20 - 6 - 2019 | 14:24
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Ấn Độ Dương: Trận chiến quyết liệt Trung-Ấn

Ấn Độ Dương: Trận chiến quyết liệt Trung-Ấn

Email In PDF.

Bài viết của Robert D. Kaplan trên mạng Stratfor: Ấn Độ phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế, do đó sẽ ở vị trí yếu trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa hai nước. Cạnh tranh sẽ diễn ra trên Ấn Độ Dương chứ không phải là ở biên giới chung giữa hai nước.

 

Ngoài cuộc chiến tranh năm 1962, Ấn Độ và Trung Quốc không mấy tác động đến nhau về mặt địa chính trị. Tuy nhiên, những thay đổi trong cấu trúc kinh tế của Trung Quốc đã dẫn đến việc Bắc Kinh ngày càng hoạt động nhiều tại Ấn Độ Dương - khu vực ảnh hưởng của Niu Đêli. Do đó, Ấn Độ cố gắng phát huy sức mạnh của mình ra Ấn Độ Dương để chống lại sự can dự ngày càng tăng của Trung Quốc. Chia tách giữa Ấn Độ và Trung Quốc là dãy núi Himalaya . Đối với Ấn Độ, Nêpan và Butan là những quốc gia đệm ở khu vực biên giới Đông Bắc và Tây Bắc giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Bang miền núi Sikkim là tấm đệm thứ 3 giữa hai quốc gia và chính phủ của cựu Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi đã tìm cách đưa toàn bộ bang này vào Ấn Độ. Khi các cuộc bạo loạn chống chế độ quân chủ bùng nổ tại Sikkim năm 1973, do lo ngại Trung Quốc có thể nhảy vào và đòi đây là một phần của Tây Tạng nên Ấn Độ đã sử dụng tổng hợp chiến thuật chính trị và quân sự để thuyết phục vị vua cuối cùng của Sikkim chấp nhận Sikkim là bang thứ 23 của Ấn Độ. Điều này giúp Niu Đêli có thêm đòn bẩy đối với Trung Quốc thông qua việc hỗ trợ các phần tử Tây Tạng ly khai đang sống tại Sikkim. Có rất nhiều tranh chấp lãnh thổ dọc đường biên giới Ấn Độ - Trung Quốc. Trung Quốc có lãnh thổ rộng lớn trong khu vực Casơmia, ở phía Tây Bắc của Ấn Độ, tại 3 khu vực là Thung lũng Shaksgam, Aksai Chin và Demchok. Bắc Kinh cũng tuyên bố chủ quyền một phần đáng kể của khu vực hình thành nên vành đai Đông Bắc của Ấn Độ - bang Arunachal Pradesh.

Biên giới Ấn Độ - Trung Quốc, căng thẳng nhưng ít hành động

Dãy Himalaya đã ngăn chặn hiệu quả, không cho Ấn Độ và Trung Quốc thực hiện được hoạt động quân sự đáng kể nào chống lại nhau. Tuy nhiên, điều này không loại bỏ hoàn toàn được những căng thẳng. Hơn 6 thập kỷ qua, tại Ấn Độ, thường xuyên có những phản đối về các mối đe dọa tiềm tàng từ Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) ở nhiều khu vực dọc theo sườn phía Bắc của Ấn Độ (các bang Himachal Pradesh và Uttarakhand, nằm giữa Nêpan và Casơmia dọc biên giới với Trung Quốc, cũng bị xem là có nguy cơ bị quân đội Trung Quốc xâm nhập). Trong những năm gần đây, mối đe dọa này đã dẫn đến việc Niu Đêli tăng cường phòng thủ quân sự trong mối quan hệ với Bắc Kinh. Các quan chức tại bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ thỉnh thoảng khẳng định rằng Trung Quốc đang xây dựng quân đội ở phía bên giới của họ. Những tuyên bố này thường theo sau bởi những báo cáo nêu bật những nỗ lực của Ấn Độ nhằm tăng cường an ninh bên phía mình và coi Trung Quốc là thù địch. Các nguồn tin của Trung Quốc cho Stratfor biết rằng cái đang diễn ra trong những trường hợp này là việc các quân đoàn công binh Trung Quốc thường kỳ xây dựng các công trình có mục đích phòng thủ, nhưng Ấn Độ lại coi như là những động thái tấn công. Làm trầm trọng thêm những căng thẳng này là những cáo buộc rằng nước này đang hỗ trợ cho những phần tử nổi loạn ở nước kia. Ấn Độ thì khẳng định rằng Trung Quốc đang hỗ trợ nhiều nhóm nổi dậy khác nhau ở các bang Đông Bắc của Ấn Độ như Assam, Nagaland, Mizoram, Tripura và Meghalaya. Trong khi đó thì Trung Quốc chỉ trích Ấn Độ về việc cung cấp chỗ trú ẩn cho các phần tử ly khai Tây Tạng. Ngoài những cáo buộc và các biện pháp chuẩn bị quân sự này, biên giới của Ấn Độ với Trung Quốc vẫn bình yên trong 50 năm qua, ngoại trừ các sự cố hiếm hoi và nhỏ lẻ. Điều này khó có khả năng thay đổi trong tương lai gần.

Yếu tố Pakixtan trong quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc

Việc lo ngại bị Trung Quốc bao vây đã tác động đến tư duy của các chiến lược gia và các nhà hoạch định chính sách Ấn Độ. Phần quan trọng của tư duy này liên quan đến mối quan hệ đồng minh giữa Trung Quốc và Pakixtan - nước láng giềng đối thủ ở phía Tây của Ấn Độ. Trung Quốc đã sử dụng sự thù địch giữa Ấn Độ và Pakixtan làm đòn bẩy chống lại Niu Đêli. Hợp tác quân sự và trợ giúp kinh tế cho Ixlamabát đã cho phép Trung Quốc thiết lập sự hiện diện đáng kể tại Pakixtan. Đối với Niu Đêli, sự tham dự của Trung Quốc vào việc phát triển hành lang giao thông ở khu vực Gilgit-Baltistan, Đông Bắc Pakixtan, mà Pakixtan đã giành được trong cuộc chiến tranh 1948 tại khu vực Casơmia, đã giúp nâng cao vị thế của Pakixtan tại vùng lãnh thổ tranh chấp này. Trong những năm gần đây, Niu Đêli đã cáo buộc rằng Pakixtan đã cho phép 11.000 quân PLA vào đồn trú tại Gilgit-Baltistan. Trung Quốc có thể muốn sử dụng toàn bộ chiều dài lãnh thổ Pakixtan làm cầu nối cho hàng xuất khẩu và quan trọng hơn là nhập khẩu. Khả năng này sẽ giúp Trung Quốc tránh các tuyến đường biển giữa vùng biển phía Đông và phía Nam chạy qua eo biển Malắca và Ấn Độ Dương. Đây là một bước đi quan trọng giúp việc nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc từ Trung Đông trở nên bảo đảm hơn. Bắc Kinh có thể thực hiện được điều này nếu họ có thể thiết lập một hành lang giao thông tốt và an toàn giữa đèo Khunjerab ở biên giới Pakixtan - Trung Quốc và cảng Gwadar ở Biển Arập (một cơ sở Trung Quốc đã giúp xây dựng). Tuy nhiên, những trở ngại về kỹ thuật và tài chính, cũng như các vấn đề về an ninh, khí hậu và địa chất, đã ngăn cản Trung Quốc xây dựng cơ sở hạ tầng đường sá và đường sắt dọc toàn bộ chiều dài lãnh thổ Pakixtan. Do sự rối loạn trong nước của Pakixtan và việc NATO sẽ rút quân khỏi Ápganixtan, về lâu dài, Bắc Kinh sẽ chỉ đạt được một phần nhỏ trong tham vọng này. Tuy nhiên, cảng Gwadar lại có giá trị hàng hải rất lớn đối với Bắc Kinh và có thể là một cảng hải quân quan trọng của Trung Quốc ở phía Tây Bắc của Ấn Độ Dương.

Mặc dù có sự can dự của Trung Quốc vào Pakixtan, nhưng vẫn có nhiều khó khăn trong việc sử dụng sự can dự đó để chống lại Ấn Độ. Sự bất ổn tại Pakixtan và các phần tử vũ trang Hồi giáo quốc tế đóng tổng hành dinh tại đó đã biến Pakixtan thành một gánh nợ hơn là một tài sản. Quan hệ Trung Quốc - Pakixtan cũng bị ảnh hưởng bởi vai trò của Mỹ ở Nam Á và Bắc Kinh phải cân bằng những cam kết của mình với Ixlamabát và mối quan hệ với Oasinhtơn. Trung Quốc cũng không sẵn sàng hoặc không thể đảm nhận một vai trò tại Pakixtan, về mặt tài chính hoặc chính trị, như Mỹ. Quan trọng hơn, nhu cầu địa chính trị của Trung Quốc không chỉ dừng lại ở Pakixtan. Sự thay đổi kinh tế chính trị của Trung Quốc trong những thập kỷ gần đây đã buộc Bắc Kinh phải chuyển đổi từ cường quốc đất liền sang cường quốc biển. Nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng và các nguồn tài nguyên khác để nuôi bộ máy công nghiệp và do lĩnh vực xuất khẩu yêu cầu các tuyến đường vận chuyển từ bờ biển của Trung Quốc đến châu Phi và Trung Đông, Trung Quốc phải thiết lập và tăng cường sự hiện diện của mình ở Ấn Độ Dương cho phù hợp. Mặc dù sẽ mất thời gian để Trung Quốc có thể xây dựng năng lực hải quân, nhưng Trung Quốc đã bắt đầu phát triển các tiền đồn ảnh hưởng trên khắp Ấn Độ Dương. Mặc dù trong nhiều trường hợp Trung Quốc cung cấp tài chính cho hoạt động xây dựng các cảng này, các dự án này tại Mianma, Bănglađét, Xri Lanca, Manđivơ và những nơi khác cũng là nguồn thu tiềm năng cho các công ty xây dựng của Trung Quốc. Tuy nhiên, việc bị xâm nhập vào sườn phía Nam này đã làm trầm trọng thêm sự lo ngại của Ấn Độ đối với Trung Quốc trong vấn đề an ninh.

Những lựa chọn của Ấn Độ

Vì Trung Quốc là một cường quốc kinh tế lớn hơn và có khả năng hải quân tầm xa tốt hơn so với Ấn Độ, Niu Đêli cảm thấy phải sớm hành động để chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc đối với những cái mà Ấn Độ coi là lãnh hải của mình. Mặc dù Ấn Độ không có khả năng sử dụng Ấn Độ Dương cho việc phát huy sức mạnh ra bên ngoài khu vực, nhưng nước này đã thiết lập được ảnh hưởng đáng kể ở đây. Hơn nữa, do chính nhu cầu của Ấn Độ đối với các nguồn tài nguyên, đặc biệt là năng lượng, đang tăng lên, Ấn Độ cần phải bảo đảm an ninh cho các tuyến đường biển của mình từ châu Phi, Trung Đông và Đông Nam Á. Cùng với mong muốn của Ấn Độ trong việc bảo vệ quyền sở hữu các quần đảo Andaman và Nicobar tại vịnh Bengan và quần đảo Lakshadweep gần Biển Arập, nhu cầu này làm cho những va chạm giữa Trung Quốc và Ấn Độ trên khu vực Ấn Độ Dương là điều không thể tránh khỏi. Do Ấn Độ không có khả năng tự mình chống lại sức mạnh Trung Quốc trên Ấn Độ Dương nên Niu Đêli đã hợp tác với Oasinhtơn. Oasinhtơn cũng có lợi ích riêng khi kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực. Từ góc độ của Ấn Độ, phần phía Nam của vịnh Bengan là rất quan trọng vì nó gần với eo biển Malắcca. Eo biển Malắcca quan trọng đối với chính sách "Hướng Đông" 20 năm tuổi của Ấn Độ, một chính sách được thúc đẩy bởi nhu cầu năng lượng và thương mại và sự quan tâm mạnh mẽ đến việc chống lại Trung Quốc. Chính sách này liên quan đến việc Ấn Độ phát triển mối quan hệ chặt chẽ với Mianma và các nước khác trong khu vực vốn trước đây được gọi là các nước Đông Dương. Trong 2 thập kỷ qua, Ấn Độ đã tái thiết lập quan hệ gần gũi với Mianma, một đồng minh lâu đời của Trung Quốc. Bằng việc tận dụng nhu cầu của Mianma cần có các đối tác quốc tế, do vị thế cùng khổ của nước này, Ấn Độ đã không chỉ phát triển nguồn tài nguyên khí đốt mà còn bắt đầu cạnh tranh với Trung Quốc, Ngoài ra, các thoả thuận hợp tác năng lượng với Việt Nam cũng cho phép Ấn Độ thiết lập sự hiện diện ở khu vực Biển Đông - một khu vực Trung Quốc coi là độc quyền ảnh hưởng. Ấn Độ cũng xây dựng các mối quan hệ kinh tế gần gũi với các quốc gia Đông Nam Á quan trọng khác như Thái Lan, Xinhgapo và Malaixia. Điều này cho phép Ấn Độ thành lập một thoả thuận tự do thương mại với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Các nước Đông Nam Á cũng chia sẻ mong muốn của Ấn Độ trong việc chống lại ảnh hưởng đang tăng lên của Trung Quốc. Ngoài Đông Nam Á, Ấn Độ cũng đang làm việc với Nhật Bản, nước cũng rất quan tâm đến việc đối trọng lại Trung Quốc. Cả hai nước đang cùng làm việc với Mỹ để thiết lập chỗ đứng tại Biển Đông - một thoả thuận 3 bên có thể có ích cho Ấn Độ. Tuy nhiên, khả năng của Ấn Độ trong việc chống lại Trung Quốc ở sườn phía Nam của mình bị hạn chế do tình hình nội bộ, chính trị và kinh tế của Niu Đêli.

Vai trò của thương mại song phương

Trong khoảng một thập kỷ qua, quan điểm chung của Ấn Độ đối với Trung Quốc đã thay đổi, tăng cường quan hệ thương mại và hợp tác kinh tế đã bổ sung cho sự cạnh tranh chiến lược giữa hai quốc gia. Các mối quan hệ kinh tế Ấn Độ - Trung Quốc đã nâng tầm quan trọng của Ấn Độ tới mức mà Trung Quốc cảm thấy cần phải cân bằng các mối quan hệ lịch sử của mình với Pakixtan để hợp tác với Ấn Độ. Hơn nữa, mối lo ngại của Trung Quốc về sự bao vây chiến lược của Mỹ, trong đó Niu Đêli là một phần quan trọng, đã tạo thuận lợi cho Ấn Độ. Điều này giúp Niu Đêli có khả năng để đối phó với Ixlamabát - mối đe dọa an ninh chính của Ấn Độ. Tuy nhiên, có một xu hướng dài hạn theo đó Trung Quốc sẽ trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ trong khi vai trò của Ấn Độ đối với Trung Quốc không thay đổi. Từ năm 2001 đến 2010, thương mại của Ấn Độ với Trung Quốc tăng đều đặn từ 3% lên 10% tổng thương mại. Tuy nhiên, thương mại của Trung Quốc với Ấn Độ tính theo phần trăm trong tổng thương mại của nước này gần như đứng im, tăng từ 1 - 2% trong giai đoạn trên. Năm 2010, tổng kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt khoảng 50 tỷ USD. Xu hướng này phần lớn là do việc Ấn Độ tăng cường tiêu thụ thiết bị điện tử và máy móc của Trung Quốc (mặt hàng chiếm 42% nhập khẩu trong năm 2010). Năm 2001, Ấn Độ nhập khẩu 1,8 tỷ USD hàng hoá từ Trung Quốc, trong đó có khoảng 200 triệu USD hàng điện tử và 200 triệu USD máy móc. Đến năm 2010, Ấn Độ nhập tổng cộng 33 tỷ USD hàng hoá của Trung Quốc, trong đó hàng điện tử là 9 tỷ USD và máy móc là 5,6 tỷ USD. Điều này có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bán các hàng hoá có chi phí sản xuất thấp vào Ấn Độ, chiếm mất thị phần của các nhà sản xuất nội địa, trong khi Ấn Độ không thể bán cho Trung Quốc các loại hàng hoá chính của mình như các sản phẩm hoá dầu, kim cương, đồ trang sức, ôtô, hàng điện tử và các dịch vụ giá trị gia tăng cao như phát triển phần mềm, kỹ thuật và phát triển công nghệ thông tin. Sự mất cân bằng này có những tác động đến sự kình địch chung giữa hai quốc gia. Cuối cùng, Ấn Độ phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế và do đó sẽ ở vị trí yếu trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa hai nước - một cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra trên Ấn Độ Dương chứ không phải là ở biên giới chung giữa hai nước./.

Theo Stratfor (ngày 3/4)

Hương Trà (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Quan hệ Trung Quốc-Malaysia quay trở lại lộ trình?

Quan hệ Trung Quốc-Malaysia quay trở lại lộ trình?

Sau khi Thủ tướng Mahathir lên nắm quyền (tháng 5/2018), đã có những nghi ngờ thực sự về vị thế của các siêu dự án Trung Quốc tại Malaysia. Tuy nhiên, trước và trong chuyến thăm thứ 2 của Mahathir tới Trung Quốc vào tháng 4/2019, những mối hoài nghi như vậy đã được xóa bỏ.

Đọc tiếp...

Cạnh tranh Mỹ-Trung: Chiến tranh lạnh kiểu mới?

Cạnh tranh Mỹ-Trung: Chiến tranh lạnh kiểu mới?

Ba thập kỷ sau khi Liên Xô sụp đổ, thời điểm đơn cực đã kết thúc. Tại Trung Quốc, Mỹ phải đối mặt với một đối thủ rất lớn và khao khát trở thành số một. Quan hệ kinh doanh và lợi nhuận, những cái trước đây giúp củng cố mối quan hệ, đã trở thành cái để cạnh tranh.

Đọc tiếp...

Khai thác tiềm năng hợp tác quốc phòng to lớn giữa Ấn Độ và Việt Nam

Khai thác tiềm năng hợp tác quốc phòng to lớn giữa Ấn Độ và Việt Nam

Mặc dù không thể phủ nhận thực tế là hợp tác quốc phòng giữa hai nước đang phát triển, nhưng cần phải có một tầm nhìn chiến lược và một tư duy rõ ràng để đưa nó vào một quỹ đạo cao hơn.

Đọc tiếp...

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung: Mục tiêu là công nghệ

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung: Mục tiêu là công nghệ

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung nhận được nhiều sự chú ý, nhưng nó ẩn dấu một “cuộc chiến công nghệ” lớn hơn nhằm tranh giành sự đổi mới trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Sẽ là sai lầm khi nghĩ về một cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Trung?

Sẽ là sai lầm khi nghĩ về một cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Trung?

Việc bao vây kinh tế do Mỹ đứng đầu sẽ buộc Trung Quốc phải tạo ra khối kinh tế tự cung tự cấp của chính mình. Điều này sẽ làm tổn thương đến nhiều nền kinh tế châu Á vốn có quan hệ làm ăn với Trung Quốc và Mỹ, bao gồm cả Nhật Bản.

Đọc tiếp...

Chiến lược “phòng bị nước đôi” của Trung Quốc ở vùng Vịnh

Chiến lược “phòng bị nước đôi” của Trung Quốc ở vùng Vịnh

Bắc Kinh đang thực hiện chiến lược “phòng bị nước đôi” ở vùng Vịnh, vừa tìm cách xây dựng mối quan hệ bền chặt với từng quốc gia trong khu vực tại thời điểm mà cam kết của Mỹ với Trung Đông đang bị hoài nghi. Trong bối cảnh BRI tiếp tục được định hình ở Trung Đông, người ta kỳ vọng mối quan hệ hợp tác rộng mở hơn.

Đọc tiếp...

Con đường Tơ lụa trên Biển Mới Thế kỷ 21: Hệ quả Địa chính trị đối với các quốc gia Đông Nam Á

Con đường Tơ lụa trên Biển Mới Thế kỷ 21: Hệ quả Địa chính trị đối với các quốc gia Đông Nam Á

Bài viết tóm tắt khái niệm và các động cơ của Trung Quốc nói chung trong MSR Thế kỷ 21, đồng thời trình bày chi tiết sự tham gia của các nước Đông Nam Á vào dự án cũng như các hệ quả về địa chính trị mà hợp tác này mang lại cho khu vực.

Đọc tiếp...

Thế khó xử của Philippines đối với vốn đầu tư Trung Quốc

Thế khó xử của Philippines đối với vốn đầu tư Trung Quốc

Rủi ro chính trị cao trong khi lợi nhuận thu về khá thấp khiến phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài không muốn đầu tư vào các lĩnh vực tạo ra việc làm quan trọng, do đó các quốc gia đang phát triển tại châu Á không còn nhiều lựa chọn khi nguồn vốn đầu tư Trung Quốc đang vẫy gọi.

Đọc tiếp...

Đông Nam Á và sự cạnh tranh Mỹ-Trung

Đông Nam Á và sự cạnh tranh Mỹ-Trung

Ngày 15/11/2018, Thủ tướng Lý Hiển Long từng nói: “Tôi nghĩ việc chúng ta không phải chọn đứng về phe nào là đáng mơ ước, nhưng có thể xảy ra tình huống ASEAN phải lựa chọn phe này hay phe khác. Tôi hy vọng điều đó không sớm xảy ra”.

Đọc tiếp...

Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương: Cân nhắc các lợi ich chiến lược của Trung Quốc-Ấn Độ

Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương: Cân nhắc các lợi ich chiến lược của Trung Quốc-Ấn Độ

Bài nghiên cứu phân tích các vấn đề địa chiến lược biển đang nổi tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong bối cảnh Mỹ-Trung đang cạnh tranh nhằm có được ưu thế vượt trội trên biển. Thêm vào đó, bài nghiên cứu cũng tập trung vào các biện pháp của Ấn Độ để đối phó với các động thái trên biển và chiến thuật hải quân của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nhật Bản thách thức Trung Quốc ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Nhật Bản thách thức Trung Quốc ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Nếu có một nhân vật duy nhất đóng vai trò lớn nhất trong việc mang lại kỷ nguyên Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, thì người ta có thể cho rằng đó là Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe. Với tư tưởng kiên định không ai sánh kịp, ông đã tận tâm cải tổ không chỉ chính sách đối ngoại của Nhật Bản hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, mà còn cả trật tự thế giới hậu Mỹ đang nổi lên.

Đọc tiếp...

Can dự: Biện pháp đối phó hiệu quả nhất với Triều Tiên

Can dự: Biện pháp đối phó hiệu quả nhất với Triều Tiên

Bài phỏng vấn Tiến sĩ Chung-in Moon, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Moon Jae-in về các vấn đề thống nhất, ngoại giao và an ninh quốc gia. Tiến sĩ Chung-in Moon được biết đến rộng rãi như là một trong những chuyên gia hàng đầu về quan hệ liên Triều cũng như nhờ đóng góp của ông về học thuật và hoạt động trong chính phủ.

Đọc tiếp...

Hội nghị Mỹ-Triều lần hai: Vai trò của Trung Quốc và Hàn Quốc

Hội nghị Mỹ-Triều lần hai: Vai trò của Trung Quốc và Hàn Quốc

Trong các cuộc đàm phán Mỹ-Triều, vai trò của Trung Quốc là đem lại cảm giác an toàn cho Triều Tiên khi đàm phán trực tiếp với Mỹ, trong khi đó, Hàn Quốc sẽ đóng vai trò là một kênh đối thoại gián tiếp giữa Mỹ và Triều Tiên, cũng như làm “chất xoa dịu” để giảm bớt những căng thẳng có thể leo thang theo giai đoạn.

Đọc tiếp...

Quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ trong năm 2019 sẽ ra sao?

Quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ trong năm 2019 sẽ ra sao?

Trong bối cảnh quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ đang đi xuống do hai bên còn nghi kị lẫn nhau, điều hai nước nên làm trong năm 2019 là tiến hành một cuộc đối thoại chiến lược có ý nghĩa và mang tính bao quát. Nếu có thể, cơ chế đối thoại chiến lược giữa hai nước hiện nay có thể được nâng cấp thành một cơ chế mới và toàn diện.

Đọc tiếp...

"Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở" cần sự đồng thuận

Hiện vẫn chưa có sự đồng thuận về ý tưởng bao trùm sáng kiến kiến "Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở" cũng như chưa rõ các cấu trúc cần thiết cho việc thực thi. Nói đúng hơn là mọi thứ vẫn còn rất mơ hồ. ASEAN và các quốc gia khác nên tham gia vào FOIP để đóng góp cho công cuộc xây dựng nó và hình thành được một trật tự khu vực mang tính tổng thể hơn.

Đọc tiếp...

Từ bỏ NATO và bảo vệ châu Âu mới - Hướng đi tiếp theo của Mỹ?

Từ bỏ NATO và bảo vệ châu Âu mới - Hướng đi tiếp theo của Mỹ?

Mỹ nên hợp tác với NATO với tư cách không phải là thành viên của tổ chức này, và tập trung vào các nguồn lực hữu hạn mà Mỹ có thể đạt được, từ những cuộc cạnh tranh quan trọng mà Mỹ phải đối mặt với Trung Quốc ở Thái Bình Dương đến những quốc gia ở châu Âu mới vẫn có ý chí chiến đấu, và vẫn mang theo ngọn đuốc của nền văn minh phương Tây. Đọc tiếp...

Campuchia ở trung tâm của một cuộc chiến tranh lạnh mới

Campuchia ở trung tâm của một cuộc chiến tranh lạnh mới

Khi cuộc cạnh tranh siêu cường giành tầm ảnh hưởng khu vực đạt tới một cường độ mới, có lẽ Campuchia sẽ nhận thấy mình ở trung tâm của một cuộc chiến tranh lạnh mới ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và “chuỗi đảo ngọc”

Ấn Độ và “chuỗi đảo ngọc”

New Delhi đang mở rộng sự hiện diện quân sự của họ ở khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong bối cảnh Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng ở khu vực này. Dù còn thua xa Trung Quốc về tài chính cũng như cấp độ và quy mô hiện đại hóa quân đội, nhưng Ấn Độ có ưu thế địa lý và sự hậu thuẫn mạnh mẽ của quốc tế nhằm thúc đẩy những tính toán theo hướng mà New Delhi mong muốn.

Đọc tiếp...

Khi Mỹ làm đảo lộn nền kinh tế thế giới

Khi Mỹ làm đảo lộn nền kinh tế thế giới

Toàn cầu hóa đã kết nối vận mệnh của mọi nền kinh tế. Donald Trump, với tham vọng bảo vệ lợi ích kinh tế Mỹ, đã làm rung chuyển toàn bộ hệ thống. Đó là chất Mỹ điển hình khi dám đứng ra cáng đáng mọi hậu quả. Liệu Tổng thống Mỹ Trump còn có khả năng chống đỡ trước các cuộc tấn công dữ dội ở trong nước mà chính ông là mục tiêu.

Đọc tiếp...

Nhật Bản phải cân nhắc những rủi ro khi xích lại gần Trung Quốc

Nhật Bản phải cân nhắc những rủi ro khi xích lại gần Trung Quốc

"Họ có vẻ gượng ép". Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Richard Armitage đã mô tả như vậy khi Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gặp nhau lần đầu tiên hồi năm 2014 bên lề Hội nghị Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương diễn ra tại Bắc Kinh. Không có tình bạn nào giữa hai người.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7350 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin