23 - 5 - 2018 | 4:19
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Mối quan hệ Ấn - Nhật: Sự nổi lên của quan hệ đối tác toàn cầu

Mối quan hệ Ấn - Nhật: Sự nổi lên của quan hệ đối tác toàn cầu

Email In PDF.

Hợp tác giữa hai nước đã trở thành một thành tố quan trọng đóng góp vào hòa bình và ổn định ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản tin rằng sẽ là khôn ngoan nếu thu hút sự tham gia của Trung Quốc về mặt kinh tế cũng như an ninh. Điều này có thể làm cho Bắc Kinh trở thành một bên liên quan có trách nhiệm trong khu vực.

 

65 năm đã trôi qua kể từ khi Ấn Độ và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao. Trong giai đoạn này, hai nước đã phát triển mối quan hệ bền vững và mạnh mẽ dựa trên sự tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau. Mặc dù có khoảng cách tâm lý vốn bị chia rẽ bởi sự khác biệt về ý thức hệ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nhưng hai nước đã có đủ sáng suốt để phát triển các mối liên kết hữu ích trong hợp tác thương mại và kinh tế.

Về hợp tác chính trị chiến lược

Quan hệ song phương đã chứng kiến sự thay đổi mô hình từ năm 2000 khi hai nước tìm cách tạo ra một quan hệ đối tác toàn cầu mới. Cho đến thời điểm đó, mối quan hệ Ấn Độ-Nhật Bản chủ yếu chỉ giới hạn trong các cam kết kinh tế như nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) và thương mại. Ngày nay, mối quan hệ đó đã đa dạng hơn và đan xen nhiều lợi ích bao gồm an ninh khu vực và toàn cầu, chống khủng bố, giải trừ vũ khí hạt nhân, an ninh hàng hải, hợp tác về năng lượng, biến đổi khí hậu và cải tổ Liên hợp quốc. Sự hiểu biết lẫn nhau về lợi ích quốc gia và ngoại giao đã được cải thiện rõ rệt, trong khi sự hội tụ chiến lược cũng như điểm tương đồng về quan điểm có xu hướng gia tăng và tạo ra cơ hội chưa từng có cho một mối quan hệ đối tác gần gũi hơn. Hai nước chia sẻ nhiều mối quan tâm và lợi ích chung ở khu vực.

Được biết sẽ có một sự thay đổi chiến lược trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong vòng 10 hoặc 20 năm tới, cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản đều mong muốn tăng cường hợp tác để đảm bảo rằng một sự thay đổi lớn như vậy, và khi nó xảy ra, sẽ không làm mất cân bằng quyền lực trong khu vực. Là hai nền dân chủ sôi động, Ấn Độ và Nhật Bản muốn đóng góp vào sự phát triển của một trật tự khu vực mới, mở cửa, đa cực, dựa trên luật pháp và không có sự thống trị của bất kỳ một quốc gia đơn phương nào.

Sau tuyên bố vào năm 2000 của Thủ tướng Yoshiro Mori về mối quan hệ đối tác toàn cầu giữa Ấn Độ và Nhật Bản, cả hai nước đã hành động nhanh chóng để bổ sung thêm các nội dung chiến lược cho quan hệ đối tác. Năm 2005, Thủ tướng Shinzo Abe và người đồng cấp Ấn Độ Manmohan Singh đã mở rộng quan hệ đối tác toàn cầu với các vấn đề chiến lược, đồng thời hai bên đã tạo ra một số cơ chế bao gồm cả việc tăng cường hợp tác ở hội nghị thượng đỉnh hàng năm. Một số cơ chế đối thoại khác ở cấp bộ trưởng và thứ trưởng trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, hàng hải và hợp tác năng lượng cũng đã được thiết lập để thúc đẩy mối quan hệ đối tác đa tầng. Toàn bộ quá trình đó đã được làm nổi bật khi hai nước ký Tuyên bố về Hợp tác an ninh vào tháng 10/2008. Điều này thể hiện tầm quan trọng mà Tokyo giành cho Ấn Độ trong khi trên thực tế Nhật Bản chỉ có một thoả thuận tương tự với Mỹ và Úc. Bên cạnh đó, một khía cạnh quan trọng của tuyên bố là nhấn mạnh tới nhu cầu phối hợp chính sách song phương trong các vấn đề khu vực cũng như hợp tác trong các diễn đàn đa phương ở châu Á như Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF).

Trong bối cảnh này, điều quan trọng cần lưu ý là cả ông Manmohan Singh và ông Taro Aso (sau đó là Thủ tướng Nhật Bản) đã nhấn mạnh rằng quan hệ đối tác giữa Ấn Độ và Nhật Bản không hướng tới bất kỳ nước thứ ba nào và ít nhất là Trung Quốc. Mặc dù có những vấn đề song phương với Trung Quốc, nhưng cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản đều tin tưởng vào sự tham gia của Bắc Kinh về kinh tế cũng như an ninh. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ và Nhật Bản. Quan hệ mật thiết với Trung Quốc là một yếu tố quan trọng thúc đẩy hòa bình khu vực. Cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản đều hiểu rằng trong bất kỳ cấu trúc nào của trật tự khu vực trong tương lai, Trung Quốc sẽ là nhân vật nổi bật và sẽ là khôn ngoan khi tìm cách lồng ghép Trung Quốc vào dòng chảy chính của khu vực và biến Bắc Kinh trở thành một bên liên quan có trách nhiệm.

Tiếp sau tuyên bố đó, sự phát triển quan hệ giữa Ấn Độ và Nhật Bản chứng tỏ sự hội tụ nhiều hơn các lợi ích chiến lược giữa hai nước. Điển hình là đã có sự kết hợp mạnh mẽ giữa chính sách “Hành động hướng Đông” của Thủ tướng Modi và chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rộng mở và tự do” của Thủ tướng Abe. Ngoài ra, sáng kiến mới nhất của hai nước là thúc đẩy hình thành tuyến Hành lang tăng trưởng Á-Phi nhằm cải thiện kết nối kinh tế và cơ sở hạ tầng ở cả hai châu lục và đây có thể là dự án cung cấp một giải pháp thay thế cho sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) của Trung Quốc. Ngoài ra, hai nước cũng đã thành lập hai diễn đàn 3 bên với Mỹ, Úc và thường xuyên họp để thảo luận về tình hình chiến lược đang thay đổi ở châu Á bao gồm các vụ thử tên lửa và hạt nhân của Triều Tiên, sự quyết đoán của Trung Quốc ở biển Hoa Đông, Biển Đông, khủng bố và thiên tai.

Về hợp tác quốc phòng-an ninh

Hợp tác quốc phòng giữa hai nước cũng đã chứng kiến những tiến bộ đáng kể trong những năm gần đây. Bộ trưởng quốc phòng hai nước gặp nhau trong các cuộc đối thoại quốc phòng hàng năm để thảo luận về một loạt vấn đề liên quan đến hợp tác song phương. Thủ tướng Modi đã bày tỏ sự hết sức quan tâm tới việc thúc đẩy Nhật Bản đóng vai trò then chốt trong lĩnh vực sản xuất quốc phòng của Ấn Độ. Chính phủ Ấn Độ đã nới lỏng đáng kể các quy định của mình để chào đón các công nghệ nước ngoài lớn hơn trong lĩnh vực quốc phòng. Chính phủ Nhật Bản cũng đã sửa đổi chính sách chuyển giao công nghệ quốc phòng cho nước ngoài. Có một thực tế, tình huống “cùng thắng” đã được cả hai quốc gia sử dụng. Các cuộc đàm phán về việc Ấn Độ mua các thủy phi cơ US-2i của Nhật Bản có thể là một ví dụ điển hình cho sự hợp tác song phương này.

Trong khi đó, an ninh hàng hải là một chủ đề quan trọng khác mà cả hai nước đều có các lợi ích hội tụ. Cả hai đều cam kết tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không và thương mại hợp pháp không bị cản trở trong các vùng biển rộng mở. Về các tranh chấp ở Biển Đông, họ đã khẳng định rằng tất cả các bên liên quan đến tranh chấp cần tìm kiếm một giải pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc có các hành động đơn phương. Trong bối cảnh này, cần lưu ý rằng cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản đã thực hiện một số bước đi cụ thể để bảo vệ an ninh hàng hải khi cả hai đều phụ thuộc vào thương mại biển. Ngoài việc tiến hành các cuộc tập trận hải quân song phương, Nhật Bản đã tham gia thường xuyên các cuộc tập trận hải quân 3 bên “Malabar” hàng năm với Mỹ và Ấn Độ từ năm 2015.

Về hợp tác kinh tế và đầu tư

Hợp tác kinh tế vẫn tiếp tục tạo nền tảng cho mối quan hệ đối tác Ấn-Nhật Bản và ông Modi quan tâm đến việc đảm bảo sự tham gia của Nhật Bản trong một số dự án cơ sở hạ tầng quan trọng. ODA của Nhật Bản đang được sử dụng để hiện đại hóa các ngành then chốt ở Ấn Độ bao gồm giao thông, truyền thông, điện, thủy lợi, cảng biển, môi trường và y tế. Đặc biệt quan trọng là sự trợ giúp của Nhật Bản đối với việc thành lập các hệ thống vận tải tập trung ở các thành phố lớn như Bangalore, Chennai, Kolkata và Mumbai. Ấn Độ là nước đầu tiên nhận ODA của Nhật Bản vào năm 1958, và trở thành nước nhận viện trợ lớn nhất từ Tokyo kể từ năm 2005. Nhật Bản cũng tham gia sâu vào một số dự án hàng đầu ở Ấn Độ như Hành lang vận tải Delhi-Mumbai, Hành lang công nghiệp Delhi-Mumbai và Hành lang công nghiệp Chennai-Bangalore. Những sự hợp tác này sẽ làm thay đổi bản đồ công nghiệp của Ấn Độ trong những năm tới.

Trong chuyến thăm gần đây nhất tới Ấn Độ và tham dự hội nghị thượng đỉnh song phương lần thứ tư, ông Abe và ông Modi đã dự lễ chính thức khởi công xây dựng hệ thống tàu điện cao tốc đầu tiên của Ấn Độ, nối từ thành phố Mumbai tới Ahmedabad. Điều này đã mang lại tầm quan trọng đáng kể cho ông Abe khi quan tâm đến việc cung cấp cơ sở hạ tầng chất lượng cao của Nhật Bản cho các nước châu Á. Nhiều người tin rằng dự án Mumbai-Ahmedabad có thể thiết lập một tiêu chuẩn cho các nước khác.

Trong những năm gần đây, Chính phủ Ấn Độ đã khuyến khích Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế ở khu vực Đông Bắc Ấn Độ, vốn vẫn còn lạc hậu do thiếu cơ sở vật chất và hạ tầng. Nhật Bản hiện đang tham gia thực hiện một số dự án quan trọng trong khu vực bao gồm xây dựng đường cao tốc, điện, nước thải, quản lý nước và tài nguyên thiên nhiên. Gần đây, cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản đã thành lập một cơ quan điều phối để tăng cường việc thực hiện hiệu quả các dự án khác nhau. Về thương mại và đầu tư, theo các cuộc khảo sát của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), Ấn Độ là một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất của Nhật Bản. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật Bản đã tăng đáng kể trong những năm gần đây. FDI tích lũy của Nhật Bản ở Ấn Độ trong giai đoạn từ năm 2000 đến tháng 3/2017 lên tới 25,6 tỷ USD, và trở thành nhà đầu tư lớn thứ ba ở Ấn Độ. FDI của Nhật Bản chiếm 8% tổng lượng FDI của Ấn Độ.

Cuộc gặp thượng đỉnh song phương mới đây đã tạo cơ hội cho lãnh đạo hai nước thực hiện các biện pháp thúc đẩy dòng đầu tư của Nhật Bản. Tuy nhiên, khối lượng thương mại song phương vẫn còn thấp cho dù hai nước đã ký Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện (CEPA) từ năm 2011. CEPA vẫn không tạo ra những kết quả như mong đợi. Do đó, cả hai nước cần phải tìm kiếm những thay đổi trong CEPA để đảm bảo rằng thương mại song phương sẽ có những tiến bộ đáng kể trong vài năm tới.

Tóm lại, có thể thấy rằng quan hệ đối tác Ấn Độ-Nhật Bản đã chứng kiến nhiều sự thay đổi quan trọng kể từ năm 2000. Hợp tác giữa hai nước đã trở thành một thành tố quan trọng đóng góp vào hòa bình và ổn định ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và mối quan hệ đó được thúc đẩy bởi sự kết hợp của các yếu tố chiến lược và kinh tế. Sự trỗi dậy của Trung Quốc đã tạo ra mối quan tâm chiến lược chung. Nhưng cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản tin rằng sẽ là khôn ngoan nếu thu hút sự tham gia của Trung Quốc về mặt kinh tế cũng như an ninh. Họ tin rằng sự tham gia tích cực về kinh tế cùng với sự minh bạch hơn trong chiến lược quân sự của Trung Quốc có thể làm cho Bắc Kinh trở thành một bên liên quan có trách nhiệm trong khu vực và thậm chí góp phần tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau tốt hơn giữa các nước trong khu vực.

K.V.Kesavan,  chuyên gia nghiên cứu cao cấp thuộc Viện nghiên cứu các nhà quan sát Ấn Độ (ORF). Bài viết được đăng trên Viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương (IAPS).

Văn Cường (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều có thể sử dụng quân bài hy sinh Trung Quốc

Cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều có thể sử dụng quân bài hy sinh Trung Quốc

Nếu Trung Quốc không kiểm điểm lại sâu sắc chính sách của mình đối với Triều Tiên mà chỉ đơn giản đẩy trách nhiệm cho nước khác, thì đây là sai lầm lịch sử và quốc gia cuối cùng bị thiệt hại sẽ là Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Những giới hạn trong sự can dự với Triều Tiên

Những giới hạn trong sự can dự với Triều Tiên

Trong suốt chiến dịch tranh cử vào ghế tổng thống mới của Hàn Quốc, ông Moon Jae-in đã hứa hẹn phục hồi chính sách ánh dương can dự với Triều Tiên. Dù tổng thống Hàn Quốc có cơ hội để thực hiện chính sách này hay không, chính sách Ánh dương vẫn tồn tại những hạn chế và đó là điều mà Hàn Quốc và cả Mỹ cần khắc phục.

Đọc tiếp...

Trung Quốc đang theo kiểu mô hình bá quyền khu vực như thế nào?

Trung Quốc đang theo kiểu mô hình bá quyền khu vực như thế nào?

Thời điểm ảnh hưởng bao trùm của Trung Quốc về kinh tế, quân sự và chính trị tại khu vực sẽ đến. Các đồng minh và đối tác của Mỹ tại khu vực có cần phải tăng cường nỗ lực phòng vệ riêng rẽ và đẩy mạnh hợp tác với quốc gia khác trong khu vực hay không và bằng cách nào?

Đọc tiếp...

Philippines: Chính sách đối ngoại nhằm đối phó với môi trường an ninh năng động

Philippines: Chính sách đối ngoại nhằm đối phó với môi trường an ninh năng động

Để hiểu được chính sách đối ngoại đang nổi lên của Duterte, cần phân tích giao điểm của 5 yếu tố then chốt: chủ nghĩa dân túy; sự tập trung quyền lực nhanh chóng trong tay Duterte; thiếu sự cam kết rõ ràng của Mỹ đối với Philippines ở Biển Đông; sự ve vãn của Trung Quốc nhằm thuyết phục Philippines gạt Phán quyết sang một bên; và cuối cùng là việc Duterte “cá nhân hoá” chính sách đối ngoại.

Đọc tiếp...

Giấc mộng toàn cầu của Trung Quốc – Ác mộng của láng giềng

Giấc mộng toàn cầu của Trung Quốc – Ác mộng của láng giềng

Những lời ca tụng sự hội nhập Á-Âu của Tập Cận Bình có thể bỏ qua sự bành trướng vốn thường bạo lực của Trung Quốc, nhưng lịch sử đó chưa bị các nước láng giềng của Trung Quốc lãng quên.

Đọc tiếp...

Mỹ tấn công Syria: Điều gì xảy ra tiếp theo?

Mỹ tấn công Syria: Điều gì xảy ra tiếp theo?

Ngày 7/4, Mỹ và đồng minh Anh, Pháp đã tấn công Syria. Câu hỏi đặt ra là hệ quả của cuộc tấn công sẽ như thế nào? Hành động của Mỹ có vi phạm luật pháp của chính nước Mỹ và luật pháp quốc tế hay không?

Đọc tiếp...

Vấn đề khó trong quan hệ Trung - Ấn và sách lược của Trung Quốc

Vấn đề khó trong quan hệ Trung - Ấn và sách lược của Trung Quốc

Giữa Trung Quốc và Ấn Độ tồn tại rất nhiều vấn đề mang tính kết cấu, vốn đã hạn chế sự hợp tác chiến lược giữa hai nước. Ấn Độ là một nước mạnh trong khu vực, trên thế giới cũng có không ít những nước kiểu này. Làm thế nào để xử lý mối quan hệ với những nước này, trong phân tích về chiến lược ngoại giao của Trung Quốc lại không đề cập nhiều và điều này cần phải được thay đổi.

Đọc tiếp...

Nút thắt đe dọa Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc tại Nam Á

Nút thắt đe dọa Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc tại Nam Á

Các nước Nam Á tham gia dự án Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc (MSR) đã có những quan ngại khác nhau về hậu quả của sự phụ thuộc vào tài chính và chủ quyền đối với Trung Quốc. Tất cả những điều đó cho thấy những thách thức lớn cho các dự án MSR của Trung Quốc tại khu vực này.

Đọc tiếp...

ASEAN-Ấn Độ và chính sách Hành động phía Đông: Để lời nói đi đôi với hành động

ASEAN-Ấn Độ và chính sách Hành động phía Đông: Để lời nói đi đôi với hành động

Dù rất tích cực can dự và hợp tác với khu vực, nhưng có một hố sâu ngăn cách giữa tham vọng và khả năng thực hiện của Ấn Độ. Nếu nghiêm túc về mở rộng ảnh hưởng về phía Đông, Ấn Độ cần thực hiện và hoàn tất nhiều việc hơn nữa.

Đọc tiếp...

Lá bài Đài Loan trong quan hệ Mỹ-Trung

Lá bài Đài Loan trong quan hệ Mỹ-Trung

Hiện nay, với việc thông qua Đạo luật đi lại Đài Loan và xét tới những thay đổi nhân sự gần đây và có thể đang chờ giải quyết trong Chính quyền Trump, có một khả năng rất thực tế là ở một số thời điểm Trump có thể sử dụng lá bài Đài Loan theo cách có nguy cơ gây ra xung đột quân sự với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Tại sao thượng đỉnh Trump-Kim khó tạo ra đột phá quan hệ Mỹ-Triều?

Tại sao thượng đỉnh Trump-Kim khó tạo ra đột phá quan hệ Mỹ-Triều?

Triều Tiên và Mỹ vẫn còn khác biệt quá nhiều trong những mục tiêu kỳ vọng, và dù có thỏa thuận nào được lập ra, thì việc xác minh sự phi hạt nhân hóa Triều Tiên và một bản thảo về hiệp ước hòa bình để chính thức kết thúc Chiến tranh Triều Tiên cũng sẽ phải mất vài năm mới có thể hoàn thiện.

Đọc tiếp...

Đạo luật Đài Loan mới của Mỹ có thể dẫn đến chiến tranh Trung-Đài

Đạo luật Đài Loan mới của Mỹ có thể dẫn đến chiến tranh Trung-Đài

Câu hỏi thực sự là ông Tập sẽ có phản ứng như thế nào trong vòng 3-5 năm tới, sau khi đã đánh cược quyền lực hợp pháp của mình vào "việc trẻ hóa đất nước Trung Quốc" thông qua việc sáp nhập Đài Loan, khi ông nhận thấy rằng con đường "thống nhất hòa bình" ngày càng xa.

Đọc tiếp...

Ý nghĩa chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam tới New Zealand và Úc

Ý nghĩa chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam tới New Zealand và Úc

Việc một số cường quốc châu Á có cách tiếp cận đơn phương đối với một số vấn đề khu vực có tầm quan trọng đặc biệt đã làm cho các quốc gia liên quan lo lắng. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ giữa các nước Úc, New Zealand, Nhật Bản, Ấn Độ và Việt Nam được tăng cường là điều hết sức quan trọng.

Đọc tiếp...

Cơ chế 4 bên và tham vọng của ông Tập

Cơ chế 4 bên và tham vọng của ông Tập

Việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, lớn tiếng đe dọa Đài Loan, nhiều lần lấn chiếm biên giới ở dãy Himalaya, xâm nhập thường xuyên Senkaku là những minh chứng thực tế rõ nhất về chính sách ngoại giao và chiến lược của nước này.

Đọc tiếp...

Sự răn đe hạt nhân của Mỹ ở Đông Bắc Á: Những vai trò hạn chế

Sự răn đe hạt nhân của Mỹ ở Đông Bắc Á: Những vai trò hạn chế

Trước những nỗ lực không ngừng của Triều Tiên trở thành một nhà nước sở hữu vũ khí hạt nhân và sự nổi lên của sức mạnh Trung Quốc, cuốn “Nhật Bản, Hàn Quốc và cái ô hạt nhân của Mỹ: sự răn đe sau Chiến tranh Lạnh” đưa ra cho độc giả cái nhìn sâu sắc vô giá về cách thức xem xét vai trò của Mỹ trong việc đối phó với các cuộc đối đầu hạt nhân hiện tại và trong tương lai ở Đông Bắc Á.

Đọc tiếp...

Canh bạc ngoại giao của Nga trên bán đảo Triều Tiên

Canh bạc ngoại giao của Nga trên bán đảo Triều Tiên

Nga đã học được bài học một cách khó nhọc rằng ảnh hưởng đòn bẩy và khả năng bảo vệ các lợi ích của nước này trong vấn đề bán đảo Triều Tiên tương quan với mức độ quan hệ của nước này với Triều Tiên; nếu không, Nga sẽ bị loại khỏi cuộc chơi và trở thành bên thứ yếu.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ: Hợp tác sức mạnh mềm

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ: Hợp tác sức mạnh mềm

Quan hệ Ấn Độ-Việt Nam không phải mới hình thành gần đây; hai quốc gia có quá khứ lịch sử kéo dài nhiều thiên niên kỷ, và tầm quan trọng của nó chưa bao giờ mất đi trong tiến trình phát triển của thời kỳ hiện đại.

Đọc tiếp...

Khía cạnh địa chính trị của sự đồng thuận Bắc Kinh-Moskva

Khía cạnh địa chính trị của sự đồng thuận Bắc Kinh-Moskva

Bất chấp mọi rủi ro, quan hệ Trung-Nga đã phát triển thành sự hợp tác ngày càng chặt chẽ hơn. Việc tích hợp "Vành đai và Con đường" của Trung Quốc và Liên minh kinh tế Á-Âu của Nga sẽ có những tác động lớn đối với cả Châu Á và phương Tây.

Đọc tiếp...

Mỹ cần củng cố quan hệ đồng minh để đối phó với Trung Quốc

Mỹ cần củng cố quan hệ đồng minh để đối phó với Trung Quốc

Việc công bố Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) và Chiến lược Quốc phòng (NDS) mới, Chính quyền Trump đã báo trước về mối quan hệ đối đầu hơn với Trung Quốc. Tuy nhiên, các đồng minh và bạn bè của Mỹ nghi ngờ về việc liệu lời lẽ của Chính quyền Mỹ có liên hệ thế nào với thực tế chiến lược.

Đọc tiếp...

Các biện pháp thúc đẩy quan hệ chiến lược Mỹ - Indonesia

Các biện pháp thúc đẩy quan hệ chiến lược Mỹ - Indonesia

Việc tổ chức tập trận chung Mỹ - Indoneisa gần quần đảo Natuna sẽ giúp tăng cường quan hệ đối tác an ninh giữa hai nước và cho Trung Quốc thấy rằng Indonesia sẽ không còn áp dụng một cách tiếp cận thụ động đối với các mối quan tâm ở Biển Đông.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 6986 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin