18 - 4 - 2021 | 3:05
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Nước Nga và những thách thức toàn cầu

Nước Nga và những thách thức toàn cầu

Email In PDF.

Bài phân tích của Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev đánh giá một cách toàn diện về thực trạng kinh tế - xã hội của nước Nga và đề xuất các phương án đẩy mạnh phát triển nền kinh tế đất nước, nhất là trong bối cảnh khó khăn hiện nay của nước Nga.

 

 

Khủng hoảng cấu trúc và chương trình nghị sự của nước Nga

Đặc điểm thời đại của chúng ta là tạo ra những ưu tiên mới, thách thức mới và cách tiếp cận mới giải quyết những vấn đề đang đặt ra đối với nước Nga và các nước khác. Bài báo này nỗ lực phân tích những thay đổi mạnh mẽ hiện đang diễn ra trong nền kinh tế thế giới và ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình trong nước. Những thay đổi này, một mặt tạo ra những cơ hội để đẩy mạnh phát triển và đồng thời gây ra những rào cản buộc chúng ta phải tính tới. Vì thế, bài báo này sẽ không phải là chương trình hành động được triển khai hay miêu tả công cụ kinh tế cụ thể. Để làm việc này có những diễn đàn khác. Trước hết, đó là những quyết định mà trên thực tế được Tổng thống và Chính phủ hàng ngày chuẩn bị và áp dụng. Tất nhiên, một trong những văn kiện chương trình chính vẫn là “Những phương hướng hành động chính của Chính phủ đến năm 2018”. Trong khi đó, công việc hoạt động của chúng ta được xây dựng có tính đến Kế hoạch những biện pháp cấp bách bảo đảm phát triển bền vững nền kinh tế và bảo đảm sự ổn định xã hội năm 2015 mà mọi người thường hay gọi là Chương trình chống khủng hoảng của Chính phủ.

Nếu khi xuất hiện những điểm căng thẳng dưới những dạng khác nhau, những thách thức địa phương, khu vực và những thách thức khác trên thế giới thì tình trạng bấp bênh tiếp tục kéo dài khó có thể nhanh chóng thoát khỏi được. Khi đề cập đến vấn đề này trong đó có tình trạng mà nước Nga đang gặp phải, khó có thể khiến tình hình ở nước Nga xấu đi nhanh chóng (chính điều này người ta đã tiên đoán cho chúng ta cách đây không lâu), cũng như không giúp nhanh chóng quay lại quỹ đạo phát triển như thập kỷ trước. Vấn đề không phải do địa chính trị và không phải do các lệnh trừng phạt – tất cả điều này có thể lý giải chỉ một phần của vấn đề. Chính địa chính trị và các biện pháp trừng phạt là kết quả của hành động có những nguyên nhân chung và căn bản hơn – đó là sự biến đổi sâu sắc hệ thống trật tự thế giới.

Sự phức tạp đặc biệt của những nhiệm vụ đang đặt ra đối với nước Nga là gì? Vấn đề không đơn giản là vượt qua được những khó khăn đang xuất hiện ngày hôm nay hay những khó khăn thâm căn cố đế, những hiện tượng khủng hoảng, sự thiếu hụt và mất cân xứng. Mặc dù công việc này rất quan trọng, mặc dù các hoàn cảnh hết sức khó khăn nhưng điều quan trọng là phải hình thành cho mình những mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược mà rốt cục chúng ta muốn giải quyết. Thậm chí nếu mục tiêu có vẻ rất xa vời, còn giải pháp thì rất phức tạp. Mặc dù mục tiêu này đang được hình thành khá đơn giản: (muốn nói rằng “hãy tạo bước đột phá”, nhưng thuật ngữ quân sự ở đây chưa chắc đã phù hợp) gia nhập nhóm những quốc gia có mức thịnh vượng cao hơn.

Sự có mặt trong nhóm như thế được xác định bởi quy mô GDP tính theo đầu người và mức độ hiệu quả của nền kinh tế mà thước đo trước hết là năng suất lao động.

Xét trên nhiều thông số kinh tế - xã hội, mức độ phát triển tài nguyên con người và nền văn hóa, không còn nghi ngờ gì nữa nước Nga là một trong số những quốc gia phát triển của thế giới hiện đại. Tuy nhiên, nền kinh tế nước Nga hiện phần lớn là kém hiệu quả, ví dụ về mức độ năng suất lao động tụt hậu so với các nền kinh tế hàng đầu thế giới không phải tính bằng phần trăm mà rất nhiều lần. Và chính vấn đề này không chỉ xuất hiện mấy năm trở lại đây, thậm chí kéo dài hàng thập niên qua. Không có bất cứ nền kinh tế hành chính tập trung nào với sự thống trị tuyệt đối của chính phủ, mặc dù hứng chịu nhiều thiệt hại, không có bất cứ mô hình kinh tế dựa vào nguyên liệu nào mà có thể thu hẹp được sự tụt hậu này, mặc dù mức độ thịnh vượng trong vòng 10-15 năm trở lại đây đã có bước đột phá, nhưng giờ cũng bị giảm sút.

Sự phát triển của nước Nga là một bộ phận không thể tách rời của các tiến trình toàn cầu. Chương trình nghị sự toàn cầu không thể hình thành được nếu không có sự tham gia của nước Nga

Chính trong bối cảnh kinh tế và lịch sử như thế, những nhiệm vụ chiến lược đã được đề cập ở trên có thể được coi như chưa có tiền lệ. Chưa chắc có thể giải quyết được chúng khi mà về bản chất vẫn ở trong tình trạng mô hình phát triển theo quán tính (dựa vào nguyên liệu) và chỉ phản ứng với bối cảnh bên ngoài ở một chừng mực nào đó. Không có bất cứ cái gọi là “phát triển đuổi kịp”, như thực tiễn đang chứng minh không thể thành công nếu đi theo con đường này. Hơn nữa, nguy cơ tụt hậu gia tăng đang hiện hữu.

Những nguy cơ này sẽ gia tăng nếu những nỗ lực chính nhằm biện minh cho những vấn đề nội tại chỉ do hoàn cảnh khách quan mang lại. Ví dụ, do biên giới dài, khí hậu, khoảng cách hay những khu vực dân số ít. Tất cả điều này không phải là một phán quyết, và kinh nghiệm thế giới cho thấy điều gì? Canada và Úc đã gia nhập nhóm những quốc gia có tốc độ phát triển cao, bất chấp những quốc gia này dân số ít và một phần lãnh thổ rộng lớn không có người ở. Còn, nước Nhật thì ngược lại không có vùng đất nào bỏ không và tài nguyên thiên nhiên không đáng kể, trong khi dân số rất đông. Trong bất cứ tình huống, tình trạng nào, có bất cứ tài nguyên nào nếu mong muốn thì có thể xây dựng nên kim tự tháp “những hoàn cảnh khách quan”: nhiều đất – không tốt, rất khó khai phá, ít đất – không tốt, không có chỗ để sinh sống và gieo trồng, ít khoáng sản – không tốt, phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu chúng, nhiều khoáng sản – cũng không tốt, nền kinh tế lạc hậu không phát triển, ít dân số, không có đủ các nguồn nhân lực, dân số đông – không thể nuôi nổi…

Để đạt được mục tiêu của chúng ta đòi hỏi phải có những cuộc cải cách quan trọng. Điều này hiện mọi người đều thấy rõ. Chúng ta buộc phải chuyển sang mô hình phát triển mà cho phép cạnh tranh hiệu quả hơn so với mô hình hiện nay. Đó hoàn toàn không phải mô hình trước đây “đuổi kịp và vượt” về số lượng thịt, sữa, máy kéo, gang. Cần phải học cách trở nên tốt hơn và nhanh hơn đó là con đường duy nhất hướng đến mục tiêu trong thế giới hiện đại thay đổi. Mặt khác, việc cải cách nền kinh tế nguyên liệu khi mà giá cả chính những mặt hàng nguyên liệu đang ở mức thấp như thế thì cần phải cân nhắc và thận trọng. Trước hết, cần phải nghĩ rằng các cuộc cải cách này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến người dân. Chính phủ cần phải trung thực và không ảo tưởng khi đánh giá khả năng của mình trong việc hỗ trợ những người rất khó thích nghi với những điều kiện mới. Tình hình đang thay đổi rất nhanh, và không phải tất cả mọi người đã sẵn sang nhanh chóng tiếp nhận những thay đổi này. Một số người do yếu tố tâm lý, một số người do những nguyên nhân khách quan: Trẻ em, người tàn tật, người già, những hộ gia đình có thu nhập thấp. Chính những nhóm người xã hội này trước hết phải là “thước đo” những quyết định trong tương lai của chúng ta.

Những chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế và lĩnh vực xã hội, trên thị trường lao động luôn diễn ra rất đau đớn. Nhưng còn có những khó khăn xuất hiện thêm liên quan đến những yếu tố bên ngoài. Và vì thế hiện Chính phủ có nhiệm vụ “phức tạp kép” – thậm chí trong những điều kiện khó khăn khi tiến hành tái cấu trúc, không để mức sống của người dân giảm mạnh.

Sự phát triển của nước Nga là một bộ phận không thể tách rời của các tiến trình toàn cầu. Chương trình nghị sự toàn cầu không thể hình thành được nếu không có sự tham gia của nước Nga. Nhưng ngay cả nước Nga cũng không thể đơn phương hình thành nên chương trình nghị sự toàn cầu hay đơn giản là xem thường nó, chỉ tập trung vào sự hiểu biết của mình về sự thành công và công bằng.

Thế giới chúng ta đang sống

Khi thảo luận những vấn đề hiện nay và vấn đề triển vọng phát triển toàn cầu thuật ngữ “trạng thái bình thường mới” bắt đầu được sử dụng thường xuyên hơn. Thuật ngữ này xuất hiện 5 năm trước, sau khi chấm dứt giai đoạn gay gắt của cuộc khủng hoảng toàn cầu, và nhanh chóng trở nên phổ biến. “Trạng thái bình thường mới”, hay có thể dịch thuật ngữ này như “thực tế mới” cũng được. Chính những đặc điểm chủ yếu này sẽ xác định sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu trong khoảng thời gian sắp tới – thực chất là trước cuộc khủng hoảng cấu trúc lớn tiếp theo. Có thể tranh cãi về tính đúng đắn của thuật ngữ này, nhưng trong những năm qua, thuật ngữ này không chỉ gắn chặt trong cuộc thảo luận về kinh tế - chính trị. Sự bành trướng của khái niệm này cả về mặt địa lý cũng như về nội dung là rõ ràng.

Các quốc gia hàng đầu thế giới đang tiến đến một quỹ đạo tăng trưởng mới ngày càng trở nên rõ ràng. Vấn đề không phải ở chỗ tốc độ mới mà còn ở chất lượng của sự tăng trưởng này, ở việc xuất hiện những lĩnh vực sản xuất mới, ở khu vực địa lý mới bố trí những lĩnh vực sản xuất này.

Các quốc gia đang phát triển cũng đang tiến đến quỹ đạo tăng trưởng mới. Những quốc gia này đang góp phần làm thay đổi mạnh mẽ cấu trúc nền kinh tế thế giới. Như vậy, nếu như trước đây trên thực tế bất kỳ cuộc khủng hoảng nào của nền kinh tế Mỹ đều ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu và vì thế mọi ánh mắt đều gắn chặt vào thị trường Mỹ, thì ngày hôm nay các hiện tượng khủng hoảng có thể nhận thấy ngay cả khi không có sự suy thoái trong nền kinh tế Mỹ - ví dụ nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc mạnh.

Chúng ta hoàn toàn có thể là nhân chứng cho giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng như thế. Chúng ta rất chú ý đến những gì đang xảy ra với nền kinh tế Trung Quốc và thế giới trong mấy tháng trở lại đây. Không có ngoại lệ, tất cả các thị trường chứng khoán, cũng như đồng tiền nội tệ của nhiều nước phản ứng mạnh mẽ với tình hình trên thị trường chứng khoán Trung Quốc và sự phá giá của đồng nhân dân tệ. Cục diện thị trường bất ổn cũng đóng vai trò của mình trên thị trường dầu mỏ thế giới, mặc dù cục diện thị trường liên quan đến nhân tố Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới. Và rõ ràng rằng việc chú ý đến những gì đang diễn ra trong nền kinh tế Trung Quốc sẽ tăng lên. Hiện, nền kinh tế Trung Quốc đang có những biểu hiện chuyển sang mức độ phát triển mới, chẳng hạn như tốc độ phát triển chậm lại. Chính mô hình kinh tế đang thay đổi.

Trong giai đoạn khủng hoảng cấu trúc không chỉ nguy cơ tụt hậu thê thảm gia tăng mà đồng thời cũng xuất hiện cơ hội cải thiện về chất tình trạng của mình trong nền kinh tế và bản đồ chính trị thế giới. Cuộc khủng hoảng luôn là nguy cơ, đồng thời cũng là cơ hội. Các bước đột phá “từ thế giới thứ 3 lên vị trí hàng đầu” (nếu sử dụng cách nói của Lý Quang Diệu người đưa Singgapore đến thành công) thông thường diễn ra trong điều kiện khủng hoảng cấu trúc, xuất hiện cơ hội được chứng kiến công nghệ mới và áp dụng chúng.

Hơn nữa, công nghệ mới không chỉ kỹ thuật mà còn thể chế. Điều này được chứng thực bằng thực tiễn và kinh nghiệm của các nước thành công trong việc thoát khỏi được tình trạng tụt hậu từ nước Đức, Nhật Bản và Liên Xô đến Pháp, Hàn Quốc và Singapore.

Về việc bức tranh toàn cầu thay đổi ra sao, có thể xét trên ví dụ ngành năng lượng nhảy cảm đối với chúng ta.

Những gì từng là ngoại lai, chiến dịch quảng cáo, sự kiện quy mô địa phương thì ngày nay đang làm thay đổi nền kinh tế thế giới, chuyển hóa thành những cán cân chính trị toàn cầu. Việc vận chuyển khí hóa lỏng quy mô lớn đã bắt đầu thống nhất các thị trường bị cô lập trước đây của các châu lục khác nhau. Còn việc khai thác dầu đá phiến – đã biến những nhà nhập khẩu năng lượng thành nhà xuất khẩu năng lượng. Công việc của hàng trăm công ty vừa và nhỏ phát triển theo hướng áp dụng công nghệ hiện đang tác động đến thị trường này (cả nền kinh tế nhiều nước nói chung) chưa chắc không mạnh hơn những tập đoàn năng lượng lớn nhất. Đến nay, những công ty này đang cho thấy sự bền vững khá cao: Việc giá dầu mỏ đã giảm gần 3 lần không dẫn đến tình trạng phá sản hàng loạt. Tuy nhiên, tính hiệu quả của những công nghệ mới hóa ra cao hơn nhiều người mong đợi. Và đây là bài học quan trọng: Không được bảo thủ.

Điều kiện chính mà nếu không có nó không thể tìm được giải pháp cho những thách thức thời đại chúng ta, tính chất khó đoán định gia tăng và hay thay đổi, kích thích sáng tạo, sáng kiến, không gián đoạn giáo dục. Điều này liên quan đến các quốc gia, doanh nghiệp, đến từng người. Những người thiên về sáng tạo, nhiệm vụ quan trọng nhất của các chính phủ khuyến khích họ, hơn nữa trong tất cả các lĩnh vực của đời sống.

Không được coi thường cả những cơ hội nâng cao mạnh mẽ hiệu quả năng lượng mặt trời, triển vọng của ngành này trước đây được đánh giá rất bi quan, cũng như tích cực khai thác năng lượng động cơ hybrid, nước. Nếu tiến triển trong những lĩnh vực này sẽ tiếp tục duy trì tốc độ, trong khi giá dầu khí sẽ không giảm sâu hơn thì thế giới có thể phải đối mặt với các cuộc cách mạng thậm chí quy mô lớn hơn. “Một khuynh hướng quan trọng nữa cũng đã xuất hiện: Một số công ty năng lượng nổi tiếng bắt đầu xem xét lại chiến lược của mình, thích xây dựng các nhà máy với công suất tương đối nhỏ, rẻ hơn và linh hoạt hơn với quan điểm thị trường. Những cơ sở năng lượng lớn và đắt đỏ được xây dựng nhiều năm qua, đang được hoàn vốn hàng chục năm: Trong khoảng thời gian đó, nhu cầu, giá cả năng lượng và chính sách quốc gia có thể thay đổi triệt để, nơi đang tiến hành xây dựng. Trước đây những thông số này có vẻ ổn định hơn, hiện tầm nhận thức lên kế hoạch và dự báo ngắn hơn rất nhiều: các nhà chiến lược năng lượng nói gì, “thế giới đã trở nên nhanh hơn”. Việc đổi mới đụng chạm đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội – lĩnh vực kỹ thuật, kinh tế, nhân đạo. Trong khuôn khổ một bài báo chỉ có thể liệt kê được những khuynh hướng này, tuy nhiên mỗi khuynh hướng trong đó đáng được thảo luận độc lập.

Trong số những khuynh hướng công nghệ mới cần phải chú ý:

- Tính không tiên đoán được của các xu hướng kỹ thuật công nghệ cao, điều này làm giảm khả năng dự báo kỹ thuật (khoa học kỹ thuật) tập trung.

- Phổ biến các công nghệ số đến tất cả các lĩnh vực thế giới vật chất (và nếu bất cứ lúc nào, ảo hóa cuộc sống con người, công ty và thậm chí các chính phủ).

- Nền công nghiệp mới, có nghĩa là xuất hiện các lĩnh vực và công nghệ công nghiệp, đối với lĩnh vực này chi phí lao động (lao động đắt đỏ) hóa ra không kém phần quan trọng so với sự tiếp cận nghiên cứu và phát triển chất lượng (R&D) chất lượng và phù hợp với người tiêu dùng.

- Sự chuyển giao công nghệ mới diễn ra từ các lĩnh vực dân sự đến quân sự, trong khi đó trước đây tiến trình này đi theo hướng ngược lại (công nghệ mới trước hết xuất hiện trong lĩnh vực tổ hợp công nghiệp quốc phòng). Cần phải theo dõi sát sao cả những khuynh hướng phát triển xã hội, lĩnh vực xác định chất lượng nguồn nhân lực và bằng chính khả năng cạnh tranh của đất nước. Trong số đó:

- Cạnh tranh toàn cầu nguồn nhân lực, vốn đang trở thành nhân tố chính giải quyết những nhiệm vụ chiến lược của bất kỳ quốc gia nào. Cuộc cạnh tranh này đang gia tăng. Và hiện giờ có thể phỏng đoán rằng trong thời gian tới cuộc cạnh tranh này sẽ vươn lên cấp độ mới, ví dụ, khi giải quyết vấn đề chất lượng dịch máy – xóa bỏ rào cản ngôn ngữ nâng cao nhanh chóng tính năng động di chuyển nguồn nhân lực giữa các nước.

- Việc xây dựng chính phủ xã hội mới đáp ứng thực tế của các quốc gia phát triển. Đặc điểm mang tính nguyên tắc của chính phủ - tư nhân hóa các dịch vụ cung cấp (trước hết là giáo dục và y tế).

- Ngoài ra, sự gia tăng bất bình đẳng – như một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ ổn định chính trị - xã hội, như là lá chắn có khả năng ngăn cản tăng trưởng kinh tế đang nổi lên hàng đầu trong chương trình nghị sự kinh tế - chính trị.

Đối với công nghệ mới, kinh tế trong thời gian gần đây thường liên quan đến:

- Công nghiệp hóa hàng hóa và dịch vụ đang dẫn đến sự thay thế sản xuất tiêu chuẩn hóa hàng loạt. Tất nhiên, đó là nền công nghiệp mới, chứ không phải quay trở lại sản xuất thủ công thời tiền công nghiệp. Đó là nền sản xuất có tính đến nhu cầu người tiêu dùng cụ thể.

- Xuất hiện những công cụ tài chính mới cho phép mở rộng biên giới đầu vào các dự án mới. Một phần công nghệ tài mới tài chính đã trở thành nhân tố - thủ phạm chính gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu. Tuy nhiên, chính phủ các nước sẽ phải đi theo con đường tìm kiếm những công cụ tinh tường hơn để giải quyết chúng, chứ không đơn giản hóa và cấm toàn bộ chúng.

- Sự xuất hiện các ngành công nghiệp có sự lưu thông tư bản nhanh hơn so với những doanh nghiệp ở cùng lĩnh vực sử dụng công nghệ truyền thống đang thắt chặt các chi phí hoạt động với vốn. Chính điều này sẽ nâng cao mạnh mẽ tính linh hoạt trong phản ứng với sự thay đổi của các thị trường và công nghệ. (Ví dụ các công nghệ khai thác dầu khí đá phiến mang lại điều gì).

- Sự hình thành mô hình toàn cầu hóa mới và tương xứng với nó là các mô hình bảo hộ. Các liên minh thương mại tự do khu vực (xuyên quốc gia), cho phép giải quyết các vấn đề vốn bị kiểm soát kéo dài hàng chục năm trong khuôn khổ WTO đang trở nên nổi bật nhất. Sự năng động tỷ giá tiền tệ đang trở thành công cụ bảo vệ thị trường mạnh hơn các loại thuế quan. Tất nhiên, cùng với việc bảo vệ lãnh thổ thuế quan của mình thì việc bảo vệ giới doanh nhân trong nước đang tạo ra chuỗi giá trị gia tăng đang trở thành lợi ích ưu tiên của chính phủ.

- Những thách thức kinh tế vĩ mô đáng được đặc biệt chú ý. Trong lĩnh vực này, cũng như trong lĩnh vực công nghệ, rõ ràng tính không ổn định đang gia tăng. Điều này liên quan đến việc giải quyết vấn đề không rõ ràng: Làm sao không rơi vào tình trạng lạm phát cao do chính sách chống khủng hoảng mà nhiều quốc gia áp dụng bắt đầu từ năm 2008 dưới dạng liệu pháp tài chính mạnh (hơn nữa, đối với một số nước chống lạm phát, một số nước khác chống giảm phát đã trở nên nóng bỏng). Chính tương lai của biện pháp kích thích tiền tệ đang gây ra những vấn đề: không hiểu làm thế nào thoát khỏi được liều “ma túy” này. Hơn nữa, hiện nay tiền tại một loạt quốc gia lãi suất đang ở mức thấp chưa từng có tiền lệ, doanh nghiệp cũng không muốn vay. Trong khi các công ty quốc tế lớn tích lũy nguồn dự trữ lớn lại không đầu tư chúng vào các dự án. Điều này có nghĩa là đề cập đến thực tế không đoán định được, trông chờ, lo sợ thực tế mới đang đến. Hiện, không hẳn chỉ là số nợ của các công ty mà chủ yếu là số nợ của các chính phủ. Nếu triển vọng nợ của các nước có khả năng phát hành tiền dự trữ, thì số nợ của những nước khác bị tước mất khả năng này đã không thể thanh toán được. Câu hỏi, nền kinh tế toàn cầu và hệ thống tài chính-tiền tệ sẽ xử sự như thế nào trong tình huống phi tiêu chuẩn như thế hiện vẫn chưa có câu trả lời trung thực và thuyết phục nhất.

Xã hội và chính phủ phải phản ứng như thế nào với tất cả những thách thức này? Cần phải làm gì để không chỉ không bị tụt hậu mà còn tiến lên phía trước? Điều kiện cốt yếu là không có nó không thể tìm được câu trả lời thích ứng đối với những thách thức thời đại của chúng ta, đối với mức độ khó đoán định và hay thay đổi đang gia tăng – kích thích sáng tạo, sáng kiến và tính liên tục của giáo dục. Điều này liên quan đến tất cả quốc gia, giới doanh nghiệp, và từng con người cụ thể. Những người có thiên hướng sáng tạo, và nhiệm vụ quan trọng nhất của chính phủ là khuyến khích họ, hơn nữa sự khuyến khích này phải lan rộng ra tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống.

Chính những đặc điểm này của giai đoạn hiện đại của sự tiến triển công nghệ đã hình thành nên một khuynh hướng chủ yếu – sự giải phóng toàn thế giới (hay như người ta thường nói – tự do hóa, hay giải phóng) đời sống kinh tế, phi quan liêu hóa các xã hội hiện đại. Điều này là không thể tránh khỏi hiểu theo khái niệm rằng “thế giới đang trở nên nhanh hơn”.

Đương nhiên, có thể tìm được không ít ví dụ trên thế giới rằng khi tiến hành một chính sách hay các quyết định cụ thể không được xếp vào chương trình nghị sự như thế và thậm chí bị chống lại. Thế nhưng không dễ dàng tìm được ví dụ rằng khi các lệnh trừng phạt trở nên có hiệu quả, đạt được chính mục tiêu mà vì chúng mới được áp đặt. Sớm hay muộn các biện pháp trừng phạt cũng được gỡ bỏ, và mối quan hệ giữa các nước sẽ trở lại quỹ đạo bình thường.

Những điều nói ở trên liên quan đến cả mối quan hệ hiện nay của chúng ta với các nước phương Tây. Bất chấp mối quan hệ mà hiện nay phần lớn mang tính chất khủng hoảng, dẫu sao việc khôi phục quan hệ hợp tác là không thể tránh khỏi. Nước Nga không chuẩn bị rời khỏi lục địa châu Âu kể cả trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, tinh thần. Từ nay như Ekaterin II (1729 – 1796) trong “Nakaz (Chỉ dẫn) của Ủy ban về soạn thảo pháp điển mới” đã khẳng định: “Nước Nga là một cường quốc châu Âu”, gần 250 năm đã trôi qua, và điều này cùng với sự thay đổi như vũ bão trên thế giới vẫn và sẽ là chân lý. Không một ai có thể hy vọng tách chúng ta khỏi nền văn minh châu Âu có nền văn hóa có đầy đủ các đặc tính đa dạng. Các mối quan hệ đang thay đổi và trong tương lai cũng vậy, nhưng những phương hướng hợp tác chiến lược như hợp tác, đối tác tất nhiên trong điều kiện phát triển thuận tiện các sự kiện và hình thành không gian kinh tế thống nhất, sẽ vẫn không thay đổi.

Bất chấp tất cả những phức tạp địa chính trị, lệnh trừng phạt và các loại hạn chế khác nhau, không được phép quên ngay cả vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài. Đánh giá không đúng những điều này có nghĩa là chúng ta chấp nhận logic cô lập bị áp đặt.

Vị trí địa lý và địa chính trị của Nga không dễ dàng cho phép, nhưng vì một lý do nhất định mà đòi hỏi chúng ta phải ngày càng tích cực phát triển hợp tác theo “hướng Đông”. Thật là sai lầm khi luận giải tính tích cực này như là ý định của Nga “xoay trục” sang đâu đấy. Khi nói về tầm quan trọng của hướng hợp tác này, chúng tôi không chỉ nói đến mối quan hệ lịch sử, lịch sử chung của chúng tôi với rất nhiều nước hay tình hình chính trị đang hình thành trên thế giới hiện nay. Chính chương trình nghị sự toàn cầu, sự năng động của các thị trường, xu hướng các dòng tài chính, thương mại, công nghệ rõ ràng cho thấy rằng việc đánh giá thấp tầm quan trọng các mối quan hệ với những nước này và khu vực này sẽ để lại hậu quả chiến lược.

Chất lượng tăng trưởng: chiến lược, phương hướng và những ưu tiên

Nhiều thông số, định hướng và những nguy cơ chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội của Nga có trong Những phương hướng hoạt động chính của Chính phủ đến năm 2018. Những nhiệm vụ dài hạn và những cách thức giải quyết chúng sẽ được phản ánh trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2030.

Trước hết là nhiệm vụ bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế năng động và bền vững trong triển vọng trung và dài hạn. Và ở đây chúng ta cần nhìn thấy được ngay hai nguy cơ.

Một mặt, nguy cơ tăng trưởng ảo. Như chúng ta biết theo kinh nghiệm riêng giai đoạn năm 1986-1989, mong muốn nhanh chóng hâm nóng nền kinh tế như thế nào có thể trở thành thảm họa – thậm chí nếu trong một thời gian khoảng 2 năm sau, trên thực tế tốc độ tăng trưởng tăng lên. Và chính vì tăng trưởng ngắn này mà Liên Xô đã phải trả giá bằng số nợ nước ngoài tăng lên nhiều lần, vì nó mà sau khi Liên Xô sụp đổ, chính nước Nga cũng từng bị trả giá.

Mặt khác, chính tâm lý thích ứng với tốc độ thấp và thậm chí bằng không, sẵn sàng chấp nhận chúng như một thực tế là rất nguy hiểm. Điều này dễ nhận thấy tại các cuộc thảo luận kinh tế - chính trị trong những năm gần đây. Sự hình thành nên tâm lý như thế, nếu nó trở thành thống trị trong xã hội, sẽ mở ra con đường dẫn đến suy thoái kinh tế kéo dài. Đó là lý do tại sao hiện nay việc bảo đảm không đơn thuần là tốc độ mà còn là chất lượng tăng trưởng kinh tế mới là nhiệm vụ then chốt.

Hiện nay nhiều người đang đề cập đến sự cần thiết phải hình thành nên mô hình tăng trưởng mới. Và điều đó hoàn toàn đúng đắn, bởi vì cả những điều kiện phát triển nước Nga trong lẫn ngoài nước quan trọng, nhưng trong một số lĩnh vực thậm chí là nền tảng, đã thay đổi. Chúng ta đã nói khá nhiều về việc sử dụng hết khả năng phát triển thành công dựa vào nguồn lực tài chính từ các thị trường bên ngoài. Chỉ có thể bổ sung rằng sự tăng trưởng như thế rất không nhạy cảm với môi trường đầu tư.

Hiện nay, những điều kiện mà doanh nghiệp chúng ta đang làm việc, kích thích nâng cao năng suất lao động đang được đặt lên hàng đầu. Môi trường thuận tiện đối với đời sống kinh tế - đó là công thức chung của mô hình mà cần phải đảm bảo chất lượng tăng trưởng mới. Để làm được điều này cần sự thống nhất nỗ lực trong 4 lĩnh vực, xác định tính chất phát triển kinh tế - xã hội của đất nước: kinh tế vĩ mô, chính sách cơ cấu, phát triển nguồn nhân lực, hệ thống quản lý nhà nước.

Những tiền đề tăng trưởng kinh tế vĩ mô

Việc xây dựng những điều kiện được bắt đầu từ việc bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô. Lạm phát thấp và ngân sách được cân bằng vẫn là những ưu tiên để phát triển đất nước bền vững.

Trong 3 năm tới lạm phát cần phải giảm xuống mức dưới 4%. Đây là một điều kiện quan trọng để đảm bảo tăng trưởng thịnh vượng của người dân lẫn bảo đảm sự tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp và đời sống kinh tế có khả năng dự báo hơn nói chung.

Cần phải duy trì hai thành tựu kinh tế vĩ mô quan trọng nhất đã đạt được trong vòng 15 năm qua – ngân sách cân bằng và nợ quốc gia thấp. Hơn nữa, không chỉ nói đến ngân sách liên bang mà còn ngân sách của các khu vực, vốn hiện đang chịu gánh nặng nợ nần.

Cấu trúc chi tiêu ngân sách và chi tiêu hiệu quả không kém phần quan trọng so với cân bằng ngân sách. Thứ nhất, những ưu tiên trong việc tiêu tiền xét theo quan điểm ảnh hưởng của chúng đối với tăng trưởng kinh tế dài hạn cần phải rõ ràng hơn. Những nghiên cứu, thậm chí kinh nghiệm nhiều nước, cho thấy rằng trong lĩnh vực này đầu tư vào con người bao gồm cả y tế, giáo dục, khoa học, cũng như cơ sở hạ tầng là những ưu tiên hàng đầu. Tất nhiên, hiện nay những hạn chế ngân sách không cho phép thực hiện những ưu tiên này ở mức độ đầy đủ. Nhưng điều này không làm chúng trở nên ít ý nghĩa hơn. Bởi vì đạt được cân bằng ngân sách bằng cái giá giảm đáng kể chất lượng ngân sách cần được coi như việc không thể chấp nhận được. Thứ hai, về nguyên tắc, vấn đề nâng cao hiệu quả chi tiêu ngân sách hiện nay không phải là mới mà đã trở thành vấn đề nóng bỏng hơn.

Trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm, những vấn đề ngân sách không được giải quyết nhờ vào việc tăng gánh nặng tài chính. Một quyết định đã được thông qua rằng trong những năm tới thuế sẽ thay đổi theo chiều hướng tăng lên. Ngoài ra, ngày nay phải từ bỏ tăng lệ phí tài chính mang tính chất phi thuế quan.

Những ưu tiên cải cách cơ cấu

Sự ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện cần thiết nhưng chưa đủ để phát triển thành công. Lạm phát thấp và ngân sách khỏe mạnh không tự động dẫn đến tăng trưởng.

Cần phải xây dựng các cơ chế hiện đại cấp kinh phí tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa. Điều này không kém phần quan trọng trong bất cứ tình huống nào, kể cả trong tình huống đặc biệt hiện nay. Nước Nga đang đối mặt đồng thời với việc đóng cửa nhiều nguồn cung cấp tài chính bên ngoài và giá dầu giảm. Tuy nhiên, sẽ khôn ngoan hơn khi xuất phát từ chỗ: ít nhất cục diện thị trường dầu mỏ sẽ vẫn ở mức giá thấp thậm chí cực kỳ thấp trong thời gian dài. Điều này đồng nghĩa sẽ phải chú ý hơn tới các nguồn cung cấp tài chính trong nước, tiết kiệm trong nước, với việc nâng cao các tiêu chuẩn tích lũy trong nền kinh tế.

Không còn nghi ngờ gì nữa trong lĩnh vực này các khoản đầu tư của nhà nước phải đóng vai trò của mình. Đặc biệt hiện nay khi những khoản đầu tư này trong một chừng mực nhất định được bù đắp tính tích cực không cao của các nhà đầu tư tư nhân. Hiện, chúng ta đang đi theo con đường này khi trích các nguồn lực bổ sung, cung cấp bảo lãnh của chính phủ, sử dụng các hình thức cung cấp tài chính chuyên biệt (Quỹ phát triển công nghiệp, cung cấp tài chính dự án với sự hỗ trợ của Ngân hàng trung ương…). Chúng ta phải nhờ cậy đến nguồn quan trọng như Quỹ thịnh vượng quốc gia, sử dụng các phương thức như khuyến khích của nhà nước cũng như các ưu đãi đầu tư và các hợp đồng đầu tư.

Nhưng các khoản đầu tư của nhà nước không thể trở thành nguồn tăng trưởng chính mọi lúc. Chính phủ cũng không thể biến nguồn lực như thế thành cỗ máy in tiền: việc tự do phát hành tiền tệ không bị kiểm soát là một trong những sự tự do nguy hiểm nhất. Những viện dẫn kinh nghiệm phương Tây khuyến khích phát hành là thiếu căn cứ. Thứ nhất, nó được thực hiện trong điều kiện giảm phát (ngược hẳn với chúng ta). Thứ hai, các kết quả chứng minh tính không hiệu quả của cơ chế này. Và thứ ba, những biện pháp này đã trở thành vấn đề, triển vọng giải quyết vấn đề này chưa ai rõ (nhớ lại những dự báo vén màn bí mật về số phận của đồng đôla Mỹ là đủ).

Hơn nữa, thị phần của chính phủ trong nền kinh tế cao đang trở thành nguyên nhân tự thân hạn chế tiếp cận đối với các nguồn lực đầu tư. Đối với các công ty có sự tham gia của nhà nước có đặc điểm lớn nhất tăng chi phí với tốc độ vượt chỉ số trong lĩnh vực tư nhân, và việc thực hiện một loạt dự án đầu tư với nguồn tiền thụ động.

Việc thu hút các nhà đầu tư tư nhân cần phải được đặt lên hàng đầu trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp. Sự chú ý đến vấn đề này đã suy giảm trong những năm trước đây, bởi vì có nguồn tài chính mạnh. Hiện ngay cả chính quyền liên bang, khu vực, tòa thị chính phải phân tích tỉ mỉ họ có thể làm gì để doanh nghiệp muốn đầu tư – hơn nữa đầu tư ngay chính tại địa phương.

Nguồn đầu tư quan trọng nhất là tiền tiết kiệm trong nước. Theo quan điểm này cần phải xem xét cả việc phát triển hệ thống hưu trí. Chúng ta đang nói về một trong những vấn đề cốt lõi hoạt động của nền kinh tế. Vì thế, việc tích lũy tiền hưu trí, cũng như bảo hiểm đời sống có thể trở thành những nguồn “tiền dài hạn” quan trọng nhất. Về vấn đề này không thể không chú ý tới những vấn đề bền vững và hiệu quả của các qũy hưu trí ngoài nhà nước. Còn phải học cách sử dụng tích lũy tiền hưu trí. Vì thế các qũy hưu trí là đối tượng nhà nước phải nâng cao sự chú ý, còn việc tổ chức kiểm soát hoạt động Qũy tích lũy tiền hưu trí là nhiệm vụ quan trọng của cơ quan điều tiết tài chính.

Bất chấp tất cả những phức tạp về mặt địa chính trị, biện pháp trừng phạt và nhiều hạn chế khác nhau, không được phép quên thu hút đầu tư nước ngoài. Đánh giá không đúng những vấn đề này có nghĩa là chúng ta chấp nhận logic cô lập bị áp đặt.

Thu hút đầu tư nước ngoài nhằm giải quyết cả nhiệm vụ đặc biệt – bảo đảm sự chuyển giao công nghệ. Hiện chúng ta vẫn chưa lọt vào nhóm các quốc gia công nghệ hàng đầu thế giới. Thị phần xuất khẩu công nghệ cao trong toàn bộ xuất khẩu của chúng ta chỉ chiếm 1,5%. Vì vậy, thu hút đầu tư nước ngoài cần được đánh giá ở phạm vi rộng chứ không chỉ xét theo quan điểm thu hút nguồn tiền, thu hút nhiều tiền, nhưng làm gì với chúng? Công nghệ và bí quyết sản xuất còn quan trọng hơn.

Thay thế nhập khẩu. Đây vẫn là một phương hướng hoạt động chủ yếu của Chính phủ. Và điều quan trọng là để nó không biến thành “khẩu hiệu hàng ngày”. Cần nhớ rằng vào thế kỷ 20 với khẩu hiệu một số nước Mỹ Latinh thực thi chính sách đóng cửa thị trường trong nước đối với cạnh tranh nước ngoài và sau đó phải trông cậy vào các khoản vay một cách mạnh mẽ và ồ ạt, họ trợ cấp cho các ngành sản xuất trong nước, kết quả là bùng phát cuộc khủng hoảng tài chính. Khi nhận thức được kinh nghiệm, chúng ta cần hiểu rõ ràng rằng thay thế nhập khẩu không phải thay thế sản phẩm nước ngoài bằng sản phẩm trong nước, nhưng đắt hơn và chất lượng kém hơn.

Đương nhiên, có những lĩnh vực đặc thù và loại hình sản phẩm rất cụ thể khi nhập khẩu buộc phải thay thế bằng bất cứ biện pháp nào và không tính đến chi phí. Nhưng chuyển sự đặc thù này vào nền kinh tế thì hết sức nguy hiểm. Thay thế nhập khẩu tốt nhất là sản xuất các sản phẩm trong nước, có khả năng cạnh tranh trong nước cũng như trên thị trường nước ngoài: khả năng xuất khẩu có nghĩa là khả năng cạnh tranh trong đó có cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Sự thay thế nhập khẩu như thế có thể kỳ vọng vào cả sự hỗ trợ của nhà nước.

Cần đặc biệt phân biệt vấn đề này như sự phát triển cạnh tranh. Trong tình hình hiện nay của chúng ta đề tài này có tính thời sự đặc biệt: sự phá giá tiền tệ vừa qua về mặt khách quan hạn chế sự xuất hiện các hàng hóa nhập khẩu trên thị trường Nga. Các biện pháp trừng phạt và thay thế nhập khẩu đang có tác dụng trong lĩnh vực này. Tất cả điều này có khả năng làm giảm thêm mức độ cạnh tranh của nền kinh tế chúng ta, vốn dư thừa độc quyền. Còn một rào cản nữa đối với nền kinh tế của chúng ta là sự tham gia của nhà nước không giảm và thậm chí sự tham gia của nhà nước đang tăng lên chính trong những phân khúc, nơi sự tham gia của nhà nước là không cần thiết. Việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đang “đóng góp” tiêu cực cho tình hình hiện tại.

Việc tái thiết các cơ quan kiểm tra – giám sát sẽ thúc đẩy sự phát triển cạnh tranh. “Hệ thống chiếc gậy” liệu đang tồn tại một cách chính thức và không chính thức trong những cơ quan này xúi giục hành động đi ngược lại mục đích đúng đắn.

Những hành động này không đơn thuần làm mất uy tín ngành kiểm soát nhà nước mà còn cho thấy trên thực tế những mục tiêu của ngành này đã từ lâu bị lãng quên hay đơn giản là bị coi thường. Hiện nay, nhiều biện pháp đã được đề xuất nhằm hạn chế việc kiểm tra các doanh nghiệp nhỏ và áp dụng luật chống độc quyền đối với đối tượng này là những ví dụ cho thấy cách tiếp cận đối với hoạt động kiểm tra – giám sát đang dần dần thay đổi.

Hệ thống lương hưu và triển vọng phát triển hệ thống này, có thể nói rằng là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội cơ bản. Vấn đề không hạn chế việc thảo luận độ tuổi về hưu hoặc các chi phí ngân sách để bù đắp thâm hụt Qũy hưu trí. Như vậy, vấn đề đang trở thành hiện thực - có thể xây dựng mối quan hệ đặc biệt cho từng độ tuổi.

Cuối cùng, để thực sự cạnh tranh thì việc phát triển hệ thống thích ứng cho những lao động đã được nghỉ việc, đào tạo lại cho họ, những hình thức việc làm mới, nâng cao tính linh hoạt của thị trường lao động, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ là những điều kiện bắt buộc.

Xây dựng và phát triển cơ sở dữ liệu việc làm trống trên toàn nước Nga (bao gồm cả thông tin về các điều kiện xã hội và các điều kiện khác mà vị trí việc làm yêu cầu), thông qua các chương trình việc làm cơ động khu vực (giả sử thu hút lao động từ các khu vực khác nhau) và nhiều ví dụ khác – chỉ là một phần của những biện pháp cần phải làm. Hiện nay, những biện pháp này vẫn chưa đủ bởi vì chúng ta chưa có kinh nghiệm hay thậm chí là kinh nghiệm tiêu cực.

Những truyền thống di chuyển lực lượng lao động đến trung tâm (ít khi bị cưỡng bức) cũng không đáp ứng được các nhu cầu của thị trường hiện đại. Cần có cơ sơ hạ tầng, trước hết trong lĩnh vực xã hội phát triển kém. Việc không có những điều kiện như thế hay thiếu hụt chúng là rào cản chính trị - xã hội nghiêm trọng đối với khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và kích thích duy trì tình trạng dư thừa lao động và sản xuất kém hiệu quả.

Gìn giữ và phát triển nguồn nhân lực

Những nguyên tắc chính phủ xã hội đưa ra hơn 1 thế kỷ trước đã lỗi thời với thực tế thế giới hiện đại. Sự thịnh vượng tăng lên và những khuynh hướng dân số mới đòi hỏi những thay đổi quan trọng đối với các quan điểm trước đây của chúng ta. Đồng thời sự cạnh tranh nguồn nhân lực đang tăng lên, thế nhưng chính nguồn nhân lực đang ngày càng trở nên cơ động.

Hiện không ít trường hợp sống tại một nước, trong khi làm việc, học tập hay chữa bệnh lại ở một nước khác. Và chúng ta không thể bị gạt bỏ khỏi sự cạnh tranh như thế. Hơn nữa, con người ngày càng thích lựa chọn nhiều phương án khác nhau ngay cả khi ở tại nước mình. Chúng ta cần phải hiện đại hóa cơ cấu phù hợp với từng ngành nói chung.

Trong ngành giáo dục cần phải khắc phục được những vấn đề cơ cấu đang ngày càng hiện rõ. Thứ nhất, nếu sử dụng thuật ngữ kinh tế thì chúng ta đang đối mặt với tình trạng dư thừa chuyên gia có trình độ cao và thiếu hụt những người có trình độ trung cấp kỹ thuật. Thứ hai, hiện giáo dục đại học trên thực tế đã trở nên phổ thông, và điều đó tất nhiên ảnh hưởng tới chất lượng của ngành. Vì vậy, cần phải thường xuyên nâng cao chất lượng giáo dục song vẫn không làm giảm khả năng tiếp cận giáo dục của người dân.

Giáo dục thường xuyên đang trở thành một trong những yêu cầu quan trọng nhất. Hiện rõ ràng khẩu hiệu là “học, học nữa và học mãi”, bằng cách này hay cách khác trên thực tế đi theo cùng con người suốt đời. Hiện đang xuất hiện vấn đề với giáo dục người lớn tuổi, cũng như lứa tuổi già hơn – từ việc nắm vững hay nâng cao kiến thức máy tính đến thu nhận kiến thức chuyên môn của lĩnh vực khác.

Khả năng trở nên hấp dẫn đối với học sinh tốt nghiệp phổ thông cũng như đối với các nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư tiền của mình vào ngành giáo dục là tiêu chí hiệu quả của trường đại học hiện đại. Các chương trình của các trường đại học và các cơ sở giáo dục khác mà coi thường thực tế mới hay đáp ứng một cách mang tính hình thức, sẽ bị thua trong cuộc cạnh tranh, vốn trong hệ thống giáo dục đang trở nên mạnh mẽ hơn.

Hơn nữa, các trường đại học của chúng ra, ít nhất là các trường hàng đầu đang cạnh tranh không chỉ trên thị trường trong nước mà còn trên thị trường quốc tế. Đây là vấn đề nghiêm túc đối với cả hệ thống giáo dục lẫn y tế: Nếu nhu cầu về chất lượng dịch vụ tập trung ra ngoài biên giới quốc gia, thì trong nước đương nhiên nhu cầu giảm xuống, điều này có nghĩa là cả chất lượng của những dịch vụ đó bị giảm xuống.

Cần phải đưa ra nhiều biện pháp hướng đến tất cả các yêu cầu. Ví dụ, xây dựng cơ chế những ưu tiên dành cho các công ty tham gia phát triển cơ sở vật chất các cơ sở giáo dục, kể cả xây dựng Quỹ vốn mục tiêu. Ủng hộ các dự án hiện đại giáo dục từ xa, xây dựng trang giáo dục mở quốc gia. Tái cấu trúc và định hướng lại các trường đại học mà đào tạo sinh viên ra trường không đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

Tương tự, có lẽ, thậm chí những nhiệm vụ mà ngành y tế cần phải giải quyết còn phức tạp hơn. Đầu tư mua sắm trang thiết bị hiện đại, những vấn đề lớn nhất trong lịch sử nước Nga còn có việc nâng lương cho bác sỹ - điều kiện cần thiết, nhưng chưa phải là điều kiện đủ để giải quyết những nhiệm vụ này.

Có thể nêu lên một loạt phương hướng – quản trị và công nghệ, những hướng mà ngành y tế của Nga sẽ phát triển theo. Trong số đó phương hướng phát triển ưu tiên là chăm sóc sức khỏe ban đầu, vạch ra cái gọi là “sơ đồ điều trị” (khuyến cáo lâm sàng về hỗ trợ y tế), phát triển Telemedicine (cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ xa), áp dụng phiếu điện tử thống nhất – đó là cẩm nang “kiến thức” y học về bệnh nhân mà bất cứ bác sỹ và bệnh viện nào cũng có thể tiếp nhận, nếu bệnh nhận có yêu cầu.

Thực ra, quyền lựa chọn và phát triển cạnh tranh giữa các bác sỹ cũng như giữa các cơ sở y tế là một trong những nhân tố quan trọng giúp mô hình bảo hiểm y tế trở nên hấp dẫn.

Không cần phải nói rằng bảo hiểm y tế ở tất cả các nước mang lại hiệu quả 100%. Tuy nhiên, có thể thảo luận về loại hình này khi nó được áp dụng không chính thức. Việc áp dụng các nguyên tắc bảo hiểm diễn ra ở nước Nga không hề đơn giản. Điều này liên quan đến cả vai trò các công ty bảo hiểm, ảnh hưởng đối với thuốc, chất lượng dịch vụ. Nhưng chúng ta đã lựa chọn và không có ý định từ bỏ nó. Tuy nhiên, mô hình bảo hiểm thực tế là có thể nếu những bảo đảm của nhà nước về hỗ trợ y tế miễn phí được quy định rõ ràng và dễ hiểu.

Trong bối cảnh Nga bắt đầu bị sụt giảm mạnh dân số ở độ tuổi lao động thì về nguyên tắc phải hỗ trợ những người sẵn sàng làm việc. Việc kéo dài hoạt động lao động tích cực của các thế hệ nhiều tuổi hiện không còn là nhiệm vụ xã hội mà còn là nhiệm vụ kinh tế. Có thể nói rằng có nhiều ví dụ về tăng trưởng kinh tế hiện đại trong nước nơi số người đang lao động giảm hoàn toàn không nhiều. Và đó là một thách thức nghiêm trọng nữa đang đặt ra trước nước Nga.

Đặc tính của các hệ thống lương hưu là ở chỗ những hệ thống này rất quán tính, giống như các quá trình nhân khẩu. Trong tương lai chúng ta có thể đối mặt với tình huống khi mà số người về hưu ngang bằng với số người đang lao động. Rõ ràng, tình huống này sẽ làm gia tăng mạnh mẽ gánh nặng thuế, giảm mức độ sung túc khi về hưu và gây ra nhiều hậu quả hết sức khó chịu. Để tránh tình huống này nền kinh tế chúng ta, ngành tài chính, kinh tế, xã hội và chính hệ thống hưu trí cần phải sớm đối phó với triển vọng như thế.

Những nhân tố phi kinh tế cần cho hiện đại hóa

Việc bảo đảm cho sự phát triển của chúng ta thành công đòi hỏi phải nâng cao chất lượng các dịch vụ nhà nước, chất lượng điều hành của nhà nước. Trước hết đó là sự đảm bảo an toàn cá nhân và tài sản. Chính sách bảo vệ quyền sở hữu và hạn chế sự lộng hành đang được thực thi tạo ra hiệu quả lâu dài và bền vững đối với sự phát triển kinh tế. Hệ thống văn bản kiểm tra và đối trọng nhằm bảo vệ tính tích cực của doanh nghiệp khỏi sức ép phi lý trong lĩnh vực hành chính – thực thi pháp luật.

Việc hình thành quyền tài phán cạnh tranh tại Nga là cực kỳ quan trọng, đòi hỏi phải có hệ thống tư pháp hiệu quả. Đó là tổ hợp vấn đề, tuy nhiên cần phải có cả những giải pháp thể chế, thay đổi hệ thống giáo dục, và chủ yếu là truyền thống và thực tiễn.

Quyền tài phán hiệu quả là nhiệm vụ không kém phần phức tạp so với nền kinh tế hiệu quả. Nhưng chúng phải gắn bó mật thiết với nhau, bởi vì cái đầu tiên là điều kiện cần thiết cho cái thứ hai.

Việc hình thành hệ thống các quan tòa thống nhất là bước đi quan trọng trong việc hiện đại hóa hệ thống tư pháp. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước khởi đầu của con đường, và việc tự thay đổi cơ cấu tổ chức sẽ không mang lại kết quả như mong muốn.

Điều rất quan trọng là việc cải cách hệ thống tư pháp phải bảo đảm thu hút được những người mới, những người có học thức cao vào làm việc. Điều không kém phần quan trọng là trong lĩnh vực hiện đang có kho công nghệ thông tin hiện đại hoạt động, nhờ đó có thể nâng cao về mặt chất lượng sự minh bạch hệ thống tư pháp và những quyết định được đưa ra trong đó.

Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước. Đây là đề tài được thảo luận rất tích cực trong thời gian gần đây ở nước Nga. Đây cũng là nhiệm vụ mang tính chất bao trùm, bởi vì liên quan đến nhiệm vụ này còn có việc tối ưu hóa hệ thống các cơ quan nhà nước, xây dựng cơ chế đưa ra quyết định, bao gồm cả lập kế hoạch chiến lược, áp dụng các công nghệ quản lý hiện đại, và tất nhiên có cả việc đào tạo cán bộ.

Ngày nay, một trong những nhiệm vụ cơ bản của hệ thống quản lý nhà nước là khuyến khích hoạt động đầu tư. Các quyết định của hệ thống quản lý nhà nước phần lớn phụ thuộc vào sự chuẩn bị và khả năng nghiên cứu cải thiện môi trường doanh nghiệp và thuyết phục các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực và khu vực thích hợp.

Đây là tiêu chí hợp lý để xem xét khi đánh giá hoạt động của lãnh đạo chủ chốt chính quyền các cấp.

Việc cung cấp tài chính và lên kế hoạch chương trình, đánh giá, thôi thúc các quan chức cần phải gắn với thành tích của các mục tiêu trình bày rõ ràng (kết quả cuối cùng).

Ngày nay, một trong những nhiệm vụ cơ bản của hệ thống quản lý nhà nước là khuyến khích hoạt động đầu tư. Giải pháp cho vấn đề này phần lớn phụ thuộc vào sự chuẩn bị và khả năng nghiên cứu cải thiện môi trường kinh doanh và thuyết phục doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực và các khu vực thích hợp. Đây là tiêu chí xem xét khi đánh giá công việc lãnh đạo chủ chốt của các cấp chính quyền.

Hệ thống quản lý nhà nước ra quyết định chưa chắc trên thực tế được coi là “hệ thống” nếu nó không thống nhất và nhất quán. Luật về lập kế hoạch chiến lược tạo nền tảng cho việc xuất hiện đúng lúc hệ thống thiết lập mục tiêu, nhưng hoàn toàn không đề cập đến việc làm thế nào để những kế hoạch quan liêu hình mẫu Xô Viết hồi sinh dưới hình thức như thế nào, và để kiểm soát nếu muốn ngay cả bản thân, để những mục tiêu chiến lược không trở thành các khẩu hiệu, trong khi các quyết định chiến lược hiện nay dường như đang ở thế đối đầu với những định hướng dài hạn.

* * *

Tổng kết có thể đưa ra một số kết luận mang tính nguyên tắc về những thay đổi đang diễn ra trên thế giới và tại nước Nga, cũng như về những nhiệm vụ đang đặt ra trước chúng ta vào thời điểm hiện tại.

Thứ nhất, trên thế giới do hậu quả của cuộc khủng hoảng toàn cầu đang hình thành “thực tế mới”, bao trùm không chỉ lĩnh vực kinh tế mà còn tất cả các mặt cơ bản của đời sống xã hội hiện đại.

Các quốc gia hàng đầu thế giới đang tiến tới quỹ đạo tăng trưởng mới. Điều này liên quan đến cả tốc độ tăng trưởng, các nhân tố tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng. Nhiều tiêu chí, mà dựa vào đó người ta đã đánh giá tính năng động của sự phát triển ngay từ cuối thế kỷ XX – đầu XXI, đòi hỏi phải xem xét lại. Những kỹ thuật, công nghệ mới được áp dụng, trong đó có các công ty nhỏ và chỉ trong một thời gian ngắn làm thay đổi triệt để một loạt thị trường và ngành nghề. Hành vi trên thị trường trong đó có cả cách tiếp cận thực hiện các dự án lớn dài hạn được xác định theo kiểu mới.

Thứ hai, nước Nga xét theo nhiều thông số kinh tế - xã hội là đất nước phát triển và vì thế những vấn đề của nước Nga trước hết cần phải so sánh với các nền kinh tế phát triển khác. Bên cạnh đó, nước Nga còn có một số lợi thế của quốc gia đang phát triển mà chúng ta có thể và nên tận dụng để vượt qua cuộc khủng hoảng hiện nay cũng như để đáp trả những thách thức mang tính dài hạn.

Đương nhiên, vị trí của chúng ta trên thế giới đang tạo ra thêm cho chúng ta nhiều thách thức và khó khăn khác. Chính nguyện vọng của Nga trở thành một phần hữu cơ của thế giới phát triển đang gây ra sự chống đối từ phía các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của chúng ta. Căng thẳng địa chính trị trong thời gian gần đây phần lớn liên quan đến chính những trường hợp nêu trên.

Thứ ba, cần phải xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế mới đáp ứng thực tế nước Nga và thế giới hiện đại. Hiện trong thời gian xảy ra khủng hoảng toàn cầu hóa, những “luật chơi” mới, dài hạn đang được soạn thảo. Mô hình kinh tế mới được thiết kế trong triển vọng trung hạn bảo đảm cho nền kinh tế Nga tốc độ tăng trưởng năng động và bền vững, vượt tốc độ trung bình của thế giới và kéo theo chuyển đổi cơ cấu về mặt chất lượng.

Thứ tư, nguồn nhân lực đang trở thành vấn đề then chốt của cạnh tranh quốc tế, đồng thời là nhân tố quan trọng và ngày càng năng động hơn trong ngành sản xuất hiện đại. Sự cạnh tranh này sẽ rất khốc liệt, bởi vì trên thế giới đã hình thành khái niệm rõ ràng: Vị trí dẫn đầu sẽ thuộc về những quốc gia có thể trở nên hấp dẫn hơn đối với những người có học và có năng lực.

Thứ năm, việc tìm kiếm những biện pháp thích ứng để đối phó với những thách thức của thế giới đang thay đổi nhanh chóng hình thành nên khuynh hướng chủ đạo giải phóng đời sống kinh tế. Nhận thức được điều này không chỉ những quốc gia phát triển mà còn cả nhiều quốc gia đang phát triển đang mong muốn tạo điều kiện cho công nghệ mới, sự dịch chuyển tư bản cũng như công nghệ.

Từ những gì đã nói ở trên rút ra một loạt nhiệm vụ, giải quyết được chúng là rất cần thiết đối với sự phát triển bền vững của đất nước.

Một là, bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô, bao gồm cả việc cân bằng ngân sách và kiên quyết đưa lạm phát xuống đến mức mục tiêu. Điều này sẽ nâng cao tính dự báo và lòng tin vào nền kinh tế quốc gia. Ngoài ra, việc giảm lạm phát cần phải tiến hành đồng thời với giảm lãi suất thị trường, có nghĩa là nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng đối với doanh nghiệp lẫn người dân.

Hai là, nâng cao tính hiệu quả chi tiêu ngân sách. Các khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng và con người cần phải được xem như những ưu tiên hàng đầu. Hơn nữa, việc cân bằng ngân sách cần thiết sẽ bảo đảm thoát khỏi tình trạng gánh nặng tài chính không tăng lên trong những năm tới.

Ba là, kiên định thực hiện chính sách thu hút đầu tư tư nhân nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ này trong việc bảo đảm tăng trưởng kinh tế. Chính phủ cũng đang và sẽ đề xuất những hình thức hỗ trợ mới thúc đẩy hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, sự khuyến khích của chính phủ phải có giới hạn, nhưng điều quan trọng là chính phủ không thể thay thế chính nhà đầu tư tư nhân. Về khả năng thu hút các nhà đầu tư tư nhân cần phải đánh giá tính hiệu quả các mắt xích tương thích của bộ máy nhà nước trong đó có lãnh đạo các khu vực.

Bốn là, tiền tiết kiệm trong nước cần phải trở thành nguồn đầu tư quan trọng nhất. Đây là nhiệm vụ chiến lược trong nhiều năm, nhưng cần phải khởi động hướng đến mục tiêu này. Trong bối cảnh như thế chúng ta sẽ xem xét các vấn đề về tính hiệu quả của việc sử dụng tích lũy tiền hưu. Hệ thống tiền hưu, rồi sau đó là hệ thống bảo hiểm là nguồn chính hình thành dòng “tiền dài hạn” trong nền kinh tế.

Năm là, sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ giống như điều kiện tăng trưởng kinh tế bền vững, nhân tố bảo đảm sự ổn định xã hội. Sự năng động của doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những chỉ số có ý nghĩa nhất đo sức khỏe kinh tế và xã hội của đất nước.

Sáu là, khuyến khích cạnh tranh. Một trong những nguyên nhân cạnh tranh yếu là những lo ngại về sự yếu kém xã hội tại các doanh nghiệp ở các khu vực. Sự phát triển thị trường lao động hiện đại đang trở thành vấn đề xã hội và kinh tế. Cách tiếp cận hình thức để giải quyết vấn đề này sẽ cản trở việc đẩy mạnh tạo ra những công việc hiệu suất cao.

Bảy là, khuyến khích xuất khẩu phi nguyên liệu (bằng hoàn toàn những con số và thị phần khối lượng xuất khẩu chung). Ngoài ra, điều này còn trở thành chỉ số cho thấy rằng trên thực tế chính sách thay thế nhập khẩu được khởi động và bắt đầu mang lại hiệu quả tích cực.

Tám là, những chuyển dịch về chất trong hiệu quả quản lý nhà nước. Cần phải hình thành hệ thống trách nhiệm của những mức độ khác nhau và các cơ quan chính quyền ra quyết định. Đánh giá các quan chức và cung cấp tài chính cho các chương trình cần phải gắn với kết quả cụ thể. Hệ thống ra quyết định phải có tính chất thống nhất và nhất quán để những quyết định chiến thuật không đi ngược lại với những định hướng dài hạn.

Chính kinh nghiệm cho thấy không soạn thảo được đường lối đúng đắn không quan trọng bằng việc đưa nó vào cuộc sống và việc bảo đảm nó được thực hiện. Và đó là nhiệm vụ của chúng ta.

Theo Rossiyskaya Gazeta (Nga)

Thúy Bình (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

QUAD tìm kiếm vai trò phi quân sự và phản ứng chiến lược từ Trung Quốc: Chủ nghĩa tiểu đa phương, đầu tư cơ sở hạ tầng và cân bằng khu vực

QUAD tìm kiếm vai trò phi quân sự và phản ứng chiến lược từ Trung Quốc: Chủ nghĩa tiểu đa phương, đầu tư cơ sở hạ tầng và cân bằng khu vực

Bài viết phân tích mục đích và sự mở rộng của hợp tác an ninh tiểu đa phương và qua đó đánh giá trường hợp của Đối thoại Tứ giác An ninh (QUAD). Sau đó, tác giả phân tích và làm rõ phản ứng của Trung Quốc, từ đó đưa ra các kết luận và dự đoán về sự tương tác giữa hai chủ thể trên sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với trật tự khu vực.

Đọc tiếp...

Tái thiết quan hệ với Trung Quốc thời Biden khó thành hiện thực

Tái thiết quan hệ với Trung Quốc thời Biden khó thành hiện thực

Dù Mỹ và Trung Quốc đều để ngỏ kênh đối thoại, hai bên khó có thể tái thiết hoàn toàn quan hệ song phương vào thời điểm này. Chính quyền Biden quyết tâm theo đuổi cách tiếp cận cứng rắn với Trung Quốc trong khi Trung Quốc tiếp tục các động thái hung hăng, ảnh hưởng đến trật tự quốc tế trong mắt Mỹ.

Đọc tiếp...

Thế khó của Nhật Bản trong cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung

Thế khó của Nhật Bản trong cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung

Nhật Bản là một trường hợp đặc biệt để nghiên cứu tác động của cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung. Là quốc gia nằm tại tiền tuyến của cạnh tranh, Nhật Bản ở vị thế khó xử bởi vừa là đồng minh quân sự thân cận của Mỹ lại vừa có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU và Trung Quốc mối quan hệ từ đối tác chiến lược chuyển thành đối thủ hệ thống. Điều gì đã đẩy hai bên đi đến bước đường này?

Đọc tiếp...

Cách Mỹ thách thức Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình

Cách Mỹ thách thức Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình

Chính sách Mỹ-Trung đòi hỏi một chiến lược nghiêm túc, bền vững, chứ không phải một chiến lược chắp vá trong chiến dịch tranh cử tổng thống để cứu lấy một chính quyền thất bại.

Đọc tiếp...

Cơ hội lớn của ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc

Cơ hội lớn của ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc

Các quốc gia Đông Nam Á có cơ hội hiếm có để tận dụng tuyên bố của Bắc Kinh về sự phụ thuộc lẫn nhau trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách, chẳng hạn như sáng kiến “Vành đai và Con đường” và Biển Đông.  

Đọc tiếp...

Đằng sau sự thay đổi bất ngờ của Philippines về VFA với Mỹ

Đằng sau sự thay đổi bất ngờ của Philippines về VFA với Mỹ

Hôm 11 tháng 2, Philippines thông báo chấm dứt Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng (VFA) với Mỹ, đến ngày 2 tháng 6 nước này lại tuyên bố hoãn quyết định chấm dứt VFA. Điều gì uẩn khúc đằng sau sự thay đổi bất ngờ của Philppines?

Đọc tiếp...

Hiểm họa đối đầu Mỹ -Trung

Hiểm họa đối đầu Mỹ -Trung

Sự trỗi dậy của Trung Quốc liệu có thay đổi cục diện một "nền hòa bình kiểu Mỹ" tại khu vực châu Á. Phản ứng của các quốc gia trong khu vực sẽ ra sao, chọn Mỹ hay chọn Trung Quốc?

Đọc tiếp...

Xây dựng lòng tin ở châu Á - Thái Bình Dương: Lý thuyết, thực tiễn và một số bài học kinh nghiệm

Xây dựng lòng tin ở châu Á - Thái Bình Dương: Lý thuyết, thực tiễn và một số bài học kinh nghiệm

Bài viết tìm hiểu cơ sở lý thuyết và thực tiễn về xây dựng lòng tin ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương thông qua trả lời các câu hỏi: Vì sao đặc điểm triển khai các biện pháp xây dựng lòng tin (CBMs) ở châu Á - Thái Bình Dương khác với CBMs truyền thống? Bài học kinh nghiệm rút ra từ triển khai CBMs ở khu vực là gì?

Đọc tiếp...

Quan điểm của Đông Nam Á về cuộc đối đầu Mỹ-Trung

Quan điểm của Đông Nam Á về cuộc đối đầu Mỹ-Trung

Các quốc gia trong khu vực đang tìm cách không để cho những tranh chấp của họ với Trung Quốc ảnh hưởng tới các khía cạnh khác trong mối quan hệ với nước láng giềng quan trọng này, tìm cách cân bằng giữa Trung Quốc và Mỹ, cũng như các cường quốc khu vực như Nhật Bản và Ấn Độ.

Đọc tiếp...

Covid 19 đẩy quan hệ Mỹ-Trung xuống đáy

Covid 19 đẩy quan hệ Mỹ-Trung xuống đáy

Đại dịch đã đẩy quan hệ Mỹ-Trung xuống đáy vì cả hai nước đều tìm cách vượt mặt nhau để định hình trật tự thế giới.

Đọc tiếp...

Tác động của COVID-19 đến quan hệ Trung-Mỹ

Tác động của COVID-19 đến quan hệ Trung-Mỹ

Dịch COVID-19 đã đẩy mối quan hệ Trung-Mỹ vào một giai đoạn tồi tệ mới. Quan hệ thương mại song phương trên đà suy thoái, rơi vào trạng thái dường như đóng băng; sự thiếu hụt lòng tin chiến lược ngày càng nghiêm trọng; bầu không khí giữa hai bên ngột ngạt chưa từng có.

Đọc tiếp...

Khả năng tồn tại của liên minh Mỹ-Philippines

Khả năng tồn tại của liên minh Mỹ-Philippines

Các nhà ngoại giao và quan chức quân sự ở cả Mỹ và Philippines đang tìm cách cứu vãn Thỏa thuận Các lực lượng thăm viếng (VFA) với lo ngại rằng khoảng trống an ninh do thoả thuận trên để lại có thể sẽ tạo cơ hội để Bắc Kinh tăng cường củng cố quân đội và bành trướng hơn nữa ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Những thách thức của quan hệ đối tác Nga-Trung

Những thách thức của quan hệ đối tác Nga-Trung

Quan hệ đối tác Trung-Nga đã được củng cố đáng kể trong hai năm qua. Tuy nhiên, những thay đổi tiềm tàng trong chính sách của Mỹ và đặc biệt là những diễn biến ở Trung Á và Bắc Cực có thể thách thức mối quan hệ này trong tương lai.

Đọc tiếp...

Mỹ-Trung không nên đấu đá nhau trong bối cảnh đại dịch

Mỹ-Trung không nên đấu đá nhau trong bối cảnh đại dịch

COVID-19 là nguyên nhân mới nhất dẫn đến xích mích trong mối quan hệ ngày càng căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh. Tuy nhiên, nếu để cho sự ganh đua làm mờ mắt trước những mối đe dọa rõ ràng lúc này, hai bên rốt cuộc sẽ tự hủy hoại chính mình.

Đọc tiếp...

Sáng kiến cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – ASEAN của Trung Quốc và phản ứng hai chiều từ ASEAN

Sáng kiến cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – ASEAN của Trung Quốc và phản ứng hai chiều từ ASEAN

Đề xuất này là dấu hiện cho sự kết tinh của một chiến lược có chủ ý và được đầu tư từ phía Trung Quốc về tương lai của quan hệ ASEAN-Trung Quốc, nhằm củng cố sự thay đổi quyền lực đang diễn ra ở Đông Nam Á và tạo ra sự chuyển đổi suôn sẻ sang trật tự khu vực lấy Trung Quốc làm trung tâm trong bối cảnh Mỹ suy giảm ảnh hưởng trong khu vực.

Đọc tiếp...

Dịch COVID-19 tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Dịch COVID-19 tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Trung Quốc đã cố gắng giải quyết một cách thận trọng mối quan hệ với Mỹ, đồng thời triển khai sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng gia tăng trên toàn thế giới. Dịch COVID-19 đã làm trầm trọng thêm căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ và đặt ra những câu hỏi về vai trò lãnh đạo toàn cầu của Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Hy vọng và lo sợ của Đông Nam Á

Trung Quốc-Hy vọng và lo sợ của Đông Nam Á

Trung Quốc được nhìn nhận là nước có ảnh hưởng lớn nhất về kinh tế tại khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, niềm tin của khu vực vào Trung Quốc đã suy giảm trong một vài năm qua dựa trên thái độ của quốc gia này đối với các vấn đề lợi ích chung.

Đọc tiếp...

Tiềm năng quan hệ Mỹ-ASEAN

Tiềm năng quan hệ Mỹ-ASEAN

Cuộc thăm dò dư luận gần đây nhất của ISEAS cho thấy Trung Quốc đang nhanh chóng giành được ưu thế kinh tế và chiến lược ở Đông Nam Á so với Mỹ. Do đó, để lấy lại lợi thế của mình tại khu vực này, Mỹ phải xác định lại các điều khoản cạnh tranh.

Đọc tiếp...

Hậu quả của việc Mỹ mất VFA với Philippines

Hậu quả của việc Mỹ mất VFA với Philippines

Việc chấm dứt Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng (VFA) với Philippines sẽ khiến Mỹ dễ bị tổn thương hơn nữa trước các chính sách chính trị và đối ngoại trong nước của các đồng minh hiệp ước khác.  

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5355 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin