18 - 4 - 2021 | 3:06
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Nhiệm kỳ tổng thống của Donald Trump và tương lai quan hệ Mỹ-Nga

Nhiệm kỳ tổng thống của Donald Trump và tương lai quan hệ Mỹ-Nga

Email In PDF.

Bộ máy chính quyền Mỹ khó có thể coi trọng Putin và đàm phán với ông. Và xu hướng này trong mối quan hệ song phương Mỹ-Nga sẽ tồn tại trong 7-8 năm. Những thay đổi có thể có trong mối quan hệ Moskva-Washington sẽ phụ thuộc lớn vào chính sách đối nội của hai bên

 

171315618.jpg

Không ai ở Mỹ tin rằng mối quan hệ với Nga sẽ được cải thiện cho đến khi Điện Kremlin thay đổi đường hướng chính sách đối ngoại của mình và ngừng cuộc phản kháng chính trị chống lại hệ thống quan hệ quốc tế do Mỹ thiết lập. mối quan hệ Moskva-Washington sẽ phụ thuộc lớn hơn vào chính sách đối nội của Nga và Mỹ.

Bất chấp những dự đoán ban đầu và các cuộc tiếp xúc cử tri sơ bộ sau khi bỏ phiếu dự đoán thất bại của ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa Donald Trump, ông vẫn giành chiến thắng, làm tốt hơn nhiều so với bất kỳ ai có thể dự đoán. Câu hỏi là liệu giờ đây ông Trump có được sự ủy nhiệm chính trị để xúc tiến nhiều sáng kiến chính sách đối nội và đối ngoại gây tranh cãi của mình hay không. Các nhà chỉ trích chỉ ra thực tế rằng ông Trump và bà Clinton gần như chia đôi số phiếu phổ thông, và nhiều bang mà ông Trump giành chiến thắng chỉ bởi khoảng cách vô cùng mong manh. Ngoài ra, ông sẽ vẫn cần phải đương đầu với sự chia rẽ bên trong Quốc hội Mỹ, nơi mà đoàn kết dân tộc có lẽ khó khăn hơn. Ban đầu, chiến thắng của ông Trump là kết quả của thực tế rằng người Mỹ – phải đối mặt với những thách thức xã hội và kinh tế bên trong chính đất nước mình – bắt đầu trở nên rất thất vọng với bộ máy chính quyền và giới tinh hoa chính trị, cũng như với toàn bộ khái niệm toàn cầu hóa. Và xu hướng này thì cũ rích, không chỉ với Mỹ, mà còn với toàn bộ phương Tây. Như cựu Bộ trưởng Tài chính Nga Alexei Kudrin viết trên tài khoản Twitter của mình, cuộc bầu cử tổng thống Mỹ cho thấy động lực hiện tại của tiến trình toàn cầu không đáp ứng được kỳ vọng của nhiều người. Ông miêu tả cuộc bầu cử Mỹ là “sự tiếp nối Brexit”, với các lực lượng cánh hữu và dân túy giành được ảnh hưởng trên khắp châu Âu.

Các chuyên gia phương Tây xuất chúng cũng lặp lại quan điểm này. Chẳng hạn, nhà sử học Niall Ferguson, một học giả cấp cao của Viện nghiên cứu Hoover thuộc Đại học Stanford và Trung tâm nghiên cứu châu Âu thuộc Đại học Harvard, lập luận rằng những người theo chủ nghĩa dân túy như ông Trump “gần như luôn là một phần của hiện tượng toàn cầu”, với việc năm 2016 đã sinh ra “một phản ứng dữ dội theo tư tưởng dân túy chống lại toàn cầu hóa” và bản thân sự chỉ trích này “mang tính toàn cầu trong quy mô của nó”. Ferguson viết: “Chủ nghĩa dân túy ngày nay có đặc tính toàn cầu tương tự. Vào tháng 6, cuộc bỏ phiếu của người Anh rời khỏi Liên minh châu Âu được những người có tư tưởng dân túy ngay trên khắp lục địa châu Âu cũng như được Donald Trump ở Mỹ và, một cách ngấm ngầm, cả Vladimir Putin ở Nga hết lời ca ngợi”. Tuy nhiên, thực tế rằng Trump cuối cùng được bầu cho thấy chế độ dân chủ đã chứng tỏ tính bền vững của nó, bất chấp bất kỳ thách thức nào hiện nay. Giám đốc Dmitri Trenin thuộc Trung tâm Carnegie Moscow đã viết sau kết quả bầu cử tổng thống Mỹ chính thức tuyên bố thắng lợi của ông Trump: “Các đảng viên đảng Dân chủ đã thua, nhưng chế độ dân chủ thì chiến thắng. Nước Mỹ tiếp tục bước đi vì họ tiếp tục thay đổi. Đó là một viên thuốc đắng phải nuốt, nhưng phe nhóm chính trị lại cần nó”. Giữa sự xôn xao hậu bầu cử, Russia Direct đã ngồi cùng với ông Trenin để thảo luận những lý do tại sao người Mỹ lại bầu cho ông Trump và điều đó có ý nghĩa gì đối với mối quan hệ Mỹ-Nga.

Russia Direct (+): Donald Trump sẽ là Tổng thống Mỹ tiếp theo. Chúng ta nên kỳ vọng ở ông chính sách gì với Nga và nhiệm kỳ tổng thống của ông có thể gây ảnh hưởng tới quan hệ Mỹ-Nga như thế nào?

Dmitri Trenin (-): Theo quan điểm của tôi, Trump là người không thể đoán trước được. Tuy nhiên, mặt khác, cũng không thể đoán trước được phản ứng từ bộ máy chính quyền Mỹ đối với nhiệm kỳ tổng thống của ông này, vì ông Trump sẽ không có khả năng tự mình thực hiện và tiến hành các sáng kiến đối ngoại, quân sự và bất kỳ sáng kiến nào khác. Ông ấy sẽ cần phải có một êkíp và người dân. Cho đến nay, rất khó có thể tưởng tượng ai sẽ được đưa vào Chính quyền Trump. Làm thế nào mà những người này có khả năng làm việc với nhau và tìm ra nền tảng chung? Đây cũng không phải là một câu hỏi dễ dàng tìm ra được câu trả lời. Vì vậy, tính không thể đoán trước được này gồm nhiều tầng lớp trong chính bản chất của nó. Đó là lý do tại sao không thể phác thảo ra chính sách của Chính quyền Trump. Và giờ đây khía cạnh này cần phải được tính đến, xét tới thực tế rằng chương trình nghị sự hiện tại của quan hệ Mỹ-Nga đem đến một câu hỏi then chốt, cũng như trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh: Làm sao để ngăn chặn một cuộc chiến tranh nóng? Tôi hy vọng Mỹ và Nga sẽ hợp tác và có khả năng ngăn chặn sự leo thang vượt ngoài quyền kiểm soát và trở thành một cuộc xung đột ở cấp độ hạt nhân. Tôi hy vọng chúng ta sẽ tránh được một tai ương như vậy.

(+): Một số học giả và nhà sử học tìm cách phát hiện ra lôgích nào đó trong tác động của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ lên mối quan hệ Mỹ-Nga xuyên suốt lịch sử. Lôgích rất đơn giản: đảng viên đảng Cộng hòa có lợi cho Điện Kremlin – đảng viên đảng Dân chủ thì không; đảng viên đảng Cộng hòa có tư tưởng kinh doanh thì dễ dàng hòa hợp, còn các đảng viên đảng Dân chủ duy tâm thì không. Do đó, ông Trump là cơ hội cho Nga – Clinton thì không. Giả định được đơn giản hóa quá mức này rất phổ biến trong nhiều chính trị gia và học giả của Nga. Quan điểm của ông là gì?

(-): Đương nhiên, đó là một sự đơn giản hóa quá mức. Đó là một chuyện hoang đường và xuất hiện trong thời nhiệm kỳ tổng thống của Richard Nixon thuộc đảng Cộng hòa (1969-1974), khi Liên Xô và Mỹ thiết lập một đối thoại hữu ích và giới tinh hoa Xôviết đi đến kết luận rằng những người đồng cấp Mỹ coi họ là ngang hàng, dựa trên thế cân bằng quân sự-chiến lược của họ. Câu chuyện hoang đường này được khẳng định hơn nữa bởi nhiệm kỳ tổng thống của Jimmy Carter, người lên nắm quyền với tư cách là một đảng viên đảng Dân chủ với ý tưởng về nhân quyền và không phổ biến vũ khí hạt nhân. Trong suốt nhiệm kỳ của ông, mối quan hệ Xô-Mỹ chứng kiến sự lao dốc đáng kể. Khác biệt lớn giữa các đảng viên đảng Cộng hòa, những người mà Điện Kremlin coi là biết điều và có thể tiếp cận được, và những đảng viên đảng Dân chủ không khoan nhượng là điều hiển nhiên trong mắt các nhà lãnh đạo Xôviết. Nixon và cố vấn an ninh quốc gia của ông Henry Kissinger dễ dàng trở nên hòa hợp hơn so với Carter và êkíp của ông, những người rất khó để đàm phán. Tuy nhiên, nếu nhìn vào vấn đề từ một quan điểm lịch sử rộng lớn hơn, mối quan hệ gần gũi nhất giữa Nga và Mỹ nói chung được thiết lập trong thời đại của các tổng thống Dân chủ, bao gồm Franklin Delano Roosevelt (1933-1945) và Bill Clinton (1993-2001), bất chấp thực tế rằng những năm cuối trong nhiệm kỳ tổng thống của Clinton đã để lại dư vị không mấy dễ chịu cho nước Nga. Quả thực, trong suốt nhiệm kỳ của Clinton, Mỹ tự coi mình là người bảo trợ. Washington vừa rất thân thiện vừa can thiệp quá nhiều vào nước Nga hậu Xôviết và không coi nước này là một đối tác ngang hàng. Nhưng, ở bất kỳ mức độ nào, chúng ta không thể từ chối thực tế rằng đó là tình hữu nghị giữa Moskva và Washington. Vì vậy, theo quan điểm của tôi, việc tin rằng các đảng viên đảng Cộng hòa có lợi cho nước Nga hơn các đảng viên đảng Dân chủ là một chuyện hoang đường, chứ chưa nói đến thực tế rằng nước Mỹ ngày nay đang thay đổi, và bản chất của những sự khác biệt giữa các đảng viên đảng Dân chủ và Cộng hòa không còn giống như trước đây.

(+): Nhưng trên phương diện lịch sử, những chuyện hoang đường như vậy đến từ đâu? Về mặt chính trị, có bất kỳ nền tảng nào để đưa ra những kết luận như vậy hay không?

(-): Có, có một số lý do để tin vào chuyện hoang đường này. Nếu chúng ta đơn giản hóa quá mức, các đảng viên đảng Cộng hòa là hiện thân cho doanh nghiệp Mỹ - các đảng viên đảng Dân chủ là hình mẫu cho những lý tưởng của Mỹ. Tuy nhiên, trên thực tế không có sự thống nhất – có nhiều sự khác biệt nội tại ở cả đảng Cộng hòa lẫn Dân chủ. Kinh doanh mang tính thực dụng. Nó đàm phán, kiên trì bảo vệ các lợi ích của mình và tin tưởng một cách chân thành vào sự hoàn thành lành mạnh. Đây là điều mà những đảng viên đảng Cộng hòa đưa ra. Trong khi đó, các đảng viên đảng Dân chủ, kể từ thời Tổng thống Woodrow Wilson (1913-1921), không ưu tiên những thứ vật chất và hữu hình, mà là những lý tưởng chính trị như các giá trị dân chủ. Vì Mỹ tự coi mình là trung tâm dân chủ toàn cầu, nên mục tiêu then chốt của các đảng viên đảng Dân chủ là khiến thế giới trở nên an toàn hơn thông qua chế độ dân chủ. Do đó, dân chủ trong bối cảnh này được coi là nền tảng chính cho an ninh và toàn bộ trật tự thế giới. Lôgích như vậy cho thấy rằng ưu thế đạo đức quan trọng hơn nhiều so với chủ nghĩa vật chất. Đó là lý do tại sao các đảng viên đảng Dân chủ, không giống như các đảng viên đảng Cộng hòa, lại tập trung nghiêm ngặt hơn vào chính sách đối nội của các nước khác và nhân quyền. Do đó, việc 2 xu hướng này cùng tồn tại – khía cạnh vật chất và đạo đức – định hình nền chính trị Mỹ.

(+): Nếu chúng ta áp dụng điều này để suy ra chính sách của Mỹ với Nga, chúng ta sẽ đối mặt với các vấn đề ở mức độ nào đó: trong trường hợp chủ nghĩa duy tâm, những căng thẳng giữa hai nước sẽ tăng lên nếu kỳ vọng của mỗi bên về nhau không trở thành sự thật. Tương tự, các chính trị gia có tư duy kinh doanh và thẳng thừng sẽ không nhất thiết làm dịu bớt những căng thẳng này. Trái lại, họ có thể sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề. Vì vậy, cơ chế “đảng viên Cộng hòa là nhân vật chính diện – đảng viên Dân chủ là nhân vật phản diện” là hoàn toàn sai lầm.

(-): Chính xác.

(+): Có nhiều lời bàn tán về chính sách đối ngoại của Mỹ, với việc các đảng viên đảng Dân chủ trở nên hiếu chiến hơn đối với Nga và những người đồng cấp với họ thuộc đảng Cộng hòa thì thân thiện hơn với Điện Kremlin. Tuy nhiên, về phương diện lịch sử, điều đó lại ngược lại.

(-): Nếu chúng ta nói về Donald Trump, tình huống là thế này: Ông ấy sẵn sàng thiết lập đối thoại với Nga. Tuy nhiên, nếu bạn đứng về phe Cộng hòa nói chung, sẽ không có sự nhất trí và thống nhất [về việc giao thiệp với Nga như thế nào]. Quan trọng nhất là, những đại diện của đảng Cộng hòa trong bộ máy chính quyền đang bị chia rẽ trong quan điểm của họ về ông Trump: Một số người nhìn nhận ông dưới một quan niệm rất tiêu cực, trong khi những người khác muốn thiết lập các mối quan hệ thân thiết. Nếu chúng ta đặt Nga vào bối cảnh này, nó không được coi là một vấn đề nghiêm trọng cho nền chính trị Mỹ bất chấp thực tế rằng nó đóng một vai trò trong suốt chiến dịch tranh cử tổng thống năm nay như là một yếu tố cho cuộc chạy đua tiền bầu cử. Tuy nhiên, Nga không phải là một nhân tố trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Nước này không phải là ưu tiên lớn nhất cho Mỹ và bộ máy chính trị khó có khả năng đánh giá quá cao tầm quan trọng của Nga. Và xu hướng này dường như còn tồn tại dai dẳng trong tương lai. Không ai ở Mỹ tin rằng mối quan hệ với Nga sẽ được cải thiện cho tới khi Điện Kremlin thay đổi đường hướng chính sách đối ngoại của mình và ngừng cuộc nổi dậy chính trị chống lại hệ thống quan hệ quốc tế do Mỹ thiết lập. Tương tự, không ai bên trong bộ máy chính quyền Mỹ thực sự tin rằng chính sách đối ngoại của Nga sẽ được thay đổi dưới thời Tổng thống Nga Vladimir Putin, chứ chưa nói đến chính sách đối nội của nước này. Hơn nữa, bộ máy chính quyền Mỹ khó có thể coi trọng Putin và đàm phán với ông. Và xu hướng này trong mối quan hệ song phương Mỹ-Nga sẽ tồn tại trong 7-8 năm. Những thay đổi có thể xảy ra trong mối quan hệ Moskva-Washington sẽ phụ thuộc lớn hơn vào chính sách đối nội của Nga và Mỹ.

Dmitri Trenin là Giám đốc của Carnegie Moscow Center. Bài viết đăng trên “Carnegie.ru” (ngày 9/11)

Hương Trà (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

QUAD tìm kiếm vai trò phi quân sự và phản ứng chiến lược từ Trung Quốc: Chủ nghĩa tiểu đa phương, đầu tư cơ sở hạ tầng và cân bằng khu vực

QUAD tìm kiếm vai trò phi quân sự và phản ứng chiến lược từ Trung Quốc: Chủ nghĩa tiểu đa phương, đầu tư cơ sở hạ tầng và cân bằng khu vực

Bài viết phân tích mục đích và sự mở rộng của hợp tác an ninh tiểu đa phương và qua đó đánh giá trường hợp của Đối thoại Tứ giác An ninh (QUAD). Sau đó, tác giả phân tích và làm rõ phản ứng của Trung Quốc, từ đó đưa ra các kết luận và dự đoán về sự tương tác giữa hai chủ thể trên sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với trật tự khu vực.

Đọc tiếp...

Tái thiết quan hệ với Trung Quốc thời Biden khó thành hiện thực

Tái thiết quan hệ với Trung Quốc thời Biden khó thành hiện thực

Dù Mỹ và Trung Quốc đều để ngỏ kênh đối thoại, hai bên khó có thể tái thiết hoàn toàn quan hệ song phương vào thời điểm này. Chính quyền Biden quyết tâm theo đuổi cách tiếp cận cứng rắn với Trung Quốc trong khi Trung Quốc tiếp tục các động thái hung hăng, ảnh hưởng đến trật tự quốc tế trong mắt Mỹ.

Đọc tiếp...

Thế khó của Nhật Bản trong cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung

Thế khó của Nhật Bản trong cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung

Nhật Bản là một trường hợp đặc biệt để nghiên cứu tác động của cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung. Là quốc gia nằm tại tiền tuyến của cạnh tranh, Nhật Bản ở vị thế khó xử bởi vừa là đồng minh quân sự thân cận của Mỹ lại vừa có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU và Trung Quốc mối quan hệ từ đối tác chiến lược chuyển thành đối thủ hệ thống. Điều gì đã đẩy hai bên đi đến bước đường này?

Đọc tiếp...

Cách Mỹ thách thức Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình

Cách Mỹ thách thức Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình

Chính sách Mỹ-Trung đòi hỏi một chiến lược nghiêm túc, bền vững, chứ không phải một chiến lược chắp vá trong chiến dịch tranh cử tổng thống để cứu lấy một chính quyền thất bại.

Đọc tiếp...

Cơ hội lớn của ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc

Cơ hội lớn của ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc

Các quốc gia Đông Nam Á có cơ hội hiếm có để tận dụng tuyên bố của Bắc Kinh về sự phụ thuộc lẫn nhau trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách, chẳng hạn như sáng kiến “Vành đai và Con đường” và Biển Đông.  

Đọc tiếp...

Đằng sau sự thay đổi bất ngờ của Philippines về VFA với Mỹ

Đằng sau sự thay đổi bất ngờ của Philippines về VFA với Mỹ

Hôm 11 tháng 2, Philippines thông báo chấm dứt Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng (VFA) với Mỹ, đến ngày 2 tháng 6 nước này lại tuyên bố hoãn quyết định chấm dứt VFA. Điều gì uẩn khúc đằng sau sự thay đổi bất ngờ của Philppines?

Đọc tiếp...

Hiểm họa đối đầu Mỹ -Trung

Hiểm họa đối đầu Mỹ -Trung

Sự trỗi dậy của Trung Quốc liệu có thay đổi cục diện một "nền hòa bình kiểu Mỹ" tại khu vực châu Á. Phản ứng của các quốc gia trong khu vực sẽ ra sao, chọn Mỹ hay chọn Trung Quốc?

Đọc tiếp...

Xây dựng lòng tin ở châu Á - Thái Bình Dương: Lý thuyết, thực tiễn và một số bài học kinh nghiệm

Xây dựng lòng tin ở châu Á - Thái Bình Dương: Lý thuyết, thực tiễn và một số bài học kinh nghiệm

Bài viết tìm hiểu cơ sở lý thuyết và thực tiễn về xây dựng lòng tin ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương thông qua trả lời các câu hỏi: Vì sao đặc điểm triển khai các biện pháp xây dựng lòng tin (CBMs) ở châu Á - Thái Bình Dương khác với CBMs truyền thống? Bài học kinh nghiệm rút ra từ triển khai CBMs ở khu vực là gì?

Đọc tiếp...

Quan điểm của Đông Nam Á về cuộc đối đầu Mỹ-Trung

Quan điểm của Đông Nam Á về cuộc đối đầu Mỹ-Trung

Các quốc gia trong khu vực đang tìm cách không để cho những tranh chấp của họ với Trung Quốc ảnh hưởng tới các khía cạnh khác trong mối quan hệ với nước láng giềng quan trọng này, tìm cách cân bằng giữa Trung Quốc và Mỹ, cũng như các cường quốc khu vực như Nhật Bản và Ấn Độ.

Đọc tiếp...

Covid 19 đẩy quan hệ Mỹ-Trung xuống đáy

Covid 19 đẩy quan hệ Mỹ-Trung xuống đáy

Đại dịch đã đẩy quan hệ Mỹ-Trung xuống đáy vì cả hai nước đều tìm cách vượt mặt nhau để định hình trật tự thế giới.

Đọc tiếp...

Tác động của COVID-19 đến quan hệ Trung-Mỹ

Tác động của COVID-19 đến quan hệ Trung-Mỹ

Dịch COVID-19 đã đẩy mối quan hệ Trung-Mỹ vào một giai đoạn tồi tệ mới. Quan hệ thương mại song phương trên đà suy thoái, rơi vào trạng thái dường như đóng băng; sự thiếu hụt lòng tin chiến lược ngày càng nghiêm trọng; bầu không khí giữa hai bên ngột ngạt chưa từng có.

Đọc tiếp...

Khả năng tồn tại của liên minh Mỹ-Philippines

Khả năng tồn tại của liên minh Mỹ-Philippines

Các nhà ngoại giao và quan chức quân sự ở cả Mỹ và Philippines đang tìm cách cứu vãn Thỏa thuận Các lực lượng thăm viếng (VFA) với lo ngại rằng khoảng trống an ninh do thoả thuận trên để lại có thể sẽ tạo cơ hội để Bắc Kinh tăng cường củng cố quân đội và bành trướng hơn nữa ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Những thách thức của quan hệ đối tác Nga-Trung

Những thách thức của quan hệ đối tác Nga-Trung

Quan hệ đối tác Trung-Nga đã được củng cố đáng kể trong hai năm qua. Tuy nhiên, những thay đổi tiềm tàng trong chính sách của Mỹ và đặc biệt là những diễn biến ở Trung Á và Bắc Cực có thể thách thức mối quan hệ này trong tương lai.

Đọc tiếp...

Mỹ-Trung không nên đấu đá nhau trong bối cảnh đại dịch

Mỹ-Trung không nên đấu đá nhau trong bối cảnh đại dịch

COVID-19 là nguyên nhân mới nhất dẫn đến xích mích trong mối quan hệ ngày càng căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh. Tuy nhiên, nếu để cho sự ganh đua làm mờ mắt trước những mối đe dọa rõ ràng lúc này, hai bên rốt cuộc sẽ tự hủy hoại chính mình.

Đọc tiếp...

Sáng kiến cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – ASEAN của Trung Quốc và phản ứng hai chiều từ ASEAN

Sáng kiến cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – ASEAN của Trung Quốc và phản ứng hai chiều từ ASEAN

Đề xuất này là dấu hiện cho sự kết tinh của một chiến lược có chủ ý và được đầu tư từ phía Trung Quốc về tương lai của quan hệ ASEAN-Trung Quốc, nhằm củng cố sự thay đổi quyền lực đang diễn ra ở Đông Nam Á và tạo ra sự chuyển đổi suôn sẻ sang trật tự khu vực lấy Trung Quốc làm trung tâm trong bối cảnh Mỹ suy giảm ảnh hưởng trong khu vực.

Đọc tiếp...

Dịch COVID-19 tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Dịch COVID-19 tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Trung Quốc đã cố gắng giải quyết một cách thận trọng mối quan hệ với Mỹ, đồng thời triển khai sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng gia tăng trên toàn thế giới. Dịch COVID-19 đã làm trầm trọng thêm căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ và đặt ra những câu hỏi về vai trò lãnh đạo toàn cầu của Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Hy vọng và lo sợ của Đông Nam Á

Trung Quốc-Hy vọng và lo sợ của Đông Nam Á

Trung Quốc được nhìn nhận là nước có ảnh hưởng lớn nhất về kinh tế tại khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, niềm tin của khu vực vào Trung Quốc đã suy giảm trong một vài năm qua dựa trên thái độ của quốc gia này đối với các vấn đề lợi ích chung.

Đọc tiếp...

Tiềm năng quan hệ Mỹ-ASEAN

Tiềm năng quan hệ Mỹ-ASEAN

Cuộc thăm dò dư luận gần đây nhất của ISEAS cho thấy Trung Quốc đang nhanh chóng giành được ưu thế kinh tế và chiến lược ở Đông Nam Á so với Mỹ. Do đó, để lấy lại lợi thế của mình tại khu vực này, Mỹ phải xác định lại các điều khoản cạnh tranh.

Đọc tiếp...

Hậu quả của việc Mỹ mất VFA với Philippines

Hậu quả của việc Mỹ mất VFA với Philippines

Việc chấm dứt Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng (VFA) với Philippines sẽ khiến Mỹ dễ bị tổn thương hơn nữa trước các chính sách chính trị và đối ngoại trong nước của các đồng minh hiệp ước khác.  

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5280 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin