã tưởng tượng và Moskva đã đưa ra những đe dọa hạt nhân để gây áp lực buộc Trung Quốc phải xuống thang.

Ban đầu các nhà lãnh đạo Trung Quốc bỏ qua những lời cảnh báo này, để rồi lại đẩy mức đánh giá đe dọa của mình lên một cách cực đoan sau khi họ biết được rằng Liên Xô đã bàn bạc riêng về các kế hoạch tấn công hạt nhân với các nước khác. Moskva không bao giờ có ý định theo đuổi đến cùng trong các đe dọa hạt nhân của mình, những tài liệu lưu trữ sau này đều cho thấy như vậy, nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc lại cho là khác. Trong ba trường hợp riêng biệt, họ bị thuyết phục rằng một cuộc tấn công hạt nhân của Liên Xô đang sắp xảy ra. Một lần, khi Moskva cử đại diện đến đàm phán tại Bắc Kinh, Trung Quốc nghi ngờ rằng chiếc máy bay đang chở phái đoàn thực ra lại đang mang vũ khí hạt nhân. Ngày càng lo lắng, Trung Quốc cho bắn thử một vũ khí nhiệt hạch ở sa mạc Lop Nur và đưa lực lượng hạt nhân sơ khai của mình vào tình trạng báo động – bản thân đó cũng đã là một bước đi nguy hiểm, vì làm gia tăng nguy cơ phóng nhầm hoặc không được phê chuẩn. Chỉ sau rất nhiều lần chuẩn bị cho những cuộc tấn công hạt nhân vốn không bao giờ xảy ra của Liên Xô, cuối cùng Bắc Kinh mới chịu đàm phán.

Ngày nay Trung Quốc là một quốc gia đã khác với thời Mao Trạch Đông, nhưng cuộc xung đột năm 1969 vẫn để lại những bài học quan trọng. Trung Quốc đã bắt đầu một cuộc chiến mà trong đó nước này cho rằng vũ khí hạt nhân không có liên quan gì, mặc dù kho vũ khí hạt nhân của Liên Xô khi đó có quy mô lớn gấp nhiều lần của Trung Quốc, cũng giống như kho vũ khí hạt nhân của Mỹ vượt trội so với Trung Quốc bây giờ. Ngay khi cuộc chiến tranh thông thường không diễn ra như dự kiến, Trung Quốc đã đảo ngược đánh giá của mình về khả năng xảy ra tấn công hạt nhân lên mức độ gần như hoang tưởng. Đáng lo ngại nhất, Trung Quốc phát đi tín hiệu rằng nước này đang thực sự cân nhắc sử dụng vũ khí hạt nhân, mặc dù nước này dự kiến được những đòn đáp trả khủng khiếp. Các thông tin mơ hồ thời chiến và lối tư duy theo kiểu tình huống xấu nhất dẫn đến những nguy cơ hạt nhân mà mới chỉ vài tháng trước đó còn tưởng chừng như không thể nào hình dung nổi. Khuôn mẫu đó hoàn toàn có thể lặp lại ngày nay.

Cứ để họ mặc sức đoán

Cả Mỹ và Trung Quốc đều có thể tiến hành một số biện pháp cơ bản nhằm giảm bớt những mối nguy hiểm này. Đối thoại và trao đổi cởi mở hơn – chính thức và không chính thức, cấp cao và cấp sự vụ, quân sự và chính trị - có thể giúp xây dựng các mối quan hệ cho phép giảm căng thẳng bằng các kênh sau trong một cuộc xung đột. Hai nước đã có một đường dây nóng quân sự chính thức được triển khai, mặc dù nó không kết nối các nhà lãnh đạo chính trị. Một cơ sở hạ tầng chuyên biệt và đã được thử nghiệm dành cho các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao có thể tin tưởng và dễ dàng giao tiếp trong thời chiến ít nhất cũng sẽ mang lại một yếu tố kìm hãm leo thang khi xảy ra khủng hoảng.

Nhưng liên lạc tốt hơn thì cũng chỉ giải quyết được đến vậy đối với một vấn đề có căn nguyên từ học thuyết quân sự và chiến lược lớn. Trong bối cảnh điều lệnh tác chiến tiêu chuẩn của Mỹ nhiều khả năng sẽ dồn Trung Quốc vào chân tường về khía cạnh hạt nhân, điều lôgích là Washington cân nhắc các chiến lược thay thế để làm sao không động chạm đến các năng lực hạt nhân của Trung Quốc. Ví dụ, một số nhà phân tích đã đề xuất gây sức ép với Trung Quốc thông qua phong tỏa hải quân từ xa, và những người khác lại gợi ý giới hạn bất kỳ chiến dịch hải quân và không quân nào của Mỹ nằm ngoài phạm vi bờ biển của Trung Quốc. Mục tiêu trong cả hai trường hợp đều nhằm tránh các cuộc tấn công vào lục địa, nơi tập trung phần lớn lực lượng hạt nhân của Trung Quốc.

Vấn đề đối với các chiến lược thay thế này là lục địa cũng là nơi tập trung phần lớn các năng lực chiến tranh thông thường của Trung Quốc. Khó có chuyện Mỹ sẽ tự nguyện để yên cho các năng lực này, xuất phát từ ưu tiên của Mỹ là giảm tổn thất của bản thân và tiêu diệt lực lượng đối phương một cách nhanh chóng. Nếu Trung Quốc sử dụng các căn cứ ở lục địa của mình để phóng tên lửa đạn đạo vào binh sĩ Mỹ và đồng minh, thật khó có thể hình dung một tổng thống Mỹ lại đi ra lệnh cho quân đội kiềm chế nhằm tránh leo thang. Các đồng minh của Mỹ càng đặc biệt không bao giờ chấp nhận một cách tiếp cận thận trọng như vậy, vì họ sẽ còn hứng chịu sức mạnh quân sự của Trung Quốc chừng nào sức mạnh này còn chưa bị động đến. Không ai muốn một cuộc chiến tranh Mỹ-Trung đi đến mức hạt nhân, nhưng một chiến dịch quân sự của Mỹ để cho lực lượng thông thường của Trung Quốc biến Đài Loan – chứ chưa nói đến Nhật Bản hoặc Hàn Quốc – thành một đống đổ nát khói lửa chỉ để tránh leo thang thì khó có thể xem là một chiến thắng.

Tất nhiên, Bắc Kinh cũng có thể có những bước đi nhằm giảm bớt căng thẳng của vấn đề, nhưng điều này rất khó xảy ra. Trung Quốc đã lựa chọn lắp cả đầu đạn hạt nhân và thông thường lên cùng một loại tên lửa và đưa cả các lữ đoàn vũ khí thông thường và hạt nhân vào cùng một căn cứ. Nhiều khả năng Trung Quốc nhìn thấy lợi ích chiến lược nhất định trong sự gắn bó mật thiết này. Chính là vì những sự đan cài rắc rối này làm gia tăng khả năng leo thang hạt nhân, Trung Quốc có thể sẽ tin rằng chúng sẽ góp phần củng cố khả năng răn đe – và sẽ khiến cho Mỹ ngần ngại phát động chiến tranh ngay từ đầu.

Nhưng cũng như Trung Quốc hưởng lợi nếu Mỹ tin rằng sẽ không có cách an toàn nào để phát động chiến tranh, thì Mỹ cũng hưởng lợi nếu Trung Quốc tin rằng chiến tranh sẽ mang lại kết cục Trung Quốc không chỉ thất bại trong chiến tranh thông thường mà còn trong chiến tranh hạt nhân. Trên thực tế, Mỹ có thể tin rằng nỗi lo sợ này sẽ cho Mỹ lợi thế lớn hơn trong một cuộc xung đột và có lẽ sẽ ngăn chặn được Trung Quốc khởi đầu trước.

Nói ngắn gọn, có thể là không bên nào thấy có nhiều giá trị trong những bảo đảm hòa bình. Thậm chí là ngược lại: có khi cả hai còn đang ngấm ngầm cổ vũ bất ổn. Tuy nhiên nếu quả thật là như vậy thì các nhà lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc cần nhận thấy những mặt được và mất ẩn chứa trong các chính sách mà họ lựa chọn. Nguy cơ leo thang (hạt nhân) có thể làm chiến tranh khó xảy ra hơn, nhưng đồng thời nó cũng lại khiến chiến tranh thực sự nguy hiểm hơn rất nhiều nếu thực sự xảy ra. Thực tế này khiến cho lãnh đạo cả hai bên thấy cần phải tìm kiếm những phương cách nhằm giải quyết các tranh chấp chính trị, quân sự và kinh tế mà không cần đến một cuộc chiến tranh có thể nhanh chóng leo thang thành thảm họa hủy diệt cả khu vực và thế giới.

Caitlin Talmadge là Phó giáo sư Nghiên cứu An ninh trường Edmund A. Walsh, Đại học  Georgetown. Bài viết được đăng trên Foreign Affairs.

Trần Quang (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ ở Đông Nam Á

Ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ ở Đông Nam Á

Cuộc khảo sát với các chuyên gia, học giả trong khu vực do Viện nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS-Yusof Ishak) thực hiện cho thấy cái nhìn mới mẻ và sâu sắc về mức độ ảnh hưởng của hai cường quốc thế giới là Mỹ và Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á. 

Đọc tiếp...

Chính sách thân Bắc Kinh của Tổng thống Duterte va phải bức tường thành nCoV

Chính sách thân Bắc Kinh của Tổng thống Duterte va phải bức tường thành nCoV

Sự bùng phát của đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (Covid-19) đã tác động không nhỏ tới kinh tế - xã hội của Philippines và gây áp lực cho chính sách thân Trung Quốc của chính quyền tổng thống Duterte.

Đọc tiếp...

Báo cáo trước Quốc hội Mỹ về đánh giá kinh tế và an ninh Mỹ- Trung

Báo cáo trước Quốc hội Mỹ về đánh giá kinh tế và an ninh Mỹ- Trung

Bất chấp những tham vọng ngày càng tăng của mình về định hình trật tự khu vực và thậm chí là trật tự toàn cầu, Bắc Kinh đang phải đối mặt với nhiều thách thức đối với các nỗ lực quản lý kinh tế, hiện đại hóa quân sự và ảnh hưởng chính trị vốn có thể hạn chế khả năng nước này đạt được các mục tiêu chính sách đối ngoại.  

Đọc tiếp...

Hậu quả địa chính trị của dịch nCoV

Hậu quả địa chính trị của dịch nCoV

Điều gì sẽ xảy ra nếu các kịch bản tồi tệ nhất về nCoV trở thành hiện thực và dịch bệnh này phát triển nhanh hơn so với các biện pháp phòng ngừa mà cộng đồng quốc tế và Trung Quốc đang triển khai? Dịch viêm đường hô hấp cấp do nCoV gây ra ở Trung Quốc có thể sẽ đạt đỉnh vào tháng này. Trong bối cảnh đó, hãy cùng nhau xem xét các hậu quả  địa chính trị và kinh tế của dịch bệnh này.

Đọc tiếp...

Thực chất Diễn đàn Công nghiệp Quốc phòng Nhật Bản-Philippines

Thực chất Diễn đàn Công nghiệp Quốc phòng Nhật Bản-Philippines

Nhật Bản và Philippines cuối cùng cũng đã tổ chức được vòng đầu tiên của Diễn đàn Công nghiệp Quốc phòng mới vào đầu tháng này. Mặc dù cơ chế này chỉ là một trong nhiều sự tiến triển trong quan hệ song phương, song có ý nghĩa đối với mối quan hệ an ninh, cũng như tổng thể mối quan hệ song phương nói chung.

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần cuối)

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần cuối)

Trước những áp lực của Mỹ và đồng minh, Trung Quốc đã chuyển hướng sang Nga. Tuy nhiên thực tế là Nga và Trung Quốc không phải là những đồng minh tự nhiên và họ nghi ngờ về từng động thái của nhau nhiều hơn là tin tưởng, điều này sẽ hủy hoại và làm cho bất kỳ thỏa thuận song phương nào mà họ có thể đạt được bị thất bại. Kết quả là Trung Quốc sẽ thấy mình thực sự bị cô lập và hoàn toàn phụ thuộc vào những nước mà họ đã kiểm soát để duy trì việc vận hành nền kinh tế của mình.

 

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 2)

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 2)

Bên cạnh những thách thức về kinh tế trong nước, Tập Cận Bình còn phải đối mặt với một nước Mỹ đang nhanh chóng mở rộng khả năng quân sự. Không dừng ở đó, ông Tập cũng phải đối mặt với các khả năng quân sự ngày càng mở rộng của Nhật Bản, Đài Loan và Philippines.  

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 1)

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 1)

Cơ hội “từ trên trời rơi xuống” dành cho Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế và thương mại thực sự đã qua. Hiện Trung Quốc đang vấp phải sự phản ứng dữ dội từ các nước trong khu vực và đặc biệt là từ Mỹ với một vị tổng thống dường như muốn đối đầu với Trung Quốc trên mọi mặt trận và bằng mọi cách.

Đọc tiếp...

Sách lược đầu tư của Mỹ vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Sách lược đầu tư của Mỹ vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ luôn là vấn đề được giới chiến lược, học thuật ở Trung Quốc và nước ngoài tập trung thảo luận và nghiên cứu. Nhưng những phân tích thực nghiệm cụ thể lại khá ít, tập trung quá nhiều vào lĩnh vực chính trị và an ninh. Bài viết sẽ tập trung vào sách lược cạnh tranh đầu tư cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ, phân tích mục tiêu, lộ trình và triển vọng phát triển của chiến lược này, đưa ra đánh giá mang tính thử nghiệm về tác động có thể có của chiến lược này đối với hợp tác “Vành đai và Con đường”.

Đọc tiếp...

Ý nghĩa chính trị trong chiến lược phòng thủ của Đài Loan

Ý nghĩa chính trị trong chiến lược phòng thủ của Đài Loan

Đài Loan sắp tới sẽ phải đối mặt với một thời kỳ đáng ngại. Chiến lược phòng thủ của Đài Loan đang trở nên phi logic trong khi Trung Quốc lại đang tiến gần tới khả năng thực hiện tuyên bố “thống nhất Đài Loan” của mình.

Đọc tiếp...

Nga “ngả vào” Trung Quốc - Mối đe dọa đối với Hàn Quốc?

Nga “ngả vào” Trung Quốc - Mối đe dọa đối với Hàn Quốc?

Sự hợp tác ngày càng gia tăng giữa Bắc Kinh và Moskva dường như đang giúp Nga mạnh bạo hơn khi thể hiện năng lực cũng như thách thức sức mạnh của mạng lưới liên minh của Mỹ ở Đông Bắc Á.

Đọc tiếp...

Ấn Độ - Hi vọng lớn nhất của Mỹ ở châu Á

Ấn Độ - Hi vọng lớn nhất của Mỹ ở châu Á

Trong hai thập kỷ qua, Washington đã đặt nhiều hi vọng vào Ấn Độ trên vũ đài thế giới. Rộng lớn, đông dân và giàu tài nguyên, xét theo tất cả các biểu hiện bề ngoài, Ấn Độ là một cường quốc đã sẵn sàng. Và với tư cách là nền dân chủ lớn nhất thế giới, theo những hi vọng đó, nước này hứa hẹn sẽ trở thành đối tác quan trọng của Mỹ vào thời điểm cuộc cạnh tranh giữa các bên thách thức đang ngày càng gia tăng.

Đọc tiếp...

Năm điều Mỹ cần cân nhắc khi đối phó Trung Quốc

Năm điều Mỹ cần cân nhắc khi đối phó Trung Quốc

Chính quyền của Tổng thống Trump đang đối đầu với Trung Quốc theo một cách khó có thể thúc đẩy thế cạnh tranh của Mỹ hay thu hút được sự ủng hộ rộng rãi. Cuối tháng trước, ông Trump đã ra một tuyên bố cứng rắn: “Chúng tôi không cần Trung Quốc, và thành thật mà nói, chúng tôi còn tốt hơn nếu không có họ”.

Đọc tiếp...

Bước tiếp theo trong xây dựng quan hệ quân sự Ấn-Trung

Bước tiếp theo trong xây dựng quan hệ quân sự Ấn-Trung

Cuộc đối đầu tại Doklam ở lãnh thổ Bhutan năm 2017 kéo dài 73 ngày trong địa hình hiểm trở và nguy hiểm dọc theo Đường kiểm soát thực tế (LAC) là phép thử đối với tinh thần cũng như cách thức giải quyết vấn đề của quân đội hai nước.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt-Mỹ thời tổng thống Trump

Quan hệ Việt-Mỹ thời tổng thống Trump

Trước những phát ngôn chỉ trích của Tổng thống Mỹ Donald Trump về sự lạm dụng đối tác trong vấn đề thương mại của Việt Nam, mối quan hệ giữa hai quốc gia thực sự không hề chứng kiến một sự chuyển biến tiêu cực.

Đọc tiếp...

Tranh chấp thương mại Trung - Mỹ sẽ đi về đâu?

Tranh chấp thương mại Trung - Mỹ sẽ đi về đâu?

Cuộc chiến thương mại Trung - Mỹ bắt đầu từ tháng 3/2018, cho đến nay, cùng với những đòn trừng phạt và trả đũa nối tiếp nhau, những tổn thất trực tiếp mà cả hai bên phải gánh chịu là điều dễ dàng nhận thấy. Những đòn trừng phạt và trả đũa ấy liệu đơn thuần chỉ nhắm đến lợi ích kinh tế, hay bên trong còn ẩn chứa những mục tiêu mang tính chiến lược và liệu rằng cuộc thương chiến này có đi đến hồi kết?

Đọc tiếp...

Yếu tố khiến Trung-Nga xích lại gần nhau

Yếu tố khiến Trung-Nga xích lại gần nhau

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung và chiến dịch trừng phạt kéo dài của Washington đối với Moskva đã thúc đẩy việc tăng cường quan hệ kinh tế và năng lượng giữa hai nước láng giềng phương Đông.

Đọc tiếp...

Cảnh giác trước Trung Quốc, Ấn Độ củng cố quan hệ với các nước láng giềng

Cảnh giác trước Trung Quốc, Ấn Độ củng cố quan hệ với các nước láng giềng

Để củng cố và nâng cao hơn nữa vị thế của bản thân trong khu vực, đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng đẩy mạnh các hoạt động lôi kéo các nước khác, Ấn Độ dưới thời ông Modi buộc phải có những bước đi đúng đắn và khôn khéo, thúc đẩy mối quan hệ gắn bó và tốt đẹp với các nước láng giềng là một trong số đó.

Đọc tiếp...

Mỹ và các đồng minh cần thể hiện sự quan tâm thực sự ở Đông Nam Á

Mỹ và các đồng minh cần thể hiện sự quan tâm thực sự ở Đông Nam Á

Đông Nam Á là khu vực rất quan trọng đối với Trung Quốc, tạo ra “thế tiến thoái lưỡng nan ở eo biển Malacca”. Khoảng 80% tổng nguồn cung cấp năng lượng của Trung Quốc đi qua eo biển Malacca. Sáng kiến "Vành đai và Con đường" (BRI) chủ yếu là một giải pháp để thoát khỏi tình thế khó xử này. 

Đọc tiếp...

Trước Trung Quốc, Washington chỉ còn cách tiếp cận duy nhất là đối đầu?

Trước Trung Quốc, Washington chỉ còn cách tiếp cận duy nhất là đối đầu?

Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ gán mác cho Trung Quốc là một "cường quốc theo chủ nghĩa xét lại". Trong khi, Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Mỹ Christopher Wray đã gọi Trung Quốc là "một mối đe dọa toàn xã hội".

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4049 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin