20 - 1 - 2018 | 0:40
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Mỹ và chính sách "Một Trung Quốc"

Mỹ và chính sách "Một Trung Quốc"

Email In PDF.

Bài viết mang tính cơ bản của hai chuyên gia hàng đầu tại CSIS, Bonnie S. Galser và Michael J. Green, về chính sách “Một Trung Quốc” của Mỹ cũng như tầm quan trọng của Đài Loan đối với cả Trung Quốc và Mỹ.

 

Vào ngày 11/1, Rex Tillerson, ứng cử viên được Tổng thống Trump đề cử cho vị trí Ngoại trưởng, đã tái khẳng định cam kết của Mỹ đối với Đài Loan, dựa trên Đạo luật Quan hệ với Đài Loan (TRA) và 6 đảm bảo, trong buổi điều trần để phê chuẩn chức vụ của ông tại Thượng viện. Ông cũng cho biết ông không biết về “bất kỳ kế hoạch nào nhằm thay đổi” chính sách “Một Trung Quốc” của Mỹ. 

Chính sách “Một Trung Quốc” của Mỹ là gì? Vì sao nó tồn tại? 

Khi Mỹ có động thái công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và ngừng việc công nhận nước Trung Hoa Dân quốc vào năm 1979, Mỹ đã tuyên bố rằng chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là “Chính quyền hợp pháp duy nhất của Trung Quốc”. Duy nhất ở đây có nghĩa là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã và đang là nước Trung Quốc duy nhất, mà không có sự xem xét Trung Hoa Dân quốc như một thực thể có chủ quyền riêng. 

Tuy nhiên, Mỹ không nhượng bộ yêu cầu của Trung Quốc rằng nước này công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Đài Loan (đây là cái tên Mỹ ưa chuộng hơn kể từ khi nước này lựa chọn không công nhận Trung Hoa Dân quốc). Thay vào đó, Washington thừa nhận lập trường của Trung Quốc cho rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc. Vì những lý do địa chính trị, cả Mỹ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đều sẵn sàng xúc tiến sự công nhận ngoại giao bất chấp những bất đồng của họ trong vấn đề này. Khi Trung Quốc cố gắng sửa đổi văn bản tiếng Trung từ chữ “thừa nhận” ban đầu thành chữ “công nhận”, Thứ trưởng Ngoại giao Warren Christopher đã nói với một người chất vấn trong phiên điều trần trước Thượng viện rằng: “Chúng tôi coi văn bản tiếng Anh là văn bản có tính ràng buộc. Chúng tôi coi từ ‘thừa nhận’ là từ mang tính quyết định đối với Mỹ”. Trong Thông cáo Mỹ-Trung ngày 17/8/1982, Mỹ đã tiến thêm một bước xa hơn khi tuyên bố rằng nước này không có ý định theo đuổi chính sách “hai Trung Quốc” hay “một Trung Quốc, một Đài Loan”. 

Cho đến nay, lập trường “Một Trung Quốc” của Mỹ vẫn đứng vững: Mỹ công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc nhưng chỉ thừa nhận lập trường của Trung Quốc rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc. Do đó, Mỹ duy trì quan hệ chính thức với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và có quan hệ không chính thức với Đài Loan. Chính sách “Một Trung Quốc” sau đó đã được tái khẳng định bởi mọi chính quyền Mỹ mới đắc cử. Việc tồn tại hiểu biết này đã cho phép duy trì sự ổn định ở Eo biển Đài Loan, cho phép cả Đài Loan lẫn Trung Quốc Đại lục theo đuổi những sự chuyển đổi chính trị và kinh tế-xã hội phi thường của họ trong nền hòa bình tương đối. 

Mỹ có lập trường như thế nào về bên nắm giữ chủ quyền đối với Đài Loan? 

Trong Hiệp ước hòa bình San Francisco năm 1951, Nhật Bản đã từ bỏ “toàn bộ quyền, tư cách và tuyên bố chủ quyền đối với Formosa và quần đảo Pescadores (Bành Hồ)”. Cả Trung Hoa Dân quốc lẫn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đều không phải là các bên tham gia hiệp ước, và do đó cả hai đều không được tuyên bố là bên thụ hưởng của sự từ bỏ của Nhật Bản. 

Trong khi các ghi chú cá nhân của Tổng thống Richard Nixon cho thấy ông sẵn sàng công nhận tư cách của Đài Loan như đã được xác định và là một phần của Trung Quốc, các văn bản và tuyên bố sau này của Mỹ cho thấy Mỹ không có lập trường đối với câu hỏi về chủ quyền của Đài Loan. 

Lập trường của Mỹ về chủ quyền đối với Đài Loan vẫn kiên định và nhất quán với chính sách “Một Trung Quốc” của nước này: Cả hai bờ Eo biển Đài Loan nên cùng nhất trí một cách hòa bình về một giải pháp cho vấn đề chưa được giải quyết này. Mỹ không đồng ý với tuyên bố chủ quyền đối với Đài Loan của Bắc Kinh, và cũng không đồng ý với Đài Bắc rằng Trung Hoa Dân quốc là một nhà nước độc lập và có chủ quyền. 

Đạo luật Quan hệ với Đài Loan là gì, và nó đóng vai trò gì trong chính sách của Mỹ về Đài Loan? 

Sau khi Chính quyền Jimmy Carter công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật Quan hệ với Đài Loan vào năm 1979 nhằm bảo vệ lợi ích an ninh và thương mại đáng kể của Mỹ ở Đài Loan. TRA cung cấp một khuôn khổ cho quan hệ được tiếp tục mà không có các mối quan hệ ngoại giao chính thức. Nó cũng đặt ra các cam kết của Mỹ về an ninh của Đài Loan và trao quyền cho Quốc hội giám sát các phương diện khác nhau của chính sách Đài Loan của Mỹ. Đạo luật này yêu cầu tổng thống phải nhanh chóng thông báo cho Quốc hội về bất kỳ mối nguy hiểm nào được lường trước đối với Đài Loan và tham vấn với Quốc hội để đưa ra một phản ứng phù hợp. TRA cũng ủy quyền cho việc tiếp tục các quan hệ thương mại, văn hóa và các quan hệ khác giữa nhân dân Mỹ và người dân ở Đài Loan. Mỗi Quốc hội sau đó đều tái khẳng định TRA để đảm bảo rằng sự thiếu vắng quan hệ ngoại giao không gây ảnh hưởng xấu tới mối quan hệ vững mạnh và trọng yếu được tiếp tục giữa Mỹ và Đài Loan. 

TRA đề xuất coi Viện Hoa Kỳ tại Đài Loan như thực thể pháp nhân xử lý quan hệ của Mỹ với hòn đảo này; làm rõ rằng quyết định của Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa dựa trên kỳ vọng rằng tương lai của Đài Loan sẽ được xác định bởi các biện pháp hòa bình; coi bất kỳ nỗ lực nào nhằm xác định tương lai của Đài Loan không thông qua các biện pháp hòa bình, bao gồm các cuộc tẩy chay hoặc các lệnh cấm vận, là mối đe dọa đối với hòa bình và an ninh của khu vực Tây Thái Bình Dương và là mối quan ngại nghiêm trọng đối với Mỹ; ủy nhiệm rằng Mỹ phải cung cấp vũ khí phòng thủ cho Đài Loan; và yêu cầu Mỹ phải duy trì khả năng chống trả bất kỳ hành động viện đến vũ lực nào hoặc các hình thức ép buộc khác mà sẽ gây nguy hiểm cho an ninh, hoặc hệ thống xã hội hay kinh tế của người dân ở Đài Loan. 

TRA cũng tái khẳng định một cách rõ ràng rằng việc giữ gìn và tăng cường nhân quyền cho toàn bộ người dân ở Đài Loan là các mục tiêu của Mỹ. TRA đem lại cho Mỹ các phương tiện pháp lý để tiếp tục quan hệ với Đài Loan trên các phương diện kinh tế, văn hóa và an ninh. Thay cho các trao đổi chính thức, mọi chương trình, giao dịch và quan hệ đều được tiến hành và thực hiện bởi một tổ chức phi lợi nhuận theo hợp đồng của Bộ Ngoại giao – Viện Hoa Kỳ tại Đài Loan (AIT). AIT và cơ quan đồng cấp của nó, Văn phòng đại diện Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc (TECRO), xử lý các tương tác giữa Đài Loan và Mỹ. Cùng với nhau, 2 tổ chức tư nhân này tiến hành quan hệ không chính thức giữa Mỹ và Đài Loan, nhưng không tổ chức nào hoạt động với tư cách chính thức là một đại sứ quán. 

6 đảm bảo là gì? 

Trong thông cáo Mỹ-Trung lần thứ ba được ký ngày 17/8/1982, Mỹ đã tuyên bố “rằng nước này không tìm cách thực hiện một chính sách dài hạn về việc bán vũ khí cho Đài Loan”; “rằng việc bán vũ khí cho Đài Loan của nước này sẽ không vượt quá, về mặt định tính cũng như định lượng, mức độ đã được cung cấp trong những năm gần đây kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Trung Quốc”; và “rằng nước này có ý định giảm dần việc bán vũ khí của mình cho Đài Loan trong một khoảng thời gian trước khi đưa ra một quyết định cuối cùng”. 

Lo ngại về tác động có thể xảy ra của thông cáo về Đài Loan, Tổng thống Ronald Reagan đã đặt một bản ghi nhớ bí mật trong các hồ sơ của Hội đồng An ninh Quốc gia, trong đó tuyên bố rằng sự sẵn sàng của Mỹ giảm bớt việc bán vũ khí cho Đài Loan phụ thuộc vào cam kết liên tục của Trung Quốc đối với giải pháp hòa bình cho các bất đồng giữa 2 bờ Eo biển. Bản ghi nhớ nhấn mạnh rằng số lượng và chất lượng của các vũ khí được cung cấp cho Đài Loan phải được xác định bởi mối đe dọa từ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. 
Reagan cũng thực hiện một bước đi bổ sung khi yêu cầu người đứng đầu AIT, James Lilley, nhân danh tổng thống trình bày bằng lời nói 6 đảm bảo liên quan tới chính sách của Mỹ về Đài Loan. Theo các đảm bảo này, Mỹ: 

- Đã không đồng ý đặt ra thời điểm chấm dứt việc bán vũ khí cho Trung Hoa Dân quốc; 

- Đã không đồng ý tiến hành tham vấn trước với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc bán vũ khí cho Trung Hoa Dân quốc; 

- Sẽ không đóng vai trò hòa giải giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc; 

- Sẽ không sửa đổi Đạo luật Quan hệ với Đài Loan; 

- Đã không thay đổi lập trường của nước này về chủ quyền đối với Đài Loan; và 

- Sẽ không gây áp lực buộc Trung Hoa Dân quốc tham gia đàm phán với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. 

Vì sao Đài Loan quan trọng đối với Mỹ? 

Đài Loan đã chấm dứt thiết quân luật vào năm 1987 và tổ chức cuộc bầu cử tổng thống dân chủ trực tiếp đầu tiên của mình vào năm 1996. Ngày nay, Đài Loan là một nền dân chủ hoạt động đầy đủ, tôn trọng nhân quyền và pháp trị, và có một nền kinh tế mở mà vào năm 2015 đã đưa hòn đảo này trở thành đối tác thương mại lớn thứ 9 của Mỹ, với thương mại song phương giữa Mỹ và Đài Loan đạt mức 66,6 tỷ USD. Do đó, Đài Loan là một đối tác sống còn của Mỹ ở châu Á, một xã hội mạnh mẽ, thịnh vượng, tự do và có trật tự với các thể chế vững mạnh mà đóng vai trò một mô hình kiểu mẫu cho khu vực. 

Đài Loan và Mỹ đang tham gia các chương trình chung trong Khuôn khổ đào tạo hợp tác toàn cầu, làm việc cùng nhau nhằm mở rộng sự hợp tác vốn đã mạnh mẽ giữa hai bên nhằm giải quyết các thách thức toàn cầu trong các lĩnh vực như viện trợ nhân đạo quốc tế, y tế công cộng, bảo vệ môi trường, năng lượng, công nghệ, giáo dục và phát triển khu vực. 
Trong năm 2012, hai quốc gia đã cùng khởi động Chương trình đối tác lãnh đạo quần đảo Thái Bình Dương, và vào năm 2014, Mỹ đã tham gia với tư cách đối tác sáng lập của Chương trình đối tác môi trường quốc tế do Đài Loan khởi xướng. Quan hệ đối tác cũng được nhấn mạnh bởi các nỗ lực hợp tác gần đây của Đài Loan và Mỹ để phản ứng trước các vấn đề cấp bách, từ dịch bệnh Ebola và MERS đến cuộc khủng hoảng nhân đạo về người tị nạn ở Trung Đông. Đài Loan đã chứng tỏ là một đối tác sống còn không chỉ đối với Mỹ, mà còn đối với khu vực. 

Chính quyền Đài Loan cam kết duy trì tình trạng hòa bình và ổn định hiện đang tồn tại giữa 2 bờ Eo biển Đài Loan, một ưu tiên hàng đầu của Mỹ đối với khu vực. Sự tuân thủ của Mỹ đối với cam kết lâu đời của nước này với người dân Đài Loan vẫn là điều quan trọng để duy trì sự tín nhiệm của Mỹ trên khắp Đông Á. 

Các nghĩa vụ và cam kết của Mỹ liên quan tới phòng thủ của Đài Loan là gì? 

Hiệp ước phòng thủ chung giữa Mỹ và Trung Hoa Dân quốc đã có hiệu lực từ ngày 3/3/1955 đến ngày 1/1/1980. Việc chấm dứt hiệp ước đã kết thúc nghĩa vụ của hai bên cung cấp viện trợ và hỗ trợ quân sự cho nhau trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công. Một số nội dung của hiệp ước đã được đưa vào Đạo luật Quan hệ với Đài Loan. TRA tuyên bố rằng mọi nỗ lực nhằm xác định tương lai của Đài Loan bằng bất kỳ biện pháp nào ngoài các biện pháp hòa bình, bao gồm các cuộc tẩy chay hoặc lệnh cấm vận, là mối đe dọa đối với hòa bình và an ninh của khu vực Tây Thái Bình Dương và được coi là mối quan ngại nghiêm trọng đối với Mỹ. Nó cũng quy định rằng quyết định của Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa phụ thuộc vào kỳ vọng rằng tương lai của Đài Loan sẽ được xác định bằng các biện pháp hòa bình. 

TRA đã đặt ra một chính sách cung cấp cho Đài Loan vũ khí có tính phòng thủ, nhưng quyết định cụ thể liên quan tới việc bán vũ khí được đưa ra bởi tổng thống, người có nghĩa vụ thông báo cho Quốc hội về thương vụ bán vũ khí sắp được thực hiện. Trong 10 năm qua, Mỹ đã thông qua các thương vụ bán vũ khí có trị giá 23,7 tỷ USD cho Đài Loan. TRA cũng yêu cầu Mỹ duy trì khả năng chống trả bất kỳ hành động viện đến vũ lực hoặc các hình thức ép buộc khác mà sẽ gây nguy hiểm cho an ninh, hoặc hệ thống xã hội hay kinh tế của người dân ở Đài Loan. 

Tại sao Trung Quốc lại lo sợ Đài Loan trở nên độc lập đến vậy? 

Với việc Hong Kong trở lại dưới sự kiểm soát của Trung Quốc vào tháng 7/1997, Đài Loan vẫn là một trong số ít các khu vực mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền nhưng không kiểm soát. Nó được người dân Trung Quốc Đại lục nhìn nhận một cách rộng rãi như vết tích cuối cùng của thế kỷ nhục nhã mà đã bắt đầu với Chiến tranh Nha phiến vào giữa thế kỷ 19. Sự chia cắt vẫn còn tồn tại giữa Đại lục và Đài Loan cũng được thể hiện như một trở ngại đối với sự tái trỗi dậy của Trung Quốc với tư cách một nước lớn, điều mà Chủ tịch Tập Cận Bình đã gọi là sự phục hưng vĩ đại của đất nước Trung Hoa. Tính hợp pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc được liên kết với lời cam kết tái thống nhất Đài Loan với tổ quốc. Một quan điểm phổ biến ở Đại lục là không có nhà lãnh đạo Trung Quốc nào có thể duy trì được quyền lực nếu người đó cho phép Đài Loan tách khỏi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và được cộng đồng quốc tế công nhận là một nhà nước độc lập có chủ quyền. 

Luật Chống ly khai, được Bắc Kinh thông qua vào năm 2005, đặt ra 3 điều kiện mà theo đó Trung Quốc sẽ được biện minh khi sử dụng “các phương thức phi hòa bình và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc”: 1) Các lực lượng độc lập của Đài Loan gây ra sự kiện Đài Loan ly khai khỏi Trung Quốc; 2) Xảy ra các vụ việc lớn kéo theo việc Đài Loan ly khai khỏi Trung Quốc; hoặc 3) Các khả năng cho việc tái thống nhất trong hòa bình đã hoàn toàn bị cạn kiệt.

Bonnie S. Glaser là cố vấn cao cấp về Châu Á và là giám đốc Dự án Sức mạnh Trung Quốc của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), Mỹ. Michael J. Green là phó giám đốc cấp cao về Châu Á và Chương trình Japan Chair. Bài viết được đăng trên CSIS.

Văn Cường (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Comments  

 
0 #1 Mỹ và chính sách "Một Trung Quốc"Roland 2017-07-26 21:59
Hi admin, do you monetize your blog ? There is easy way to earn extra money every month,
just search on youtube - How to earn $25/hour selling articles

My homepage ... Clement1979: https://ColbyFit.blogspot.com
Quote
 

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Stratfor: Dự báo tình hình thế giới 2018

Stratfor: Dự báo tình hình thế giới 2018

Năm 2017 đã trôi qua với nhiều biến động. Năm 2018 sẽ diễn biến như thế nào? Tiếp nối xu hướng đang diễn ra trong năm 2017 hay sẽ có những bước ngoặt mới định hình xu hướng mới trong đời sống chính trị quốc tế? Dự báo Tình hình Thế giới 2018 của công ty Phân tích Tình báo toàn cầu Stratfor sẽ cho chúng ta bức tranh tổng thể về vấn đề này.

Đọc tiếp...

Nga-Nhật: Những giới hạn của sự xích lại gần mang tính chiến lược

Nga-Nhật: Những giới hạn của sự xích lại gần mang tính chiến lược

Một sự xích lại gần nhau Nhật-Nga như mong muốn của hai bên thực sự ít khả năng được định hình, vì lẽ chính sách ngoại giao Nga vốn "lấy phương Tây làm trung tâm", hay chính sách ngoại giao Nhật Bản khó có thể xa rời đường hướng của Mỹ, và thế tương quan lực lượng địa chính trị ở châu Á vốn được hình thành xung quanh sự đối đầu Trung-Mỹ.

Đọc tiếp...

Nhật-Trung và dòng ký ức lịch sử

Nhật-Trung và dòng ký ức lịch sử

Trải qua 80 năm vụ thảm sát Nam Kinh, những vấn đề lịch sử sẽ vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến mối quan hệ Trung – Nhật. Người dân khu vực Đông Á cần tìm tiến hành những bước đi táo bạo để giải quyết vấn đề, giữ ổn định, hòa bình khu vực.

Đọc tiếp...

Nga có thể đóng vai trò gì trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng Triều Tiên?

Nga có thể đóng vai trò gì trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng Triều Tiên?

Nga có những lợi thế riêng trong việc giải quyết vấn đề Triều Tiên. Sự hiện diện của Nga trong vai trò một bên hòa giải tiềm năng có thể là hữu ích, nhưng với điều kiện Bắc Triều Tiên chấp nhận và Mỹ - Nga phải nhất trí cao về một mẫu số chung trong vấn đề Triều Tiên: phi hạt nhân hóa.

Đọc tiếp...

Sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc gây thêm căng thẳng với Ấn Độ

Sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc gây thêm căng thẳng với Ấn Độ

Nếu Bắc Kinh duy trì cách thức thực hiện sáng kên Vành đai và Con đường (BRI) hiện nay, thì họ sẽ buộc New Delhi phải đối trọng với sức mạnh đang gia tăng của Trung Quốc, điều này sẽ mang lại cho Mỹ một cơ hội để tiếp tục làm sâu sắc thêm các mối quan hệ an ninh và kinh tế với New Delhi để đối phó với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chính sách đối ngoại của Nga: Cái nhìn năm 2018

Chính sách đối ngoại của Nga: Cái nhìn năm 2018

Trên cơ sở cách tiếp cận có hệ thống, báo cáo gia đã phân tích những định hướng then chốt trong chính sách đối ngoại của Nga trong năm 2018, xác định những mối đe dọa chính và cơ hội đối với nước Nga trên trường quốc tế. Các dự báo của báo cáo này bao trùm các khu vực phương Tây, châu Á-Thái Bình Dương, Trung Đông và khu vực láng giềng lân cận.

Đọc tiếp...

Tác động chiến lược và kinh tế tới Nam Á từ sáng kiến Con đường Tơ lụa trên biển của Trung Quốc

Tác động chiến lược và kinh tế tới Nam Á từ sáng kiến Con đường Tơ lụa trên biển của Trung Quốc

Bài nghiên cứu này xem xét việc sáng kiến Con đường Tơ lụa trên biển (MSR) được xây dựng với mục đích gì và được thực hiện ra sao trong khu vực Nam Á, đánh giá các tính toán chính trị và kinh tế của các nước trong khu vực khi tham gia MSR, và xác định những hành động của các nước này để đánh giá khả năng thành công của sáng kiến MSR.

Đọc tiếp...

Chuyển dịch quyền lực và quản lý cường quốc: Ba thập kỷ quan hệ Trung – Nhật – Mỹ

Chuyển dịch quyền lực và quản lý cường quốc: Ba thập kỷ quan hệ Trung – Nhật – Mỹ

Thách thức đặt ra với Mỹ về một Nhật Bản đang trỗi dậy vào những năm 1970 và 1980 được coi là dạng thách thức nào, và thách thức này có điểm gì khác biệt so với thách thức mà Trung Quốc đặt ra cho vị thế của Mỹ ở Đông Á từ đầu những năm 2000? Bài viết sẽ đi sâu phân tích trả lời cho những câu hỏi này.

Đọc tiếp...

Tầm nhìn an ninh khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương: Quan điểm từ Ấn Độ

Tầm nhìn an ninh khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương: Quan điểm từ Ấn Độ

Sự trỗi dậy chưa từng có về kinh tế và quân sự của Trung Quốc, hành vi gây hấn của nước này, các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và sự thay đổi về địa chiến lược mà điều này mang lại, là nguyên nhân chủ yếu gây ra những căng thẳng đang gia tăng trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Sự cân bằng trong khu vực đã bị đảo lộn và việc khôi phục nó là chìa khóa để đảm bảo ổn định khu vực trong tương lai.

Đọc tiếp...

Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Tổng thống Donald Trump và câu đố Ấn Độ của Mỹ

Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Tổng thống Donald Trump và câu đố Ấn Độ của Mỹ

Việc Washington quyết định gắn chặt Ấn Độ vào chiến lược châu Á của họ và việc New Delhi sẵn sàng từ bỏ những do dự về khuôn khổ bốn bên chắc chắn sẽ cải thiện các triển vọng cho Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương như một khái niệm địa chính trị đáng tin cậy.

Đọc tiếp...

Jerusalem: Tìm kiếm một nhà trung gian hòa giải trung thực

Jerusalem: Tìm kiếm một nhà trung gian hòa giải trung thực

Tuyên bố của tổng thống Trump cho thấy Mỹ sẽ rất khó đóng vai trò là bên trung gian trung thực. Bây giờ là lúc Liên minh châu Âu phải làm rõ rằng họ không cần sự cho phép của Mỹ để theo đuổi sự đồng thuận quốc tế cho hòa bình ở Trung Đông. Đã đến lúc phải chuyển từ lời nói sang hành động.

Đọc tiếp...

Hồi chuông cảnh tỉnh của Tổng thống Donald Trump đối với Trung Quốc

Hồi chuông cảnh tỉnh của Tổng thống Donald Trump đối với Trung Quốc

Để đối phó với chính sách đối ngoại ngày càng quyết đoán của Trung Quốc, Mỹ cần phải củng cố các nền móng trong nước và tiếp tục đầu tư vào các liên minh, các quan hệ đối tác và các hệ thống quy tắc và quy chuẩn mà cho phép nước này và các nước châu Á phát triển.

Đọc tiếp...

Tác động của 3 siêu dự án cơ sở hạ tầng của Trung Quốc tại Đông Nam Á

Tác động của 3 siêu dự án cơ sở hạ tầng của Trung Quốc tại Đông Nam Á

Các nước Đông Nam Á có những mối quan ngại thực sự trước những dự án của Trung Quốc. Sự “khập khiễng” về năng lực và nguyện vọng giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á sẽ là nguyên nhân chính cản trở sự tiến triển của những dự án đầy tham vọng của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nhật - Ấn và giấc mơ Ấn Độ - Thái Bình Dương

Nhật - Ấn và giấc mơ Ấn Độ - Thái Bình Dương

Nếu Mỹ mong muốn một “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và cởi mở”, như Ngoại trưởng Rex Tillerson đã hối thúc và Tổng thống Mỹ Donald Trump và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã thảo luận trong cuộc gặp gần đây giữa họ ở Tokyo, thì sẽ không có 2 cường quốc nào quan trọng bằng Ấn Độ và Nhật Bản.

Đọc tiếp...

Ấn Độ chuẩn bị bước tới vị thế cường quốc toàn cầu?

Ấn Độ chuẩn bị bước tới vị thế cường quốc toàn cầu?

Thời cơ để Ấn Độ xác lập vị thế trên trường quốc tế đã đến. Mỹ cần bước đến và đón nhận sự xuất hiện này, thay vì chỉ biết đứng chờ đợi. Mỹ cần phải làm tốt hơn phần việc bình thường hóa thực tế Ấn Độ trỗi dậy và nhấn mạnh tầm quan trọng của quốc gia Nam Á này đối với lợi ích quốc gia của Mỹ và của thế giới, như cách Washington làm với nhiều đối tác châu Âu thân cận khác.

Đọc tiếp...

Hoài nghi về cách tiếp cận mới của Mỹ với Trung Quốc

Hoài nghi về cách tiếp cận mới của Mỹ với Trung Quốc

Nhà Trắng đang chuẩn bị cho một sự thay đổi chính sách khác mà gần như không được nhiều người chú ý, chính quyền Trump sẽ sớm áp dụng chiến lược “sắc nhọn” hơn với các hành vi gian lận thương mại và tìm cách chiếm công nghệ Mỹ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Triều Tiên có thể giành chiến thắng trước Mỹ bằng cách nào?

Triều Tiên có thể giành chiến thắng trước Mỹ bằng cách nào?

Việc đặt niềm tin vào hỏa lực vượt trội và tổ chức quân sự thì những thất bại cũng có thể xảy ra. Những sự thất bại đó là kết quả của tham vọng quân sự ngông cuồng, kể cả việc đánh giá thấp các yếu tố không thể định lượng nhưng lại quan trọng trong chiến tranh như tinh thần chiến đấu hay “các lực lượng tinh thần”.

Đọc tiếp...

Nhật Bản muốn trở lại mạnh mẽ hơn trên trường ngoại giao châu Á?

Nhật Bản muốn trở lại mạnh mẽ hơn trên trường ngoại giao châu Á?

Ông Shinzo Abe và liên minh cầm quyền của ông đã giành thắng lợi lớn với 2/3 số ghế tại cuộc bầu cử Hạ viện ngày 22/10, một điều kiện tiên quyết để ông tiếp tục nhiệm kỳ thủ tướng tiếp theo. Liệu ông Abe sẽ có những "đối sách" như thế nào trước Triều Tiên? Việc cải thiện mối quan hệ với Bắc Kinh có phải là mối ưu tiên của ông?

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Mỹ có thể dẫn dắt khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương như thế nào?

Ấn Độ và Mỹ có thể dẫn dắt khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương như thế nào?

Những lợi ích để xây dựng cấu trúc pháp lý, kinh tế và quân sự ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương là rất lớn. Nếu không có chính sách táo bạo từ Mỹ và Ấn Độ, câu trả lời sẽ là Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Cách thức hình thành hợp tác an ninh giữa Philippines với các đối tác

Cách thức hình thành hợp tác an ninh giữa Philippines với các đối tác

Với việc Philippines cải thiện quan hệ với Trung Quốc sau phán quyết của Tòa, cởi mở trong quan hệ với Nga cùng và tích cực thúc đẩy đàm phán COC, dư luận cho rằng hợp tác quốc phòng lâu dài giữa Mỹ và Philippines có dấu hiệu đi xuống. Vậy các quan hệ hợp tác an ninh của Philippines với các đối tác được hình thành như thế nào?

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 145561 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin