2 - 7 - 2020 | 19:25
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Ấn Độ Dương: Trận chiến quyết liệt Trung-Ấn

Ấn Độ Dương: Trận chiến quyết liệt Trung-Ấn

Email In PDF.

Bài viết của Robert D. Kaplan trên mạng Stratfor: Ấn Độ phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế, do đó sẽ ở vị trí yếu trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa hai nước. Cạnh tranh sẽ diễn ra trên Ấn Độ Dương chứ không phải là ở biên giới chung giữa hai nước.

 

Ngoài cuộc chiến tranh năm 1962, Ấn Độ và Trung Quốc không mấy tác động đến nhau về mặt địa chính trị. Tuy nhiên, những thay đổi trong cấu trúc kinh tế của Trung Quốc đã dẫn đến việc Bắc Kinh ngày càng hoạt động nhiều tại Ấn Độ Dương - khu vực ảnh hưởng của Niu Đêli. Do đó, Ấn Độ cố gắng phát huy sức mạnh của mình ra Ấn Độ Dương để chống lại sự can dự ngày càng tăng của Trung Quốc. Chia tách giữa Ấn Độ và Trung Quốc là dãy núi Himalaya . Đối với Ấn Độ, Nêpan và Butan là những quốc gia đệm ở khu vực biên giới Đông Bắc và Tây Bắc giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Bang miền núi Sikkim là tấm đệm thứ 3 giữa hai quốc gia và chính phủ của cựu Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi đã tìm cách đưa toàn bộ bang này vào Ấn Độ. Khi các cuộc bạo loạn chống chế độ quân chủ bùng nổ tại Sikkim năm 1973, do lo ngại Trung Quốc có thể nhảy vào và đòi đây là một phần của Tây Tạng nên Ấn Độ đã sử dụng tổng hợp chiến thuật chính trị và quân sự để thuyết phục vị vua cuối cùng của Sikkim chấp nhận Sikkim là bang thứ 23 của Ấn Độ. Điều này giúp Niu Đêli có thêm đòn bẩy đối với Trung Quốc thông qua việc hỗ trợ các phần tử Tây Tạng ly khai đang sống tại Sikkim. Có rất nhiều tranh chấp lãnh thổ dọc đường biên giới Ấn Độ - Trung Quốc. Trung Quốc có lãnh thổ rộng lớn trong khu vực Casơmia, ở phía Tây Bắc của Ấn Độ, tại 3 khu vực là Thung lũng Shaksgam, Aksai Chin và Demchok. Bắc Kinh cũng tuyên bố chủ quyền một phần đáng kể của khu vực hình thành nên vành đai Đông Bắc của Ấn Độ - bang Arunachal Pradesh.

Biên giới Ấn Độ - Trung Quốc, căng thẳng nhưng ít hành động

Dãy Himalaya đã ngăn chặn hiệu quả, không cho Ấn Độ và Trung Quốc thực hiện được hoạt động quân sự đáng kể nào chống lại nhau. Tuy nhiên, điều này không loại bỏ hoàn toàn được những căng thẳng. Hơn 6 thập kỷ qua, tại Ấn Độ, thường xuyên có những phản đối về các mối đe dọa tiềm tàng từ Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) ở nhiều khu vực dọc theo sườn phía Bắc của Ấn Độ (các bang Himachal Pradesh và Uttarakhand, nằm giữa Nêpan và Casơmia dọc biên giới với Trung Quốc, cũng bị xem là có nguy cơ bị quân đội Trung Quốc xâm nhập). Trong những năm gần đây, mối đe dọa này đã dẫn đến việc Niu Đêli tăng cường phòng thủ quân sự trong mối quan hệ với Bắc Kinh. Các quan chức tại bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ thỉnh thoảng khẳng định rằng Trung Quốc đang xây dựng quân đội ở phía bên giới của họ. Những tuyên bố này thường theo sau bởi những báo cáo nêu bật những nỗ lực của Ấn Độ nhằm tăng cường an ninh bên phía mình và coi Trung Quốc là thù địch. Các nguồn tin của Trung Quốc cho Stratfor biết rằng cái đang diễn ra trong những trường hợp này là việc các quân đoàn công binh Trung Quốc thường kỳ xây dựng các công trình có mục đích phòng thủ, nhưng Ấn Độ lại coi như là những động thái tấn công. Làm trầm trọng thêm những căng thẳng này là những cáo buộc rằng nước này đang hỗ trợ cho những phần tử nổi loạn ở nước kia. Ấn Độ thì khẳng định rằng Trung Quốc đang hỗ trợ nhiều nhóm nổi dậy khác nhau ở các bang Đông Bắc của Ấn Độ như Assam, Nagaland, Mizoram, Tripura và Meghalaya. Trong khi đó thì Trung Quốc chỉ trích Ấn Độ về việc cung cấp chỗ trú ẩn cho các phần tử ly khai Tây Tạng. Ngoài những cáo buộc và các biện pháp chuẩn bị quân sự này, biên giới của Ấn Độ với Trung Quốc vẫn bình yên trong 50 năm qua, ngoại trừ các sự cố hiếm hoi và nhỏ lẻ. Điều này khó có khả năng thay đổi trong tương lai gần.

Yếu tố Pakixtan trong quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc

Việc lo ngại bị Trung Quốc bao vây đã tác động đến tư duy của các chiến lược gia và các nhà hoạch định chính sách Ấn Độ. Phần quan trọng của tư duy này liên quan đến mối quan hệ đồng minh giữa Trung Quốc và Pakixtan - nước láng giềng đối thủ ở phía Tây của Ấn Độ. Trung Quốc đã sử dụng sự thù địch giữa Ấn Độ và Pakixtan làm đòn bẩy chống lại Niu Đêli. Hợp tác quân sự và trợ giúp kinh tế cho Ixlamabát đã cho phép Trung Quốc thiết lập sự hiện diện đáng kể tại Pakixtan. Đối với Niu Đêli, sự tham dự của Trung Quốc vào việc phát triển hành lang giao thông ở khu vực Gilgit-Baltistan, Đông Bắc Pakixtan, mà Pakixtan đã giành được trong cuộc chiến tranh 1948 tại khu vực Casơmia, đã giúp nâng cao vị thế của Pakixtan tại vùng lãnh thổ tranh chấp này. Trong những năm gần đây, Niu Đêli đã cáo buộc rằng Pakixtan đã cho phép 11.000 quân PLA vào đồn trú tại Gilgit-Baltistan. Trung Quốc có thể muốn sử dụng toàn bộ chiều dài lãnh thổ Pakixtan làm cầu nối cho hàng xuất khẩu và quan trọng hơn là nhập khẩu. Khả năng này sẽ giúp Trung Quốc tránh các tuyến đường biển giữa vùng biển phía Đông và phía Nam chạy qua eo biển Malắca và Ấn Độ Dương. Đây là một bước đi quan trọng giúp việc nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc từ Trung Đông trở nên bảo đảm hơn. Bắc Kinh có thể thực hiện được điều này nếu họ có thể thiết lập một hành lang giao thông tốt và an toàn giữa đèo Khunjerab ở biên giới Pakixtan - Trung Quốc và cảng Gwadar ở Biển Arập (một cơ sở Trung Quốc đã giúp xây dựng). Tuy nhiên, những trở ngại về kỹ thuật và tài chính, cũng như các vấn đề về an ninh, khí hậu và địa chất, đã ngăn cản Trung Quốc xây dựng cơ sở hạ tầng đường sá và đường sắt dọc toàn bộ chiều dài lãnh thổ Pakixtan. Do sự rối loạn trong nước của Pakixtan và việc NATO sẽ rút quân khỏi Ápganixtan, về lâu dài, Bắc Kinh sẽ chỉ đạt được một phần nhỏ trong tham vọng này. Tuy nhiên, cảng Gwadar lại có giá trị hàng hải rất lớn đối với Bắc Kinh và có thể là một cảng hải quân quan trọng của Trung Quốc ở phía Tây Bắc của Ấn Độ Dương.

Mặc dù có sự can dự của Trung Quốc vào Pakixtan, nhưng vẫn có nhiều khó khăn trong việc sử dụng sự can dự đó để chống lại Ấn Độ. Sự bất ổn tại Pakixtan và các phần tử vũ trang Hồi giáo quốc tế đóng tổng hành dinh tại đó đã biến Pakixtan thành một gánh nợ hơn là một tài sản. Quan hệ Trung Quốc - Pakixtan cũng bị ảnh hưởng bởi vai trò của Mỹ ở Nam Á và Bắc Kinh phải cân bằng những cam kết của mình với Ixlamabát và mối quan hệ với Oasinhtơn. Trung Quốc cũng không sẵn sàng hoặc không thể đảm nhận một vai trò tại Pakixtan, về mặt tài chính hoặc chính trị, như Mỹ. Quan trọng hơn, nhu cầu địa chính trị của Trung Quốc không chỉ dừng lại ở Pakixtan. Sự thay đổi kinh tế chính trị của Trung Quốc trong những thập kỷ gần đây đã buộc Bắc Kinh phải chuyển đổi từ cường quốc đất liền sang cường quốc biển. Nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng và các nguồn tài nguyên khác để nuôi bộ máy công nghiệp và do lĩnh vực xuất khẩu yêu cầu các tuyến đường vận chuyển từ bờ biển của Trung Quốc đến châu Phi và Trung Đông, Trung Quốc phải thiết lập và tăng cường sự hiện diện của mình ở Ấn Độ Dương cho phù hợp. Mặc dù sẽ mất thời gian để Trung Quốc có thể xây dựng năng lực hải quân, nhưng Trung Quốc đã bắt đầu phát triển các tiền đồn ảnh hưởng trên khắp Ấn Độ Dương. Mặc dù trong nhiều trường hợp Trung Quốc cung cấp tài chính cho hoạt động xây dựng các cảng này, các dự án này tại Mianma, Bănglađét, Xri Lanca, Manđivơ và những nơi khác cũng là nguồn thu tiềm năng cho các công ty xây dựng của Trung Quốc. Tuy nhiên, việc bị xâm nhập vào sườn phía Nam này đã làm trầm trọng thêm sự lo ngại của Ấn Độ đối với Trung Quốc trong vấn đề an ninh.

Những lựa chọn của Ấn Độ

Vì Trung Quốc là một cường quốc kinh tế lớn hơn và có khả năng hải quân tầm xa tốt hơn so với Ấn Độ, Niu Đêli cảm thấy phải sớm hành động để chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc đối với những cái mà Ấn Độ coi là lãnh hải của mình. Mặc dù Ấn Độ không có khả năng sử dụng Ấn Độ Dương cho việc phát huy sức mạnh ra bên ngoài khu vực, nhưng nước này đã thiết lập được ảnh hưởng đáng kể ở đây. Hơn nữa, do chính nhu cầu của Ấn Độ đối với các nguồn tài nguyên, đặc biệt là năng lượng, đang tăng lên, Ấn Độ cần phải bảo đảm an ninh cho các tuyến đường biển của mình từ châu Phi, Trung Đông và Đông Nam Á. Cùng với mong muốn của Ấn Độ trong việc bảo vệ quyền sở hữu các quần đảo Andaman và Nicobar tại vịnh Bengan và quần đảo Lakshadweep gần Biển Arập, nhu cầu này làm cho những va chạm giữa Trung Quốc và Ấn Độ trên khu vực Ấn Độ Dương là điều không thể tránh khỏi. Do Ấn Độ không có khả năng tự mình chống lại sức mạnh Trung Quốc trên Ấn Độ Dương nên Niu Đêli đã hợp tác với Oasinhtơn. Oasinhtơn cũng có lợi ích riêng khi kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực. Từ góc độ của Ấn Độ, phần phía Nam của vịnh Bengan là rất quan trọng vì nó gần với eo biển Malắcca. Eo biển Malắcca quan trọng đối với chính sách "Hướng Đông" 20 năm tuổi của Ấn Độ, một chính sách được thúc đẩy bởi nhu cầu năng lượng và thương mại và sự quan tâm mạnh mẽ đến việc chống lại Trung Quốc. Chính sách này liên quan đến việc Ấn Độ phát triển mối quan hệ chặt chẽ với Mianma và các nước khác trong khu vực vốn trước đây được gọi là các nước Đông Dương. Trong 2 thập kỷ qua, Ấn Độ đã tái thiết lập quan hệ gần gũi với Mianma, một đồng minh lâu đời của Trung Quốc. Bằng việc tận dụng nhu cầu của Mianma cần có các đối tác quốc tế, do vị thế cùng khổ của nước này, Ấn Độ đã không chỉ phát triển nguồn tài nguyên khí đốt mà còn bắt đầu cạnh tranh với Trung Quốc, Ngoài ra, các thoả thuận hợp tác năng lượng với Việt Nam cũng cho phép Ấn Độ thiết lập sự hiện diện ở khu vực Biển Đông - một khu vực Trung Quốc coi là độc quyền ảnh hưởng. Ấn Độ cũng xây dựng các mối quan hệ kinh tế gần gũi với các quốc gia Đông Nam Á quan trọng khác như Thái Lan, Xinhgapo và Malaixia. Điều này cho phép Ấn Độ thành lập một thoả thuận tự do thương mại với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Các nước Đông Nam Á cũng chia sẻ mong muốn của Ấn Độ trong việc chống lại ảnh hưởng đang tăng lên của Trung Quốc. Ngoài Đông Nam Á, Ấn Độ cũng đang làm việc với Nhật Bản, nước cũng rất quan tâm đến việc đối trọng lại Trung Quốc. Cả hai nước đang cùng làm việc với Mỹ để thiết lập chỗ đứng tại Biển Đông - một thoả thuận 3 bên có thể có ích cho Ấn Độ. Tuy nhiên, khả năng của Ấn Độ trong việc chống lại Trung Quốc ở sườn phía Nam của mình bị hạn chế do tình hình nội bộ, chính trị và kinh tế của Niu Đêli.

Vai trò của thương mại song phương

Trong khoảng một thập kỷ qua, quan điểm chung của Ấn Độ đối với Trung Quốc đã thay đổi, tăng cường quan hệ thương mại và hợp tác kinh tế đã bổ sung cho sự cạnh tranh chiến lược giữa hai quốc gia. Các mối quan hệ kinh tế Ấn Độ - Trung Quốc đã nâng tầm quan trọng của Ấn Độ tới mức mà Trung Quốc cảm thấy cần phải cân bằng các mối quan hệ lịch sử của mình với Pakixtan để hợp tác với Ấn Độ. Hơn nữa, mối lo ngại của Trung Quốc về sự bao vây chiến lược của Mỹ, trong đó Niu Đêli là một phần quan trọng, đã tạo thuận lợi cho Ấn Độ. Điều này giúp Niu Đêli có khả năng để đối phó với Ixlamabát - mối đe dọa an ninh chính của Ấn Độ. Tuy nhiên, có một xu hướng dài hạn theo đó Trung Quốc sẽ trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ trong khi vai trò của Ấn Độ đối với Trung Quốc không thay đổi. Từ năm 2001 đến 2010, thương mại của Ấn Độ với Trung Quốc tăng đều đặn từ 3% lên 10% tổng thương mại. Tuy nhiên, thương mại của Trung Quốc với Ấn Độ tính theo phần trăm trong tổng thương mại của nước này gần như đứng im, tăng từ 1 - 2% trong giai đoạn trên. Năm 2010, tổng kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt khoảng 50 tỷ USD. Xu hướng này phần lớn là do việc Ấn Độ tăng cường tiêu thụ thiết bị điện tử và máy móc của Trung Quốc (mặt hàng chiếm 42% nhập khẩu trong năm 2010). Năm 2001, Ấn Độ nhập khẩu 1,8 tỷ USD hàng hoá từ Trung Quốc, trong đó có khoảng 200 triệu USD hàng điện tử và 200 triệu USD máy móc. Đến năm 2010, Ấn Độ nhập tổng cộng 33 tỷ USD hàng hoá của Trung Quốc, trong đó hàng điện tử là 9 tỷ USD và máy móc là 5,6 tỷ USD. Điều này có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bán các hàng hoá có chi phí sản xuất thấp vào Ấn Độ, chiếm mất thị phần của các nhà sản xuất nội địa, trong khi Ấn Độ không thể bán cho Trung Quốc các loại hàng hoá chính của mình như các sản phẩm hoá dầu, kim cương, đồ trang sức, ôtô, hàng điện tử và các dịch vụ giá trị gia tăng cao như phát triển phần mềm, kỹ thuật và phát triển công nghệ thông tin. Sự mất cân bằng này có những tác động đến sự kình địch chung giữa hai quốc gia. Cuối cùng, Ấn Độ phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế và do đó sẽ ở vị trí yếu trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa hai nước - một cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra trên Ấn Độ Dương chứ không phải là ở biên giới chung giữa hai nước./.

Theo Stratfor (ngày 3/4)

Hương Trà (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đằng sau sự thay đổi bất ngờ của Philippines về VFA với Mỹ

Đằng sau sự thay đổi bất ngờ của Philippines về VFA với Mỹ

Hôm 11 tháng 2, Philippines thông báo chấm dứt Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng (VFA) với Mỹ, đến ngày 2 tháng 6 nước này lại tuyên bố hoãn quyết định chấm dứt VFA. Điều gì uẩn khúc đằng sau sự thay đổi bất ngờ của Philppines?

Đọc tiếp...

Hiểm họa đối đầu Mỹ -Trung

Hiểm họa đối đầu Mỹ -Trung

Sự trỗi dậy của Trung Quốc liệu có thay đổi cục diện một "nền hòa bình kiểu Mỹ" tại khu vực châu Á. Phản ứng của các quốc gia trong khu vực sẽ ra sao, chọn Mỹ hay chọn Trung Quốc?

Đọc tiếp...

Xây dựng lòng tin ở châu Á - Thái Bình Dương: Lý thuyết, thực tiễn và một số bài học kinh nghiệm

Xây dựng lòng tin ở châu Á - Thái Bình Dương: Lý thuyết, thực tiễn và một số bài học kinh nghiệm

Bài viết tìm hiểu cơ sở lý thuyết và thực tiễn về xây dựng lòng tin ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương thông qua trả lời các câu hỏi: Vì sao đặc điểm triển khai các biện pháp xây dựng lòng tin (CBMs) ở châu Á - Thái Bình Dương khác với CBMs truyền thống? Bài học kinh nghiệm rút ra từ triển khai CBMs ở khu vực là gì?

Đọc tiếp...

Quan điểm của Đông Nam Á về cuộc đối đầu Mỹ-Trung

Quan điểm của Đông Nam Á về cuộc đối đầu Mỹ-Trung

Các quốc gia trong khu vực đang tìm cách không để cho những tranh chấp của họ với Trung Quốc ảnh hưởng tới các khía cạnh khác trong mối quan hệ với nước láng giềng quan trọng này, tìm cách cân bằng giữa Trung Quốc và Mỹ, cũng như các cường quốc khu vực như Nhật Bản và Ấn Độ.

Đọc tiếp...

Covid 19 đẩy quan hệ Mỹ-Trung xuống đáy

Covid 19 đẩy quan hệ Mỹ-Trung xuống đáy

Đại dịch đã đẩy quan hệ Mỹ-Trung xuống đáy vì cả hai nước đều tìm cách vượt mặt nhau để định hình trật tự thế giới.

Đọc tiếp...

Tác động của COVID-19 đến quan hệ Trung-Mỹ

Tác động của COVID-19 đến quan hệ Trung-Mỹ

Dịch COVID-19 đã đẩy mối quan hệ Trung-Mỹ vào một giai đoạn tồi tệ mới. Quan hệ thương mại song phương trên đà suy thoái, rơi vào trạng thái dường như đóng băng; sự thiếu hụt lòng tin chiến lược ngày càng nghiêm trọng; bầu không khí giữa hai bên ngột ngạt chưa từng có.

Đọc tiếp...

Khả năng tồn tại của liên minh Mỹ-Philippines

Khả năng tồn tại của liên minh Mỹ-Philippines

Các nhà ngoại giao và quan chức quân sự ở cả Mỹ và Philippines đang tìm cách cứu vãn Thỏa thuận Các lực lượng thăm viếng (VFA) với lo ngại rằng khoảng trống an ninh do thoả thuận trên để lại có thể sẽ tạo cơ hội để Bắc Kinh tăng cường củng cố quân đội và bành trướng hơn nữa ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Thế khó của Nhật Bản trong cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung

Thế khó của Nhật Bản trong cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung

Nhật Bản là một trường hợp đặc biệt để nghiên cứu tác động của cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung. Là quốc gia nằm tại tiền tuyến của cạnh tranh, Nhật Bản ở vị thế khó xử bởi vừa là đồng minh quân sự thân cận của Mỹ lại vừa có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Những thách thức của quan hệ đối tác Nga-Trung

Những thách thức của quan hệ đối tác Nga-Trung

Quan hệ đối tác Trung-Nga đã được củng cố đáng kể trong hai năm qua. Tuy nhiên, những thay đổi tiềm tàng trong chính sách của Mỹ và đặc biệt là những diễn biến ở Trung Á và Bắc Cực có thể thách thức mối quan hệ này trong tương lai.

Đọc tiếp...

Mỹ-Trung không nên đấu đá nhau trong bối cảnh đại dịch

Mỹ-Trung không nên đấu đá nhau trong bối cảnh đại dịch

COVID-19 là nguyên nhân mới nhất dẫn đến xích mích trong mối quan hệ ngày càng căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh. Tuy nhiên, nếu để cho sự ganh đua làm mờ mắt trước những mối đe dọa rõ ràng lúc này, hai bên rốt cuộc sẽ tự hủy hoại chính mình.

Đọc tiếp...

Sáng kiến cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – ASEAN của Trung Quốc và phản ứng hai chiều từ ASEAN

Sáng kiến cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – ASEAN của Trung Quốc và phản ứng hai chiều từ ASEAN

Đề xuất này là dấu hiện cho sự kết tinh của một chiến lược có chủ ý và được đầu tư từ phía Trung Quốc về tương lai của quan hệ ASEAN-Trung Quốc, nhằm củng cố sự thay đổi quyền lực đang diễn ra ở Đông Nam Á và tạo ra sự chuyển đổi suôn sẻ sang trật tự khu vực lấy Trung Quốc làm trung tâm trong bối cảnh Mỹ suy giảm ảnh hưởng trong khu vực.

Đọc tiếp...

Dịch COVID-19 tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Dịch COVID-19 tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Trung Quốc đã cố gắng giải quyết một cách thận trọng mối quan hệ với Mỹ, đồng thời triển khai sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng gia tăng trên toàn thế giới. Dịch COVID-19 đã làm trầm trọng thêm căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ và đặt ra những câu hỏi về vai trò lãnh đạo toàn cầu của Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Hy vọng và lo sợ của Đông Nam Á

Trung Quốc-Hy vọng và lo sợ của Đông Nam Á

Trung Quốc được nhìn nhận là nước có ảnh hưởng lớn nhất về kinh tế tại khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, niềm tin của khu vực vào Trung Quốc đã suy giảm trong một vài năm qua dựa trên thái độ của quốc gia này đối với các vấn đề lợi ích chung.

Đọc tiếp...

Tiềm năng quan hệ Mỹ-ASEAN

Tiềm năng quan hệ Mỹ-ASEAN

Cuộc thăm dò dư luận gần đây nhất của ISEAS cho thấy Trung Quốc đang nhanh chóng giành được ưu thế kinh tế và chiến lược ở Đông Nam Á so với Mỹ. Do đó, để lấy lại lợi thế của mình tại khu vực này, Mỹ phải xác định lại các điều khoản cạnh tranh.

Đọc tiếp...

Hậu quả của việc Mỹ mất VFA với Philippines

Hậu quả của việc Mỹ mất VFA với Philippines

Việc chấm dứt Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng (VFA) với Philippines sẽ khiến Mỹ dễ bị tổn thương hơn nữa trước các chính sách chính trị và đối ngoại trong nước của các đồng minh hiệp ước khác.  

Đọc tiếp...

Thế giới không chỉ xoay quanh Mỹ và Trung Quốc

Thế giới không chỉ xoay quanh Mỹ và Trung Quốc

Từ lâu, “phạm vi ảnh hưởng” đã trở thành một khái niệm được coi trọng trong việc quản lý sự phức tạp của quan hệ nước lớn. Việc thiết lập phạm vi ảnh hưởng cần đến sự hiểu biết chung không chỉ giữa các nước lớn, mà cả giữa những nước đã nằm trong phạm vi ảnh hưởng của họ.

Đọc tiếp...

Cách Duterte biến Philippines thành quân cờ của Trung Quốc

Cách Duterte biến Philippines thành quân cờ của Trung Quốc

Để giành được những đồng đôla phát triển đất nước, Rodrigo Duterte đã gây tổn hại đến an ninh quốc gia của Philippines. Quyết định chính sách đối ngoại lớn đầu tiên của Duterte là bác bỏ chiến thắng mang tính lịch sử của Philippines trước Trung Quốc trong vụ kiện liên quan đến tranh chấp chủ quyền trên biển.

Đọc tiếp...

Hợp tác Nga - Trung trong cuộc chiến chống COVID-19

Hợp tác Nga - Trung trong cuộc chiến chống COVID-19

Sự ủng hộ, tình cảm tốt đẹp và quyết tâm mạnh mẽ của Nga chống dịch Covid-19 đã phản ánh sự hợp tác nhân đạo ngày càng sâu rộng giữa Nga và Trung Quốc, thể hiện tình hữu nghị và quan hệ đối tác hợp tác chiến lược để cùng nhau vượt qua những khó khăn trước mắt.

Đọc tiếp...

Liệu liên minh Mỹ-Philippines có tan vỡ?

Liệu liên minh Mỹ-Philippines có tan vỡ?

Việc chấm dứt Thỏa thuận Các lực lượng Thăm viếng Mỹ-Philippines (VFA) có thể khiến cả Đông Nam Á dậy sóng, không chỉ gây tổn hại cho quốc phòng Philippines mà còn tới chiến lược biển của Mỹ đối với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Thành công của quan hệ đối tác Mỹ-Ấn

Thành công của quan hệ đối tác Mỹ-Ấn

Sau 3 năm Trump giữ chức tổng thống, quan hệ đối tác chiến lược với Ấn Độ, mà các chính quyền Mỹ liên tiếp nhau đã nuôi dưỡng như một bức tường thành âm thầm chống lại Trung Quốc, không chỉ tiếp tục tồn tại mà còn phát triển nở rộ.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5224 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin