25 - 5 - 2013 | 1:12
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Ấn Độ Dương: Trận chiến quyết liệt Trung-Ấn

Ấn Độ Dương: Trận chiến quyết liệt Trung-Ấn

Email In PDF.

Bài viết của Robert D. Kaplan trên mạng Stratfor: Ấn Độ phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế, do đó sẽ ở vị trí yếu trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa hai nước. Cạnh tranh sẽ diễn ra trên Ấn Độ Dương chứ không phải là ở biên giới chung giữa hai nước.

 

Ngoài cuộc chiến tranh năm 1962, Ấn Độ và Trung Quốc không mấy tác động đến nhau về mặt địa chính trị. Tuy nhiên, những thay đổi trong cấu trúc kinh tế của Trung Quốc đã dẫn đến việc Bắc Kinh ngày càng hoạt động nhiều tại Ấn Độ Dương - khu vực ảnh hưởng của Niu Đêli. Do đó, Ấn Độ cố gắng phát huy sức mạnh của mình ra Ấn Độ Dương để chống lại sự can dự ngày càng tăng của Trung Quốc. Chia tách giữa Ấn Độ và Trung Quốc là dãy núi Himalaya . Đối với Ấn Độ, Nêpan và Butan là những quốc gia đệm ở khu vực biên giới Đông Bắc và Tây Bắc giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Bang miền núi Sikkim là tấm đệm thứ 3 giữa hai quốc gia và chính phủ của cựu Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi đã tìm cách đưa toàn bộ bang này vào Ấn Độ. Khi các cuộc bạo loạn chống chế độ quân chủ bùng nổ tại Sikkim năm 1973, do lo ngại Trung Quốc có thể nhảy vào và đòi đây là một phần của Tây Tạng nên Ấn Độ đã sử dụng tổng hợp chiến thuật chính trị và quân sự để thuyết phục vị vua cuối cùng của Sikkim chấp nhận Sikkim là bang thứ 23 của Ấn Độ. Điều này giúp Niu Đêli có thêm đòn bẩy đối với Trung Quốc thông qua việc hỗ trợ các phần tử Tây Tạng ly khai đang sống tại Sikkim. Có rất nhiều tranh chấp lãnh thổ dọc đường biên giới Ấn Độ - Trung Quốc. Trung Quốc có lãnh thổ rộng lớn trong khu vực Casơmia, ở phía Tây Bắc của Ấn Độ, tại 3 khu vực là Thung lũng Shaksgam, Aksai Chin và Demchok. Bắc Kinh cũng tuyên bố chủ quyền một phần đáng kể của khu vực hình thành nên vành đai Đông Bắc của Ấn Độ - bang Arunachal Pradesh.

Biên giới Ấn Độ - Trung Quốc, căng thẳng nhưng ít hành động

Dãy Himalaya đã ngăn chặn hiệu quả, không cho Ấn Độ và Trung Quốc thực hiện được hoạt động quân sự đáng kể nào chống lại nhau. Tuy nhiên, điều này không loại bỏ hoàn toàn được những căng thẳng. Hơn 6 thập kỷ qua, tại Ấn Độ, thường xuyên có những phản đối về các mối đe dọa tiềm tàng từ Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) ở nhiều khu vực dọc theo sườn phía Bắc của Ấn Độ (các bang Himachal Pradesh và Uttarakhand, nằm giữa Nêpan và Casơmia dọc biên giới với Trung Quốc, cũng bị xem là có nguy cơ bị quân đội Trung Quốc xâm nhập). Trong những năm gần đây, mối đe dọa này đã dẫn đến việc Niu Đêli tăng cường phòng thủ quân sự trong mối quan hệ với Bắc Kinh. Các quan chức tại bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ thỉnh thoảng khẳng định rằng Trung Quốc đang xây dựng quân đội ở phía bên giới của họ. Những tuyên bố này thường theo sau bởi những báo cáo nêu bật những nỗ lực của Ấn Độ nhằm tăng cường an ninh bên phía mình và coi Trung Quốc là thù địch. Các nguồn tin của Trung Quốc cho Stratfor biết rằng cái đang diễn ra trong những trường hợp này là việc các quân đoàn công binh Trung Quốc thường kỳ xây dựng các công trình có mục đích phòng thủ, nhưng Ấn Độ lại coi như là những động thái tấn công. Làm trầm trọng thêm những căng thẳng này là những cáo buộc rằng nước này đang hỗ trợ cho những phần tử nổi loạn ở nước kia. Ấn Độ thì khẳng định rằng Trung Quốc đang hỗ trợ nhiều nhóm nổi dậy khác nhau ở các bang Đông Bắc của Ấn Độ như Assam, Nagaland, Mizoram, Tripura và Meghalaya. Trong khi đó thì Trung Quốc chỉ trích Ấn Độ về việc cung cấp chỗ trú ẩn cho các phần tử ly khai Tây Tạng. Ngoài những cáo buộc và các biện pháp chuẩn bị quân sự này, biên giới của Ấn Độ với Trung Quốc vẫn bình yên trong 50 năm qua, ngoại trừ các sự cố hiếm hoi và nhỏ lẻ. Điều này khó có khả năng thay đổi trong tương lai gần.

Yếu tố Pakixtan trong quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc

Việc lo ngại bị Trung Quốc bao vây đã tác động đến tư duy của các chiến lược gia và các nhà hoạch định chính sách Ấn Độ. Phần quan trọng của tư duy này liên quan đến mối quan hệ đồng minh giữa Trung Quốc và Pakixtan - nước láng giềng đối thủ ở phía Tây của Ấn Độ. Trung Quốc đã sử dụng sự thù địch giữa Ấn Độ và Pakixtan làm đòn bẩy chống lại Niu Đêli. Hợp tác quân sự và trợ giúp kinh tế cho Ixlamabát đã cho phép Trung Quốc thiết lập sự hiện diện đáng kể tại Pakixtan. Đối với Niu Đêli, sự tham dự của Trung Quốc vào việc phát triển hành lang giao thông ở khu vực Gilgit-Baltistan, Đông Bắc Pakixtan, mà Pakixtan đã giành được trong cuộc chiến tranh 1948 tại khu vực Casơmia, đã giúp nâng cao vị thế của Pakixtan tại vùng lãnh thổ tranh chấp này. Trong những năm gần đây, Niu Đêli đã cáo buộc rằng Pakixtan đã cho phép 11.000 quân PLA vào đồn trú tại Gilgit-Baltistan. Trung Quốc có thể muốn sử dụng toàn bộ chiều dài lãnh thổ Pakixtan làm cầu nối cho hàng xuất khẩu và quan trọng hơn là nhập khẩu. Khả năng này sẽ giúp Trung Quốc tránh các tuyến đường biển giữa vùng biển phía Đông và phía Nam chạy qua eo biển Malắca và Ấn Độ Dương. Đây là một bước đi quan trọng giúp việc nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc từ Trung Đông trở nên bảo đảm hơn. Bắc Kinh có thể thực hiện được điều này nếu họ có thể thiết lập một hành lang giao thông tốt và an toàn giữa đèo Khunjerab ở biên giới Pakixtan - Trung Quốc và cảng Gwadar ở Biển Arập (một cơ sở Trung Quốc đã giúp xây dựng). Tuy nhiên, những trở ngại về kỹ thuật và tài chính, cũng như các vấn đề về an ninh, khí hậu và địa chất, đã ngăn cản Trung Quốc xây dựng cơ sở hạ tầng đường sá và đường sắt dọc toàn bộ chiều dài lãnh thổ Pakixtan. Do sự rối loạn trong nước của Pakixtan và việc NATO sẽ rút quân khỏi Ápganixtan, về lâu dài, Bắc Kinh sẽ chỉ đạt được một phần nhỏ trong tham vọng này. Tuy nhiên, cảng Gwadar lại có giá trị hàng hải rất lớn đối với Bắc Kinh và có thể là một cảng hải quân quan trọng của Trung Quốc ở phía Tây Bắc của Ấn Độ Dương.

Mặc dù có sự can dự của Trung Quốc vào Pakixtan, nhưng vẫn có nhiều khó khăn trong việc sử dụng sự can dự đó để chống lại Ấn Độ. Sự bất ổn tại Pakixtan và các phần tử vũ trang Hồi giáo quốc tế đóng tổng hành dinh tại đó đã biến Pakixtan thành một gánh nợ hơn là một tài sản. Quan hệ Trung Quốc - Pakixtan cũng bị ảnh hưởng bởi vai trò của Mỹ ở Nam Á và Bắc Kinh phải cân bằng những cam kết của mình với Ixlamabát và mối quan hệ với Oasinhtơn. Trung Quốc cũng không sẵn sàng hoặc không thể đảm nhận một vai trò tại Pakixtan, về mặt tài chính hoặc chính trị, như Mỹ. Quan trọng hơn, nhu cầu địa chính trị của Trung Quốc không chỉ dừng lại ở Pakixtan. Sự thay đổi kinh tế chính trị của Trung Quốc trong những thập kỷ gần đây đã buộc Bắc Kinh phải chuyển đổi từ cường quốc đất liền sang cường quốc biển. Nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng và các nguồn tài nguyên khác để nuôi bộ máy công nghiệp và do lĩnh vực xuất khẩu yêu cầu các tuyến đường vận chuyển từ bờ biển của Trung Quốc đến châu Phi và Trung Đông, Trung Quốc phải thiết lập và tăng cường sự hiện diện của mình ở Ấn Độ Dương cho phù hợp. Mặc dù sẽ mất thời gian để Trung Quốc có thể xây dựng năng lực hải quân, nhưng Trung Quốc đã bắt đầu phát triển các tiền đồn ảnh hưởng trên khắp Ấn Độ Dương. Mặc dù trong nhiều trường hợp Trung Quốc cung cấp tài chính cho hoạt động xây dựng các cảng này, các dự án này tại Mianma, Bănglađét, Xri Lanca, Manđivơ và những nơi khác cũng là nguồn thu tiềm năng cho các công ty xây dựng của Trung Quốc. Tuy nhiên, việc bị xâm nhập vào sườn phía Nam này đã làm trầm trọng thêm sự lo ngại của Ấn Độ đối với Trung Quốc trong vấn đề an ninh.

Những lựa chọn của Ấn Độ

Vì Trung Quốc là một cường quốc kinh tế lớn hơn và có khả năng hải quân tầm xa tốt hơn so với Ấn Độ, Niu Đêli cảm thấy phải sớm hành động để chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc đối với những cái mà Ấn Độ coi là lãnh hải của mình. Mặc dù Ấn Độ không có khả năng sử dụng Ấn Độ Dương cho việc phát huy sức mạnh ra bên ngoài khu vực, nhưng nước này đã thiết lập được ảnh hưởng đáng kể ở đây. Hơn nữa, do chính nhu cầu của Ấn Độ đối với các nguồn tài nguyên, đặc biệt là năng lượng, đang tăng lên, Ấn Độ cần phải bảo đảm an ninh cho các tuyến đường biển của mình từ châu Phi, Trung Đông và Đông Nam Á. Cùng với mong muốn của Ấn Độ trong việc bảo vệ quyền sở hữu các quần đảo Andaman và Nicobar tại vịnh Bengan và quần đảo Lakshadweep gần Biển Arập, nhu cầu này làm cho những va chạm giữa Trung Quốc và Ấn Độ trên khu vực Ấn Độ Dương là điều không thể tránh khỏi. Do Ấn Độ không có khả năng tự mình chống lại sức mạnh Trung Quốc trên Ấn Độ Dương nên Niu Đêli đã hợp tác với Oasinhtơn. Oasinhtơn cũng có lợi ích riêng khi kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực. Từ góc độ của Ấn Độ, phần phía Nam của vịnh Bengan là rất quan trọng vì nó gần với eo biển Malắcca. Eo biển Malắcca quan trọng đối với chính sách "Hướng Đông" 20 năm tuổi của Ấn Độ, một chính sách được thúc đẩy bởi nhu cầu năng lượng và thương mại và sự quan tâm mạnh mẽ đến việc chống lại Trung Quốc. Chính sách này liên quan đến việc Ấn Độ phát triển mối quan hệ chặt chẽ với Mianma và các nước khác trong khu vực vốn trước đây được gọi là các nước Đông Dương. Trong 2 thập kỷ qua, Ấn Độ đã tái thiết lập quan hệ gần gũi với Mianma, một đồng minh lâu đời của Trung Quốc. Bằng việc tận dụng nhu cầu của Mianma cần có các đối tác quốc tế, do vị thế cùng khổ của nước này, Ấn Độ đã không chỉ phát triển nguồn tài nguyên khí đốt mà còn bắt đầu cạnh tranh với Trung Quốc, Ngoài ra, các thoả thuận hợp tác năng lượng với Việt Nam cũng cho phép Ấn Độ thiết lập sự hiện diện ở khu vực Biển Đông - một khu vực Trung Quốc coi là độc quyền ảnh hưởng. Ấn Độ cũng xây dựng các mối quan hệ kinh tế gần gũi với các quốc gia Đông Nam Á quan trọng khác như Thái Lan, Xinhgapo và Malaixia. Điều này cho phép Ấn Độ thành lập một thoả thuận tự do thương mại với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Các nước Đông Nam Á cũng chia sẻ mong muốn của Ấn Độ trong việc chống lại ảnh hưởng đang tăng lên của Trung Quốc. Ngoài Đông Nam Á, Ấn Độ cũng đang làm việc với Nhật Bản, nước cũng rất quan tâm đến việc đối trọng lại Trung Quốc. Cả hai nước đang cùng làm việc với Mỹ để thiết lập chỗ đứng tại Biển Đông - một thoả thuận 3 bên có thể có ích cho Ấn Độ. Tuy nhiên, khả năng của Ấn Độ trong việc chống lại Trung Quốc ở sườn phía Nam của mình bị hạn chế do tình hình nội bộ, chính trị và kinh tế của Niu Đêli.

Vai trò của thương mại song phương

Trong khoảng một thập kỷ qua, quan điểm chung của Ấn Độ đối với Trung Quốc đã thay đổi, tăng cường quan hệ thương mại và hợp tác kinh tế đã bổ sung cho sự cạnh tranh chiến lược giữa hai quốc gia. Các mối quan hệ kinh tế Ấn Độ - Trung Quốc đã nâng tầm quan trọng của Ấn Độ tới mức mà Trung Quốc cảm thấy cần phải cân bằng các mối quan hệ lịch sử của mình với Pakixtan để hợp tác với Ấn Độ. Hơn nữa, mối lo ngại của Trung Quốc về sự bao vây chiến lược của Mỹ, trong đó Niu Đêli là một phần quan trọng, đã tạo thuận lợi cho Ấn Độ. Điều này giúp Niu Đêli có khả năng để đối phó với Ixlamabát - mối đe dọa an ninh chính của Ấn Độ. Tuy nhiên, có một xu hướng dài hạn theo đó Trung Quốc sẽ trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ trong khi vai trò của Ấn Độ đối với Trung Quốc không thay đổi. Từ năm 2001 đến 2010, thương mại của Ấn Độ với Trung Quốc tăng đều đặn từ 3% lên 10% tổng thương mại. Tuy nhiên, thương mại của Trung Quốc với Ấn Độ tính theo phần trăm trong tổng thương mại của nước này gần như đứng im, tăng từ 1 - 2% trong giai đoạn trên. Năm 2010, tổng kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt khoảng 50 tỷ USD. Xu hướng này phần lớn là do việc Ấn Độ tăng cường tiêu thụ thiết bị điện tử và máy móc của Trung Quốc (mặt hàng chiếm 42% nhập khẩu trong năm 2010). Năm 2001, Ấn Độ nhập khẩu 1,8 tỷ USD hàng hoá từ Trung Quốc, trong đó có khoảng 200 triệu USD hàng điện tử và 200 triệu USD máy móc. Đến năm 2010, Ấn Độ nhập tổng cộng 33 tỷ USD hàng hoá của Trung Quốc, trong đó hàng điện tử là 9 tỷ USD và máy móc là 5,6 tỷ USD. Điều này có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bán các hàng hoá có chi phí sản xuất thấp vào Ấn Độ, chiếm mất thị phần của các nhà sản xuất nội địa, trong khi Ấn Độ không thể bán cho Trung Quốc các loại hàng hoá chính của mình như các sản phẩm hoá dầu, kim cương, đồ trang sức, ôtô, hàng điện tử và các dịch vụ giá trị gia tăng cao như phát triển phần mềm, kỹ thuật và phát triển công nghệ thông tin. Sự mất cân bằng này có những tác động đến sự kình địch chung giữa hai quốc gia. Cuối cùng, Ấn Độ phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế và do đó sẽ ở vị trí yếu trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa hai nước - một cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra trên Ấn Độ Dương chứ không phải là ở biên giới chung giữa hai nước./.

Theo Stratfor (ngày 3/4)

Hương Trà (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Sự trỗi dậy đồng thời của Trung Quốc, Ấn Độ và quan hệ Trung-Ấn

Sự trỗi dậy đồng thời của Trung Quốc, Ấn Độ và quan hệ Trung-Ấn

Cùng với trọng tâm quyền lực thế giới dịch chuyển sang phía Đông, sự trỗi dậy đồng thời của Trung Quốc và Ấn Độ là một trong những sự kiện địa chiến lược quan trọng nhất trong 20 năm đầu thế kỉ 21.

Đọc tiếp...

Thách thức và cơ hội của quan hệ Trung-Nga

Thách thức và cơ hội của quan hệ Trung-Nga

Trong hợp tác cùng có lợi, tuy Trung Quốc và Nga vẫn còn tồn tại một số vấn đề không theo mong muốn của mỗi bên song xu thế tổng thể để phát triển quan hệ hai nước vẫn mạnh mẽ.

Đọc tiếp...

Chính sách ngăn chặn mở rộng của Mỹ ở Đông Bắc Á đang thất bại?

Chính sách ngăn chặn mở rộng của Mỹ ở Đông Bắc Á đang thất bại?

Việc Bắc Triều Tiên phóng thành công tên lửa tầm xa và thử hạt nhân lần ba, kèm theo những lời đe dọa sẽ có những “bước đi mạnh mẽ hơn”, biến Hàn Quốc thành “tro bụi” đang làm dấy lên những lo ngại cho các đồng minh của Mỹ ở khu vực Đông Bắc Á. CỘng thêm sự quyết đoán của Trung Quốc trong tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, câu hỏi chính được đặt ra ở đây là: Có phải chiến lược ngăn chặn mở rộng của Mỹ đang thất bại?

Đọc tiếp...

Quan hệ Trung-Mỹ và “cơ chế lãnh đạo kép” ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương

Quan hệ Trung-Mỹ và “cơ chế lãnh đạo kép” ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương

Kể từ đầu thế kỷ 21, quan hệ Trung-Mỹ và quan hệ quốc tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương đều nảy sinh một số thay đổi có ý nghĩa quan trọng. Điều đặc biệt đáng chú ý là trong quan hệ quốc tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã xuất hiện một mô hình lãnh đạo mới, đó là “cơ chế lãnh đạo kép”.

Đọc tiếp...

“Chiến tranh Thế giới thứ Ba” sẽ bắt đầu ở châu Á?

“Chiến tranh Thế giới thứ Ba” sẽ bắt đầu ở châu Á?

Ai sẽ là người chiến thắng trong cuộc chiến ấy? Xét cả về thực tại lẫn lịch sử, một cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ dường như có thể xảy ra, và nếu đúng thế, thì đấy sẽ là cuộc đọ sức thế kỷ.

Đọc tiếp...

Quan hệ Nhật Bản – Philippines: Động lực mới trong quan hệ đối tác chiến lược

Quan hệ Nhật Bản – Philippines: Động lực mới trong quan hệ đối tác chiến lược

Sự khởi sắc trong quan hệ chiến lược giữa hai nước do tác động của nhận thức chung về mối đe dọa từ Trung Quốc và các quan ngại về chính trị và kinh tế trong nước.

Đọc tiếp...

Trung Quốc đang thử thách sự kiên nhẫn của Mỹ và Nhật

Trung Quốc đang thử thách sự kiên nhẫn của Mỹ và Nhật

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã cảnh báo Bắc Kinh rằng Tokyo đang mất dần kiên nhẫn với thái độ quyết đoán về biển của Trung Quốc ở các vùng biển Đông và Hoa Đông, gợi ‎ý rằng Trung Quốc nên tính tới các hậu quả kinh tế và quân sự về hành động của mình.

Đọc tiếp...

Nhật và ASEAN sau 40 năm quan hệ

Nhật và ASEAN sau 40 năm quan hệ

Sau 40 năm quan hệ, Nhật và ASEAN đã trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của nhau.

Đọc tiếp...

Cuộc đọ sức chiến lược Trung-Mỹ

Cuộc đọ sức chiến lược Trung-Mỹ

Hiện nay, đông đảo mọi người có chung cảm giác về mối quan hệ Trung-Mỹ là cho dù tiếp xúc và hợp tác giữa hai nước ngày càng chặt chẽ, nhưng sự ổn định của mối quan hệ song phương này ngày càng giảm đi rõ rệt.

Đọc tiếp...

Mối quan hệ Mỹ-Trung Quốc-Đài Loan đã đến lúc phải thay đổi?

Mối quan hệ Mỹ-Trung Quốc-Đài Loan đã đến lúc phải thay đổi?

Từ lâu, mối quan hệ giữa Mỹ với Trung Quốc đã ẩn chứa nhiều vấn đề phức tạp do quan hệ của riêng hai nước này với Đài Loan, hòn đảo tự tách ra và tuyên bố độc lập với Trung Quốc trong nhiều năm qua.

Đọc tiếp...

Châu Á 2013: Chính sách "Trở lại châu Á" sẽ tiếp tục được thúc đẩy?

Châu Á 2013: Chính sách

Trong năm 2013, khu vực nào sẽ là trọng tâm chiến lược chính của Mỹ? Châu Á – Thái Bình Dương hay Trung Đông? Chính quyền Obama trong nhiệm kỳ 2 sẽ thực hiện những cam kết của mình tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương như thế nào khi mà Mỹ đang đối mặt với nhiều trở ngại: vách đá tài chính, ngân sách quốc phòng không chắc chắn và sự ra đi của các quan chức có liên quan chặt chẽ với chính sách châu Á.

Đọc tiếp...

Những hứa hẹn về một Nhật Bản mới

Những hứa hẹn về một Nhật Bản mới

Chuyến thăm ba nước Đông Nam Á là Việt Nam, Thái Lan và Inđônêxia của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe ngay sau khi ông tái đắc cử thể hiện rõ tầm quan trọng lâu dài của khu vực Đông Nam Á đối với Nhật Bản trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng gia tăng ảnh hưởng tại khu vực.

Đọc tiếp...

Phân tích chính sách Châu Á-Thái Bình Dương của Nga

Phân tích chính sách Châu Á-Thái Bình Dương của Nga

Nga có quan hệ chặt chẽ với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương về địa chính trị, có thể xử lý tốt quan hệ với khu vực này hay không sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh quốc gia Nga.

Đọc tiếp...

Nga-Trung và Hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ

Nga-Trung và Hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ

"Tạp chí Chính trị Thế giới" mới đây cho biết mặc dù Nga và Trung Quốc là hai cường quốc duy nhất có khả năng phát động một cuộc tấn công nước Mỹ bằng các tên lửa đạn đạo quy mô lớn, nhưng không nước nào quan tâm đến các nỗ lực của hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo (BMD) của Mỹ do Bắc Kinh và Mátxcơva nhận định Mỹ không thể phát động một cuộc tấn công như vậy.

Đọc tiếp...

Một Châu Á hai mặt: Kinh tế và An ninh

Một Châu Á hai mặt: Kinh tế và An ninh

Một Châu Á với hai diện mạo đang được hình thành: Châu Á kinh tế được thống trị bởi Trung Quốc và Châu Á an ninh bị thống trị bởi Mỹ. Tuy nhiên điều đó không nhất thiết kéo theo sự mất ổn định ở khu vực, trái lại có thể có nhiều lợi thế từ thực tiễn này nếu các bên biết kiềm chế.

Đọc tiếp...

Liệu Chiến lược xoay trục của Mỹ sẽ thành công tại Đông Nam Á?

Liệu Chiến lược xoay trục của Mỹ sẽ thành công tại Đông Nam Á?

Mặc dù Trung Quốc là ưu tiên và là trọng tâm của Mỹ và Châu Á, tuy nhiên chiến lược xoay trục của Mỹ không hoàn toàn tập trung vào Trung Quốc, mà ngoài ra còn bao gồm cả 10 nước thành viên ASEAN.

Đọc tiếp...

Chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc

Chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc

Hầu như tất cả các phân tích đều khẳng định  khu vực châu Á-Thái Bình Dương hiện nay là trọng tâm trong ưu tiên chính sách đối ngoại Mỹ. Vậy chiến lược châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ thực sự là gì?

Đọc tiếp...

Hợp tác Đông Á: Nhật Bản sẽ tụt hậu so với Trung Quốc?

Hợp tác Đông Á: Nhật Bản sẽ tụt hậu so với Trung Quốc?

Nhật Bản sẽ tụt hậu so với Trung Quốc trong hợp tác khu vực Đông Á nếu không giữ được vai trò thúc đẩy kinh tế trong khu vực.

Đọc tiếp...

Mỹ có thể hưởng lợi từ sự trỗi dậy của Trung Quốc

Mỹ có thể hưởng lợi từ sự trỗi dậy của Trung Quốc

Đây là thời điểm Chính phủ Mỹ cần xem xét lại chính sách can dự toàn diện với Trung Quốc. Rõ ràng, cách tốt nhất để khắc phục "mối đe dọa đến từ Trung Quốc" là đạt được nền hòa bình ổn định thông qua giải quyết các xung đột kinh tế và an ninh nổi cộm giữa hai nước. Điều này sẽ cho phép Oasinhtơn giải quyết các mối quan ngại của nhiều người Mỹ.

Đọc tiếp...

Nhật Bản cải thiện quan hệ với Đài Loan để tập trung đối phó Trung Quốc

Nhật Bản cải thiện quan hệ với Đài Loan để tập trung đối phó Trung Quốc

Trong bối cảnh tranh chấp trên biển Hoa Đông không thể giải quyết một sớm một chiều khi mà Trung Quốc đang thách thức chủ quyền của Nhật Bản, tân Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tìm cách tránh gây căng thẳng với Đài Loan.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG