18 - 4 - 2021 | 3:33
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Quân đội Nga: Thử nghiệm một diện mạo mới

Quân đội Nga: Thử nghiệm một diện mạo mới

Email In PDF.

Nhìn chung, những gì đã được thực hiện kể từ năm 2008 có thể được xem là cuộc cải cách quân đội đầy tham vọng, nhất quán và hiệu quả nhất trong các nước hậu Xôviết, cho phép Nga tạo ra các lực lượng thường trực và có khả năng sẵn sàng cao thích nghi tốt để hoạt động ở khu vực hậu Xôviết.

 

 

Mùa Thu năm 2008, Nga đã phát động các cải cách quân sự sâu rộng mở ra những sự thay đổi lớn hơn bao giờ hết trong Các lực lượng vũ trang quốc gia (Quân đội Nga) kể từ khi Hồng Quân ra đời. Hệ thống quân sự này đã mất khoảng 3 năm để có được một “diện mạo mới” khác biệt đáng kể về nhiều phương diện so với Hồng Quân, quân đội Xôviết và quân đội Nga trước đây. Đây là kết quả của quyết tâm chính trị được thể hiện bởi cả Điện Kremlin lẫn Bộ Quốc phòng Nga mà người đứng đầu khi đó là Anatoly Serdyukov.

Nền tảng của Các lực lượng vũ trang Nga được đại tu chưa bao giờ thay đổi từ sau khi Serdyukov từ chức và Sergei Shoigu lên thay ông vào tháng 11/2012. Vị Bộ trưởng mới này đã tiếp tục lãnh đạo Các lực lượng vũ trang Nga theo đường lối đã vạch sẵn trong khi tránh những sự thay đổi lớn. Sự cải cách sâu sắc này đã tăng cường năng lực và khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội; các hành động của quân đội Nga ở Crimea trong năm 2014 và cuộc khủng hoảng Ukraine là những bằng chứng xác đáng cho điều đó.

Hướng tới một quân đội Nga mới

Khi Anatoly Serdyukov, một nhân vật hết sức bình thường, bất ngờ được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng vào tháng 2/2007, quân đội Nga đã ở vào một tình thế phức tạp. Một mặt, các cải cách quân sự đã diễn ra liên tục kể từ năm 1992, đem lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên, không cải cách nào là hoàn thiện và tất cả những vấn đề chính mà quân đội Xôviết để lại đã trở nên trầm trọng cùng với các vấn đề mới chẳng hạn như không thể thuê đủ quân nhân phục vụ theo hợp đồng. Hiện nay, điều đã trở nên rõ ràng là Vladimir Putin đã đưa Serdyukov vào vị trí này với một mục đích duy nhất, đó là tiến hành những cải cách sâu sắc với tư cách là một người không có liên hệ với bộ máy quân đội và là người chủ trương ủng hộ một “đường hướng quản trị” hoàn toàn mới đối với việc tổ chức Các lực lượng vũ trang Nga.

Các cải cách này đã được xúc tiến bởi “cuộc chiến 5 ngày” với Gruzia vào tháng 8/2008. Mặc dù quân đội Nga đã trả đũa ngay tức khắc và dễ dàng tiêu diệt quân đội của đối phương, buộc họ phải tháo chạy, giới lãnh đạo quân sự-chính trị của Nga đã quyết định sử dụng Các lực lượng vũ trang trong cuộc xung đột này một cách gây tranh cãi. Và chẳng bao lâu, vào cuối tháng 8/2008, các quyết định đã được đưa ra, mà phần lớn không được công khai, để tiến tới một giai đoạn mới cải cách quân đội sâu sắc nhằm đem lại cho Các lực lượng vũ trang Nga “một diện mạo mới” hướng đến tham gia chủ yếu vào các cuộc xung đột cục bộ ở khu vực hậu Xôviết. Kế hoạch cải cách quân đội cơ bản đã được Bộ trưởng Quốc phòng Serdyukov công bố chính thức vào ngày 14/10/2008.

Vấn đề chính là làm thế nào để duy trì cơ cấu động viên của quân đội từ thời Xôviết. Việc động viên một phần cho các xung đột cục bộ hoặc trong nước đã không được bàn đến vì những lý do chính trị kể từ cuối những năm 1980, do đó về cơ bản không thể sử dụng Các lực lượng vũ trang Nga trong các cuộc xung đột có giới hạn. Tuy nhiên, các xung đột này vẫn tiếp tục nổ ra trong khu vực hậu Xôviết sau khi Liên Xô tan rã, ngày càng thường xuyên kéo theo quân đội và lên đến đỉnh điểm trong hai cuộc chiến Chechnya. Cả chế độ Yeltsin yếu kém và bất ổn lẫn chế độ Putin đã thay thế chế độ Yeltsin vào cuối năm 1999 đều không đủ can đảm để sử dụng đến các chiến dịch động viên quy mô lớn trong cuộc xung đột Chechnya.

Do đó, bộ chỉ huy quân sự đã phải đối mặt với một tình thế tiến thoái lưỡng nan đầy thách thức: làm thế nào để duy trì động viên như là nền tảng đồng thời tìm cách để sử dụng quân đội một cách hiệu quả, ít nhất là trong các cuộc chiến có giới hạn, mà không cần phải động viên. Tình thế tiến thoái lưỡng nan này đã trở thành một điểm mấu chốt để cải cách quân đội sau năm 1992.

Ngoài các vấn đề tuyển mộ, một sự gia tăng đáng kể về số lượng quân nhân theo hợp đồng đã không thể tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu khi các binh sỹ theo hợp đồng “bị giải thể” hoàn toàn ở các đơn vị nòng cốt và năng lực thấp. Bất kỳ việc sử dụng quân đội nào cũng sẽ đòi hỏi phải thuyên chuyển binh sỹ từ đơn vị này sang đơn vị khác để bổ sung. Nhưng việc huấn luyện chiến đấu hiệu quả khó có thể thực hiện được ở các đơn vị bị cắt giảm như vậy.

Một trong những giải pháp là các đơn vị sẵn sàng thường trực tương đối hoàn thiện được cho là tồn tại cùng với các tổ đội nòng cốt. Khi tình hình kinh tế cải thiện và chi phí quốc phòng gia tăng, vào năm 2008, nước này đã xây dựng một số lượng nhất định các đơn vị và tổ đội sẵn sàng thường trực đóng vai trò quan trọng trong “cuộc chiến 5 ngày”. Tuy nhiên, tình trạng các đơn vị sẵn sàng thường trực hoạt động trong khi quân đội nghỉ ngơi, mà phần lớn có thể huy động về bản chất, về cơ bản đồng nghĩa với sự tồn tại của hai quân đội cùng một lúc khi quốc gia này đang dần cạn kiệt tài nguyên. Do đó, việc loại bỏ quân đội huy động truyền thống và thay thế nó bằng các lực lượng sẵn sàng thường trực chỉ là vấn đề thời gian.

Điều này đã đặt nền tảng cho cuộc cải cách quân đội năm 2008 được cho là đã đem lại “một diện mạo mới” cho Các lực lượng vũ trang Nga. Đường hướng này đã được ủng hộ bởi các học thuyết an ninh quốc gia mới. Rõ ràng, một cuộc chiến tranh thông thường quy mô lớn giữa các quốc gia hàng đầu được cho là gần như không thể xảy ra và Các lực lượng vũ trang Nga sẽ thay đổi chiến thuật của họ từ lao vào một cuộc chiến lớn với một số đối thủ sang tham gia các cuộc xung đột cục bộ tiềm tàng ở các biên giới của Nga hoặc ở các nước SNG (Cộng đồng các quốc gia độc lập) và các nước lân cận khác. Việc đánh giá lại khả năng tham gia một cuộc chiến tranh trên quy mô lớn đã dẫn đến hủy bỏ hệ thống động viên như là một sự lỗi thời bởi nó đã tồn tại từ thời Xôviết. Nhiệm vụ bảo vệ trước các nước lớn (chủ yếu là Mỹ và NATO) được giao phó gần như hoàn toàn cho các lực lượng hạt nhân chiến lược.

Như là kết quả của việc tái định hướng từ chiến đấu trên quy mô lớn sang các cuộc xung đột cục bộ, vào năm 2008-2012, quân đội Nga đã được biến đổi thành “các lực lượng sẵn sàng thường trực” được cấu thành từ các lữ đoàn dựa trên các đơn vị và tổ đội sẵn sàng thường trực hiện có đã được củng cố sức mạnh bằng binh sỹ từ các đơn vị và tổ đội bị cắt giảm và nòng cốt. Khi ngày càng nhiều lữ đoàn được triển khai, số lượng của chúng vượt quá số đơn vị và lực lượng sẵn sàng thường trực tồn tại trước đó.

Các cải cách này đã cắt giảm gần một nửa số trung đoàn và lữ đoàn trong quân đội, với các cắt giảm lớn nhất xảy ra ở phần châu Âu của nước này.

Ở Quân khu Moskva “cũ”, 50 tiểu đoàn xe tăng và bộ binh cơ giới được triển khai đã giảm xuống còn 22 vào năm 2010. Các đơn vị lục quân ở biên giới với Ukraine đã được rút gần như hoàn toàn khỏi danh sách quân đội thường trực với việc giải tán Sư đoàn xe tăng số 10 (sư đoàn chỉ có duy nhất trung đoàn bộ binh cơ giới số 6) ở khu vực Voronezh và Kursk mà ở đó chỉ còn lại một kho dự trữ để triển khai Lữ đoàn xe tăng số 1. Những sự cắt giảm này được cho là để bù đắp cho việc thành lập một lữ đoàn tác chiến trên không mới ở Smolensk được trang bị các máy bay trực thăng, nhưng việc này đã không bao giờ được thực hiện. Về cơ bản, người ta có thể nói về sự suy yếu chưa từng thấy sức mạnh của lục quân Nga ở các khu vực trung tâm và ở biên giới phía Tây của nước này. Điều này đã được Shoigu điều chỉnh lại phần nào vào năm 2013 khi Sư đoàn bộ binh cơ giới Taman số 2 và Sư đoàn xe tăng Kantemir số 4 (trước đây là các lữ đoàn) được tái triển khai bên ngoài thủ đô Moskva, nhưng cả hai sư đoàn này đã và vẫn chỉ còn một nửa sức mạnh.

Cuộc cải cách quân đội giai đoạn 2008-2012 đã làm giảm sút năng lực chiến đấu của Nga ở các khu vực phía Tây của nước này, điều cho thấy rằng cho đến cuộc khủng hoảng Ukraine (hay ít nhất là cho đến năm 2013), giới lãnh đạo chính trị-quân sự đã cho rằng các cuộc xung đột vũ trang và các hoạt động chiến đấu quy mô lớn ở khu vực châu Âu của nước này (với ngoại lệ là vùng Caucasus) gần như không thể xảy ra.

Đồng thời, sự thay đổi của Moskva hướng tới các hoạt động trong các cuộc xung đột có giới hạn thu hút nhiều sự chú ý hơn vào các lực lượng cơ giới và tác chiến đặc biệt. Kết quả là, Lực lượng không vận đã không chỉ tránh được những sự cắt giảm nhân lực mà họ còn giữ được cả các sư đoàn và tăng cường sức mạnh của mình. Các lực lượng tác chiến đặc biệt cũng đã bắt đầu xây dựng và tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu. Công cuộc hiện đại hóa các đơn vị không quân đã bắt đầu nhanh chóng và đi kèm với việc mua sắm số lượng lớn các máy bay trực thăng mới. Cuối cùng, vào đầu năm 2012, nhà lý luận cải cách, Tổng Tham mưu trưởng Tướng Nikolai Makarov đã ra lệnh thành lập Bộ Tư lệnh các Lực lượng Tác chiến Đặc biệt và Bộ Tư lệnh Không gian mạng. Bộ Tư lệnh các Lực lượng Tác chiến Đặc biệt được quan niệm là “một lực lượng có mục đích siêu đặc biệt” mà được cho là cuối cùng sẽ mở rộng lên 9 lữ đoàn giải quyết một loạt rộng lớn các nhiệm vụ.

Nhìn chung, những gì đã được thực hiện kể từ năm 2008 có thể được xem là cuộc cải cách quân đội đầy tham vọng, nhất quán và hiệu quả nhất trong các nước hậu Xôviết. Sự đổi hướng mang tính quyết định từ quân đội được động viên theo truyền thống đã cho phép Nga tạo ra các lực lượng thường trực và có khả năng sẵn sàng cao thích nghi tốt để hoạt động ở khu vực hậu Xôviết. Cơ cấu và tư thế này đã được bộ chỉ huy quân sự mới mà người đứng đầu là Sergei Shoigu duy trì.

Phong cách của ông là những đợt kiểm tra đột xuất trên quy mô lớn đòi hỏi các quân khu mới phải đề phòng và sẵn sàng hành động ngay lập tức. Ngoài giá trị tham khảo, các cuộc kiểm tra này đem lại cho Bộ Quốc phòng một cơ chế hiệu quả để đặt một số lượng lớn binh sỹ trong tình trạng báo động và tiến hành động viên một phần. Cơ chế này đã được sử dụng liên tục vào năm 2004 như là một hình thức gây áp lực cho Ukraine.

Những sự đầu tư lớn vào nhân lực và huấn luyện chiến đấu đã đem lại hiệu quả to lớn vào năm 2014 với một quân đội mạnh mẽ hơn và các binh sỹ tài giỏi hơn, đặc biệt là các sỹ quan. Một nhân tố tích cực khác là đã có được một số lượng lớn sỹ quan với kinh nghiệm thực chiến trong cuộc chiến Chechnya, các hoạt động chống khủng bố ở vùng Bắc Caucasus và nhiều cuộc xung đột cục bộ ở các nước hậu Xôviết. Ngoài ra, nhiều cuộc diễn tập đã được tổ chức ở mọi cấp độ, gồm cả các cuộc diễn tập chiến lược theo thường lệ, các phương pháp đào tạo và huấn luyện chiến đấu mới được đưa vào áp dụng, và nhiều binh sỹ có trình độ cao được tuyển mộ.

Các vũ khí và quân trang hạng nặng được chế tạo kể từ năm 2007 đã cải thiện đáng kể tình trạng vật tư và thiết bị của quân đội, chủ yếu là trong Không quân và các đơn vị hàng không của quân đội.

Ukraine: Những bài học của một cuộc chiến chưa bao giờ xảy ra

Cuộc khủng hoảng ở Ukraine đã trở thành bài kiểm tra quan trọng đầu tiên cho Các lực lượng vũ trang Nga được cải cách với một “diện mạo mới”. Trớ trêu thay, họ nhận ra mình đang ở bên bờ vực của cuộc đối đầu quân sự với Ukraine, nhà nước hậu Xôviết mạnh thứ 2 về quân sự sau Nga.

Sự can thiệp quân sự âm thầm của Nga vào Crimea vào cuối tháng 2 và đầu tháng 3/2014 đã làm cho nhiều người sững sờ và khiến một số nhà quan sát ở phương Tây và Ukraine bàn luận về một “cuộc chiến tranh hỗn hợp” mới. Hoạt động nhằm cung cấp sự trợ giúp về sức mạnh cho phong trào thân Nga ở Crimea và ngăn cản sự can thiệp của các lực lượng an ninh Ukraine đã được lên kế hoạch và tiến hành một cách khá tài tình và hiệu quả. Như đã biết hiện nay, Lực lượng không vận Nga, Lực lượng đặc nhiệm Spetsnaz và Các lực lượng có mục đích đặc biệt mới ra mắt đã đóng vai trò là “polite people” (chỉ các lực lượng không chính quy của Nga ở Ukraine).

Chiến dịch ở Crimea đã diễn ra cùng với một cuộc kiểm tra khả năng sẵn sàng chiến đấu bất ngờ do Tổng thống Putin ra lệnh ở Quân khu miền Tây và một phần Quân khu Trung tâm vào ngày 26/2/2014. Các mục tiêu được tuyên bố của cuộc kiểm tra đã được thực hiện bằng việc triển khai quân đội ở hầu hết địa điểm cách xa biên giới Ukraine cho đến các khu vực khác của Nga, gồm cả các khu vực phía Bắc. Điều này đã giúp che giấu việc bố trí lại vài nghìn binh sỹ của Spetsnaz và Lực lượng không vận đến Crimea, cùng với việc bố trí lại các đơn vị quân sự đến biên giới Ukraine như là một hình thức gây áp lực đối với Kiev để ngăn Kiev sử dụng sức mạnh quân sự ở Crimea.

Trong việc triển khai tác chiến, các đơn vị và tổ đội của quân đội Nga đã cho thấy một mức độ sẵn sàng chiến đấu và cơ động rất cao. Vào ngày 12/3/2014, Lữ đoàn Bộ binh Cơ giới số 18 từ Chechnya đã đến Crimea, hành quân 900 km đến Eo biển Kerch. Tiếp sau đó là Lữ đoàn Pháo binh số 291 đến từ Ingushetia. Với các máy bay vận tải quân sự cung cấp cầu không vận, việc tái bố trí quân đã được tiến hành nhanh chóng một cách ấn tượng.

Trên thực tế, tất cả tổ đội sẵn sàng chiến đấu từ khu vực trung tâm của Quân khu miền Tây và một số lực lượng từ Quân khu miền Nam và Quân khu Trung tâm đã được tái triển khai đến biên giới tiếp giáp Ukraine vào tháng 3 và tháng 4. Các lữ đoàn bộ binh cơ giới đã di chuyển bằng các xe bọc thép chuyên chở BTR-89/82. Theo ước tính của phương Tây, đến cuối tháng 4/2014, khoảng 80.000 binh sỹ đã tập hợp tại biên giới với Ukraine (bao gồm cả Crimea), trong đó có 40.000 quân trong các đơn vị chiến đấu.

Các báo cáo của phương Tây nói rằng 8 lữ đoàn (3 lữ đoàn bộ binh cơ giới, 3 lữ đoàn tấn công đường không, 1 lữ đoàn lính thủy đánh bộ, và 1 lữ đoàn pháo binh), 4 trung đoàn thuộc Sư đoàn số 2 và số 4 (3 trung đoàn xe tăng và 1 trung đoàn bộ binh cơ giới), 27 tiểu đoàn chiến thuật (14 tiểu đoàn không vận, 12 tiểu đoàn bộ binh cơ giới và 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ), 13 lực lượng đặc nhiệm và lên tới 10 tiểu đoàn pháo binh riêng biệt đã được triển khai gần biên giới Ukraine vào tháng 4. Họ đã được tập trung trong phạm vi một số nhóm được quản lý ở cả Kiev (qua các khu vực Sumy và Chernigov) lẫn Donbass và miền Nam Ukraine (qua Mariupol).

Các lực lượng này đông hơn nhiều so với quân đội Ukraine mà việc động viên được thông báo hồi tháng 3 đã diễn ra rất chậm chạp, một phần bởi các khu vực căn cứ của Ukraine chủ yếu nằm ở các khu vực miền Tây của nước này – như trong thời Xôviết.

Việc Nga triển khai quân một cách nhanh chóng ở Crimea và ở biên giới với Ukraine cũng như ngăn chặn các lực lượng Ukraine trên bán đảo này trên thực tế đã khiến Kiev không thể đưa ra bất kỳ biện pháp đối phó hiệu quả nào. Kết quả là, vào ngày 17/3, Crimea đã được sáp nhập vào Nga, chưa đến 1 tháng sau khi bắt đầu chiến dịch.

Tuy nhiên, vụ sáp nhập Crimea phần nào đã làm xấu thêm vị thế chiến lược của Nga bởi việc gây thù địch với Ukraine. Mối đe dọa này có thể được loại bỏ bằng cách thay đổi chính sách của Kiev hoặc làm suy yếu Ukraine theo bất kỳ cách thức nào, tốt nhất là bằng cách chia cắt nước này và hợp nhất các khu vực nói tiếng Nga ở miền Nam và miền Đông của nước này, cái gọi là Novorossiya, vào Nga.

Điều này là khiến “hiệp đấu thứ 2” ở Ukraine là không thể tránh khỏi khi cộng đồng nói tiếng Nga ở các khu vực miền Nam và miền Đông Ukraine được truyền cảm hứng bởi việc Crimea sáp nhập vào Nga. Các cuộc phản kháng và chiếm giữ các tòa nhà của chính phủ đã diễn ra trên khắp Ukraine từ đầu tháng 4/2014, và các nhóm vũ trang xuất hiện ở Donbass đã tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Lugansk và Cộng hòa Nhân dân Donetsk (LPR và DPR). Thời khắc quan trọng đã đến khi nhóm của Igor Strelkov từ Crimea tới Slavyansk vào ngày 14/3. Như Strelkov đã nói ngắn gọn trước đó trong thư của ông, các hành động của ông đã được thúc đẩy bởi sự tin tưởng hoàn toàn vào sự trợ giúp quân sự của Nga, vốn đã được cho là để ngăn chặn sự can thiệp quân sự của Kiev theo cách thức giống như đã được thực hiện ở Crimea.

Tuy nhiên, để đối phó cuộc binh biến này, chính quyền mới của Ukraine đã bắt đầu một chiến dịch chống khủng bố ở Donbass và bắt đầu đưa quân đến để đàn áp những người đòi ly khai.

Ở thời điểm đó, Moskva đã có một lập trường khá mơ hồ, đặc biệt là giữa phản ứng tiêu cực mạnh mẽ của phương Tây sửng sốt trước sự thay đổi tình hình nhanh chóng của Crimea và lo lắng trước những viễn cảnh về một sự sụp đổ hoàn toàn của Ukraine như là một phần quan trọng của “vành đai an toàn” chống Nga. Những tuyên bố hùng hồn của Moskva và sự tăng cường liên tục của quân đội đã buộc Kiev phải hành động một cách cẩn trọng và hạn chế phản ứng của mình ở Donbass để kiểm soát các hành động bởi vì một số lượng đáng kể binh sỹ Ukraine đã được giao nhiệm vụ chống trả sự can thiệp trực tiếp của Nga. Và cho đến nay, với ngày càng nhiều binh sỹ Ukraine tham gia chiến dịch chống khủng bố, đến cuối tháng 4/2014, chiến dịch ở Donbass đã bắt đầu tiến triển thành một cuộc đối đầu vũ trang.

Theo các biểu hiện bề ngoài, giới lãnh đạo của Nga đã không sẵn sàng cho phản ứng kiên quyết của Ukraine, đặc biệt là giữa các biện pháp trừng phạt ngày càng gia tăng của phương Tây. Điện Kremlin rõ ràng đã đánh giá quá cao tầm quan trọng của “chủ nghĩa tích cực” thân Nga ở miền Nam và miền Đông Ukraine và sự yếu kém của chính quyền mới của Ukraine, trong khi lại đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc ở Ukraine và sự quan tâm của giới tinh hoa nước này tới việc bảo vệ nền độc lập và vai trò của họ trong đó. Vào ngày 24/4/2014, Hội đồng An ninh Nga đã quyết định phản đối việc gửi quân đến Ukraine để trợ giúp cuộc nổi loạn ở Novorossiya. Vào tháng 5, Nga đã bắt đầu rút một lượng lớn binh lính của nước này khỏi biên giới Ukraine. Vào ngày 1/6, đáp lại yêu cầu của Điện Kremlin, Hội đồng Liên bang đã rút lại sự cho phép chính thức đối với việc sử dụng quân đội ở Ukraine.

Những hậu quả thật là tai hại: Kiev đã tự do hành động, và miền Đông Ukraine đã rơi vào một cuộc nội chiến đẫm máu đang thu được sức đà và kéo Nga ngày càng sâu vào cuộc chiến này.

Nếu được hoàn thành trong tháng 4 và tháng 5, hành động của quân đội Nga chắc chắn sẽ dẫn đến một sự tan rã nhanh chóng của nhà nước Ukraine như chúng ta biết hiện nay và dẫn đến sự sụp đổ của các lực lượng vũ trang nước này. Điều này sẽ có thể giải quyết “vấn đề Ukraine” theo một cách thức quyết liệt bằng cách chia cắt các khu vực nói tiếng Nga và biến phần còn lại của Ukraine thành một nhà nước hạng hai không thể hủy hoại các lợi ích của Nga.

Cuối cùng, cuộc nội chiến ở Donbass đã buộc Nga phải tăng cường sự trợ giúp cho quân nổi dậy đòi ly khai của DPR và LPR, trước hết là vũ khí và quân nhu và sau đó có thể là sự tham gia trực tiếp nhưng có giới hạn vào chiến sự bằng cách cung cấp thông tin tình báo và yểm trợ pháo binh và có thể lôi kéo các đơn vị đa năng và các đơn vị đặc biệt nhất định. Chiến thuật này đã lên đến đỉnh điểm với sự thất bại của các lực lượng của Ukraine vốn đã mệt mỏi gần Ilovaisk vào cuối tháng 8. Vào tháng 7, Nga lại bắt đầu tăng cường sự hiện diện của quân đội nước này ở biên giới Ukraine, rõ ràng với ý định kiềm chế hoạt động của quân đội của Ukraine chống lại quân nổi dậy.

Nhưng vì không có cuộc chiến tổng lực nào xảy ra giữa Nga và Ukraine, việc đưa “diện mạo mới” của quân đội vào một bài kiểm tra khắt khe hơn là điều không thể. Tuy nhiên, người ta có thể nói rằng khái niệm tổng thể về cải cách quân đội Nga được hình thành vào năm 2008 đã tỏ ra là đúng đắn và giới lãnh đạo Nga đã có được một lực lượng quân đội sẵn sàng thường trực tương đối hiệu quả có khả năng tiến hành các chiến dịch trên quy mô lớn trong không gian hậu Xôviết mà không cần phải động viên hay tăng cường.

Một bước đột phá lớn đã được thực hiện trong lĩnh vực hậu cần. Sau chiến dịch Gruzia, quân đội Nga trong nhiều năm qua đã tăng cường các năng lực cơ động chiến lược của mình và luyện tập triển khai trên các phạm vi rộng lớn, điều đã tỏ ra là rất hữu ích trong cuộc khủng hoảng Ukraine.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng Ukraine một lần nữa đã cho thấy rằng điểm yếu của quân đội Nga là số lượng lính nghĩa vụ chiếm phần lớn, thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự bị giảm đi (1 năm) và thiếu quân nhân phục vụ theo hợp đồng. Mặc dù Nga đã tuyên bố mục đích của việc tạo ra một quân đội sẵn sàng thường trực, nhiều đơn vị và tổ đội quân sự đã không được sử dụng trọn vẹn trong năm 2014 do sự thiếu hụt binh sỹ ở phần lớn các đơn vị và tính chất chu kỳ của việc huấn luyện lính nghĩa vụ. Kết quả là, các tổ đội “sẵn sàng thường trực” chỉ có thể gửi không quá 2/3 số binh sỹ đến khu vực tác chiến, để lại các binh sỹ chưa được huấn luyện được tuyển mộ trong mùa Thu.

Một vấn đề nghiêm trọng khác là quân dự bị. Cho đến giờ không có mô hình quân dự bị tối ưu nào hiệu quả đối với “diện mạo mới”. Ngoài ra, vẫn không có cơ chế rõ ràng nào cho việc triển khai các đơn vị và tổ đội bổ sung và thay thế binh sỹ hy sinh trong thời chiến.

Kinh nghiệm của quân đội Ukraine ở Donbass dường như khá thú vị theo quan điểm này. Mặc dù quân đội Ukraine đã được cơ cấu lại thành một lực lượng dựa trên lữ đoàn vào đầu những năm 2000, nó vẫn là một quân đội từ thời Xôviết điển hình cho đến khi xảy ra cuộc xung đột, hoàn thiện với một số lượng lớn các đơn vị và tổ đội nòng cốt sẽ được cung cấp thêm binh sỹ trong quá trình động viên. Điều này đã buộc Ukraine phải sử dụng đến “các đợt động viên” kinh điển mà đã bộc lộ tất cả các vấn đề liên quan, chẳng hạn như sự bất mãn và các cuộc phản kháng rộng rãi, lẩn tránh và đào ngũ hàng loạt, nhuệ khí thấp và kỷ luật lỏng lẻo trong các binh sỹ được lệnh động viên, sự huấn luyện yếu kém và không sẵn sàng chiến đấu của họ, đặc biệt là trong một cuộc xung đột trong nước. Quá trình chuyển đổi sang thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng trong năm 2013 đã không giải quyết được các vấn đề vì chất lượng của quân nhân hợp đồng vẫn ở mức thấp trong khi không có tài trợ và quân dự bị. Đây là những lý do giải thích tại sao khả năng chiến đấu của các đơn vị và lực lượng cơ giới lại thấp như vậy.

Số lượng hạn chế các đơn vị và tổ đội trong thời bình trong quân đội Ukraine đã buộc bộ chỉ huy phải bắt đầu từ con số không – vào giữa cuộc chiến bằng cách thành lập các tiểu đoàn địa phương, tuy nhiên, điều đó đã tỏ ra không hiệu quả do chất lượng binh sỹ thấp, thiếu sự liên kết và huấn luyện, và thiếu hụt vũ khí và quân nhu.

Một trong những bài học quan trọng của cuộc nội chiến Ukraine là nhân lực, trang thiết bị và quân dự bị đã được sử dụng hết khá nhanh chóng, điều này thật khác thường ngay cả đối với một cuộc xung đột có giới hạn. Các đơn vị được huy động của Ukraine hoảng sợ rất nhanh chóng khi chiến đấu với các lực lượng nổi dậy tương đối nhỏ và đã bắt đầu cho thấy những dấu hiệu kiệt sức rõ ràng vào giữa tháng 8. Ukraine trước đó đã nhanh chóng cạn kiệt nhiều kho dự trữ vũ khí hạng nặng khổng lồ tiếp quản sau khi Liên Xô tan rã: tất cả vũ khí hạng nặng hầu như còn khá tốt đã được bán hay tháo dỡ hoặc là cần được sửa chữa lâu dài và tốn kém. Ngoài ra cũng có một sự thiếu hụt trầm trọng phụ tùng thay thế và đạn dược, trong khi nhiều đạn dược có sẵn đều đã hết hạn, không an toàn hoặc bị hư hại.

Trái ngược với ảo tưởng chung (ở cả phương Tây lẫn ở Nga) rằng một quân đội nhỏ gọn với quân dự bị vừa phải sẽ là đủ trong thời bình, thực tế đòi hỏi rằng các kho dự trữ lớn vũ khí hạng nặng và trang thiết bị, có thể sánh được với các kho dự trữ thời Xôviết, phải được duy trì cho ngay cả một cuộc chiến tranh nhỏ. Bởi vì chi phí để duy trì nguồn lực dự phòng như vậy sẽ rẻ hơn nhiều so với việc điên cuồng lao vào sản xuất vũ khí mới trong trường hợp có chiến tranh.

Cuộc xung đột ở Ukraine cũng bộc lộ khả năng dễ bị tổn hại của các trang thiết bị quân sự trước các vũ khí hiện đại. Trên thực tế, những tổn thất về xe bọc thép (phần lớn là xe tăng), máy bay và trực thăng của Ukraine trong một cuộc chiến không lớn lắm là điều gây choáng váng. Sử dụng một số lượng tương đối nhỏ các hệ thống phòng không, quân nổi dậy trên thực tế có thể làm tê liệt các hoạt động chiến đấu của Không quân Ukraine. Các xe tăng T-64 bị phá nát đã trở thành một trong những biểu tượng khủng khiếp của cuộc xung đột ở Donbass. Và điều này đòi hỏi một cách tiếp cận hoàn toàn mới để bảo vệ các vũ khí quân dụng hạng nặng quan trọng.

Theo Russia in Global Affairs

Trần Quang (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

QUAD tìm kiếm vai trò phi quân sự và phản ứng chiến lược từ Trung Quốc: Chủ nghĩa tiểu đa phương, đầu tư cơ sở hạ tầng và cân bằng khu vực

QUAD tìm kiếm vai trò phi quân sự và phản ứng chiến lược từ Trung Quốc: Chủ nghĩa tiểu đa phương, đầu tư cơ sở hạ tầng và cân bằng khu vực

Bài viết phân tích mục đích và sự mở rộng của hợp tác an ninh tiểu đa phương và qua đó đánh giá trường hợp của Đối thoại Tứ giác An ninh (QUAD). Sau đó, tác giả phân tích và làm rõ phản ứng của Trung Quốc, từ đó đưa ra các kết luận và dự đoán về sự tương tác giữa hai chủ thể trên sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với trật tự khu vực.

Đọc tiếp...

Tái thiết quan hệ với Trung Quốc thời Biden khó thành hiện thực

Tái thiết quan hệ với Trung Quốc thời Biden khó thành hiện thực

Dù Mỹ và Trung Quốc đều để ngỏ kênh đối thoại, hai bên khó có thể tái thiết hoàn toàn quan hệ song phương vào thời điểm này. Chính quyền Biden quyết tâm theo đuổi cách tiếp cận cứng rắn với Trung Quốc trong khi Trung Quốc tiếp tục các động thái hung hăng, ảnh hưởng đến trật tự quốc tế trong mắt Mỹ.

Đọc tiếp...

Thế khó của Nhật Bản trong cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung

Thế khó của Nhật Bản trong cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung

Nhật Bản là một trường hợp đặc biệt để nghiên cứu tác động của cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung. Là quốc gia nằm tại tiền tuyến của cạnh tranh, Nhật Bản ở vị thế khó xử bởi vừa là đồng minh quân sự thân cận của Mỹ lại vừa có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU và Trung Quốc mối quan hệ từ đối tác chiến lược chuyển thành đối thủ hệ thống. Điều gì đã đẩy hai bên đi đến bước đường này?

Đọc tiếp...

Cách Mỹ thách thức Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình

Cách Mỹ thách thức Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình

Chính sách Mỹ-Trung đòi hỏi một chiến lược nghiêm túc, bền vững, chứ không phải một chiến lược chắp vá trong chiến dịch tranh cử tổng thống để cứu lấy một chính quyền thất bại.

Đọc tiếp...

Cơ hội lớn của ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc

Cơ hội lớn của ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc

Các quốc gia Đông Nam Á có cơ hội hiếm có để tận dụng tuyên bố của Bắc Kinh về sự phụ thuộc lẫn nhau trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách, chẳng hạn như sáng kiến “Vành đai và Con đường” và Biển Đông.  

Đọc tiếp...

Đằng sau sự thay đổi bất ngờ của Philippines về VFA với Mỹ

Đằng sau sự thay đổi bất ngờ của Philippines về VFA với Mỹ

Hôm 11 tháng 2, Philippines thông báo chấm dứt Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng (VFA) với Mỹ, đến ngày 2 tháng 6 nước này lại tuyên bố hoãn quyết định chấm dứt VFA. Điều gì uẩn khúc đằng sau sự thay đổi bất ngờ của Philppines?

Đọc tiếp...

Hiểm họa đối đầu Mỹ -Trung

Hiểm họa đối đầu Mỹ -Trung

Sự trỗi dậy của Trung Quốc liệu có thay đổi cục diện một "nền hòa bình kiểu Mỹ" tại khu vực châu Á. Phản ứng của các quốc gia trong khu vực sẽ ra sao, chọn Mỹ hay chọn Trung Quốc?

Đọc tiếp...

Xây dựng lòng tin ở châu Á - Thái Bình Dương: Lý thuyết, thực tiễn và một số bài học kinh nghiệm

Xây dựng lòng tin ở châu Á - Thái Bình Dương: Lý thuyết, thực tiễn và một số bài học kinh nghiệm

Bài viết tìm hiểu cơ sở lý thuyết và thực tiễn về xây dựng lòng tin ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương thông qua trả lời các câu hỏi: Vì sao đặc điểm triển khai các biện pháp xây dựng lòng tin (CBMs) ở châu Á - Thái Bình Dương khác với CBMs truyền thống? Bài học kinh nghiệm rút ra từ triển khai CBMs ở khu vực là gì?

Đọc tiếp...

Quan điểm của Đông Nam Á về cuộc đối đầu Mỹ-Trung

Quan điểm của Đông Nam Á về cuộc đối đầu Mỹ-Trung

Các quốc gia trong khu vực đang tìm cách không để cho những tranh chấp của họ với Trung Quốc ảnh hưởng tới các khía cạnh khác trong mối quan hệ với nước láng giềng quan trọng này, tìm cách cân bằng giữa Trung Quốc và Mỹ, cũng như các cường quốc khu vực như Nhật Bản và Ấn Độ.

Đọc tiếp...

Covid 19 đẩy quan hệ Mỹ-Trung xuống đáy

Covid 19 đẩy quan hệ Mỹ-Trung xuống đáy

Đại dịch đã đẩy quan hệ Mỹ-Trung xuống đáy vì cả hai nước đều tìm cách vượt mặt nhau để định hình trật tự thế giới.

Đọc tiếp...

Tác động của COVID-19 đến quan hệ Trung-Mỹ

Tác động của COVID-19 đến quan hệ Trung-Mỹ

Dịch COVID-19 đã đẩy mối quan hệ Trung-Mỹ vào một giai đoạn tồi tệ mới. Quan hệ thương mại song phương trên đà suy thoái, rơi vào trạng thái dường như đóng băng; sự thiếu hụt lòng tin chiến lược ngày càng nghiêm trọng; bầu không khí giữa hai bên ngột ngạt chưa từng có.

Đọc tiếp...

Khả năng tồn tại của liên minh Mỹ-Philippines

Khả năng tồn tại của liên minh Mỹ-Philippines

Các nhà ngoại giao và quan chức quân sự ở cả Mỹ và Philippines đang tìm cách cứu vãn Thỏa thuận Các lực lượng thăm viếng (VFA) với lo ngại rằng khoảng trống an ninh do thoả thuận trên để lại có thể sẽ tạo cơ hội để Bắc Kinh tăng cường củng cố quân đội và bành trướng hơn nữa ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Những thách thức của quan hệ đối tác Nga-Trung

Những thách thức của quan hệ đối tác Nga-Trung

Quan hệ đối tác Trung-Nga đã được củng cố đáng kể trong hai năm qua. Tuy nhiên, những thay đổi tiềm tàng trong chính sách của Mỹ và đặc biệt là những diễn biến ở Trung Á và Bắc Cực có thể thách thức mối quan hệ này trong tương lai.

Đọc tiếp...

Mỹ-Trung không nên đấu đá nhau trong bối cảnh đại dịch

Mỹ-Trung không nên đấu đá nhau trong bối cảnh đại dịch

COVID-19 là nguyên nhân mới nhất dẫn đến xích mích trong mối quan hệ ngày càng căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh. Tuy nhiên, nếu để cho sự ganh đua làm mờ mắt trước những mối đe dọa rõ ràng lúc này, hai bên rốt cuộc sẽ tự hủy hoại chính mình.

Đọc tiếp...

Sáng kiến cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – ASEAN của Trung Quốc và phản ứng hai chiều từ ASEAN

Sáng kiến cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – ASEAN của Trung Quốc và phản ứng hai chiều từ ASEAN

Đề xuất này là dấu hiện cho sự kết tinh của một chiến lược có chủ ý và được đầu tư từ phía Trung Quốc về tương lai của quan hệ ASEAN-Trung Quốc, nhằm củng cố sự thay đổi quyền lực đang diễn ra ở Đông Nam Á và tạo ra sự chuyển đổi suôn sẻ sang trật tự khu vực lấy Trung Quốc làm trung tâm trong bối cảnh Mỹ suy giảm ảnh hưởng trong khu vực.

Đọc tiếp...

Dịch COVID-19 tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Dịch COVID-19 tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Trung Quốc đã cố gắng giải quyết một cách thận trọng mối quan hệ với Mỹ, đồng thời triển khai sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng gia tăng trên toàn thế giới. Dịch COVID-19 đã làm trầm trọng thêm căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ và đặt ra những câu hỏi về vai trò lãnh đạo toàn cầu của Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Hy vọng và lo sợ của Đông Nam Á

Trung Quốc-Hy vọng và lo sợ của Đông Nam Á

Trung Quốc được nhìn nhận là nước có ảnh hưởng lớn nhất về kinh tế tại khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, niềm tin của khu vực vào Trung Quốc đã suy giảm trong một vài năm qua dựa trên thái độ của quốc gia này đối với các vấn đề lợi ích chung.

Đọc tiếp...

Tiềm năng quan hệ Mỹ-ASEAN

Tiềm năng quan hệ Mỹ-ASEAN

Cuộc thăm dò dư luận gần đây nhất của ISEAS cho thấy Trung Quốc đang nhanh chóng giành được ưu thế kinh tế và chiến lược ở Đông Nam Á so với Mỹ. Do đó, để lấy lại lợi thế của mình tại khu vực này, Mỹ phải xác định lại các điều khoản cạnh tranh.

Đọc tiếp...

Hậu quả của việc Mỹ mất VFA với Philippines

Hậu quả của việc Mỹ mất VFA với Philippines

Việc chấm dứt Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng (VFA) với Philippines sẽ khiến Mỹ dễ bị tổn thương hơn nữa trước các chính sách chính trị và đối ngoại trong nước của các đồng minh hiệp ước khác.  

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5274 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin