4 - 9 - 2015 | 18:46
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU VIỆT NAM Tương quan lực lượng quân sự tại Biển Đông

Tương quan lực lượng quân sự tại Biển Đông

Email In PDF.

 (Hoàng  Nam) Trung Quốc ở vị thế áp đảo so với các nước và vùng lãnh thổ khác trong tranh chấp ở Biển Đông. Tương quan lực lượng có chiều hướng tiếp tục nghiêng mạnh về phía Trung Quốc trong tương lai với tốc độ tăng trưởng chóng mặt . Trước căng thẳng gia tăng tại Biển Đông, có xu hướng chuyển dịch trong chiến lược của các nước trong khu vực từ “phòng thủ” sang “phòng thủ từ xa”, tích cực mua sắm, sản xuất các vũ khí tối tân, hạng nặng. 

***************************

Sức mạnh trên biển của mỗi quốc gia được đo đạc bằng sức mạnh hải quân và không quân. Trên chiến trường này, quân số không có nhiều ý nghĩa so với mức độ hiện đại của các loại phương tiện, vũ khí, và khí tài chiến tranh, và khả năng hiệp đồng tác chiến giữa các đơn vị, vị trí địa lý của các căn cứ quân sự và năng lực hậu cần.

Trung Quốc là nước sức mạnh tấn công lớn nhất trong khu vực xung quanh Biển Đông và khả năng đó tiếp tục tăng lên nhanh chóng. Lực lượng hải quân của Trung Quốc lên tới 255.000 quân với 75 đơn vị tham chiến, hơn 60 tàu ngầm, 55 tàu đổ bộ loại lớn và loại vừa và khoảng 70 tàu tuần tra có trang bị tên lửa, các radar Sky Wave và Surface Wave OTH; 2 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp SHANG loại 093 và một tàu SSBN lớp JIN, 4 tàu SSN lớp HNN và SSBN lớp XIA và khoảng 13 tàu ngầm chạy bằng động cơ diezel, nước này vẫn tiếp tục tập trung đầu tư trang bị cho lực lực hải quân của mình. Gần đây Trung Quốc đã tiếp nhận 2 tàu khu trục lớp LUYANG II thuộc loại 052C, 2 tàu khu trục lớp LUZHOU thuộc loại 051C có trang bị tên lửa tầm xa đất đối không SA-N-20 của Nga, 4 tàu khinh hạm có trang bị tên lửa dẫn đường lớp JIANGKAI II lớp 054A. Trung Quốc cũng tiếp tục thiết kế tàu chiến lớp HOUBEI loại 022. Hơn 40 tàu tuần tra loại này đã được đưa vào sử dụng. Mỗi tàu có thể mang được 8 tên lửa hành trình đối hạm YJ-83. Đồng thời, Trung Quốc dự kiến sẽ trang bị các tàu ngầm tấn công lớp YUAN. Hiện tại một tàu lớp này đã được đưa vào sử dụng, một chiếc khác đang trong giai đoạn chạy thử và sẽ đóng thêm 15 tàu ngầm lớp YUAN.[1]

Lực lượng không quân Trung Quốc hiện có khoảng 330.000 quân[2] với 490 máy bay như loại máy bay đánh chặn F-7/FISHBED và F-8II/FINBA, 23 máy bay Su-30MK2/FLANKER cho tác chiến trên biển tầm xa. Trung Quốc đã triển khai 8 tiểu đoàn SAM tầm xa (200 km) SA-20 PMU-2 của Nga và Trung Quốc sẽ nhận thêm 8 tiểu đoàn loại này nữa trong vòng 2 năm tới. Đặc biệt, Trung Quốc tiếp tục tập trung phát triển loại máy bay cảnh báo sớm (AEW&C) bao gồm KJ-200 và KJ-2000 để tăng cường khả năng trinh sát trên biển; đồng thời, dự định mua Su-33, 34 máy bay vận tải IL-76 và 4 máy bay tiếp dầu IL-78 của Nga.[3] Đáng chú ý là các lượng lượng hải quân và không quân của Trung Quốc có thể hiệp đồng tác chiến thông qua một hệ thống vệ tinh hiện đại. Trung Quốc có hệ thống vệ tinh do thám phục vụ cho quân sự như: vệ tinh Yaogan 1,2,3,4,5, vệ tinh Haiyang-1B vệ tinh CBERS-2 và 2B. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ lắp đặt thêm 8 vệ tinh mới. Hiện tại, Trung Quốc đang sử dụng hệ thống định vị toàn cầu GPS của Mỹ, GLONASS của Nga và Bắc Đẩu-1; dự kiến, năm 2011, Trung Quốc sẽ triển khai Bắc Đẩu-2.[4]

 

 

Báo cáo cho Quốc hội Mỹ về “Hiện đại hóa Hải quân của Trung Quốc: Hệ lụy cho các khả năng hải quân của Mỹ” năm 2009 cho biết “các nỗ lực hiện đại hóa hải quân bao gồm nhiều chương trình xây dựng vũ khí, bao gồm tên lửa đạn đạo chống tàu chiến, tên lửa đất đối không, mìn, máy bay, tàu ngầm, tàu khu trục, tàu tuần tra, và các tàu đổ bộ. Đáng chú ý nhất là báo cáo cho rằng Trung Quốc sẽ sớm bắt đầu chương trình xây dựng tàu sân bay. Hiện tại Trung Quốc bắt đầu đào tạo 20 phi công lái máy bay cho tàu sân bay, và đang đàm phán với Nga để mua 50 máy bay Su 33.[5] Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ đầu năm 2009, các chuyên gia của Mỹ cho rằng Trung Quốc sẽ không có được tàu sân bay tự đóng có khả năng hoạt động tốt, cùng với đội tàu kèm theo trước 2015. Tuy nhiên, thay đổi trong khả năng đóng tàu của Trung Quốc và sự giúp đỡ từ bên ngoài có thể thay đổi tiến trình này. Trung Quốc dự kiến xây dựng nhiều tàu sân bay từ 2020.[6] Đây thực sự là diễn tiến đáng lo ngại cho các quốc gia Đông Nam Á đang tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ ở Biển Đông. Với khả năng và phạm vi hoạt động của tàu sân bay, hỏa lực, khả năng tác chiến và hậu cần của hải quân Trung Quốc tăng lên gấp bội. Căn cứ quân sự - quốc phòng của các nước khác trên các đảo tại Biển Đông không còn khả năng phòng thủ.

 Đài Loan có một hệ thống phòng thủ hải – không quân mạnh. Mối đe dọa từ Trung Quốc đại lục buộc Đài Loan liên tục tăng cường các khả năng phòng vệ. Chính quyền Đài Loan ưu tiên phát triển các khả năng hải quân và không quân với sự giúp đỡ từ phía Mỹ. Năm 2008, chính quyền Mỹ thông báo họ đã thông qua hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan trị giá 6,4 tỉ USD. Một phần của hợp đồng này được đề xuất từ năm 2001, nhưng bị dừng lại do sự phản đối từ Quốc hội Đài Loan và từ phía Trung Quốc.[7] Như vậy, những vũ khí mới nhất mà Đài Loan mua được từ phía Mỹ gồm: 330 tên lửa Patriot hiện đại (trị giá 3,1 tỉ USD), 30 máy bay trực thăng tấn công Apache, và 32 tên lửa Harpoon, và 182 tên lửa hành trình Javeliin, và 4 hệ thống E-2T.[8] Hiện nay, lực lượng hải quân của Đài Loan gồm 45.000 lính, được trang bị 4 tàu ngầm (loại Hai Lung và Hai Shih), 26 khu trục hạm và 22 tàu chiến, 70 tàu tuần duyên, 12 tàu phóng và phá ngư lôi, 2 tàu đổ bộ. Lực lượng không quân gồm 55.000 lính với 478 máy bay chiến đấu các loại và 34 trực thăng.[9] Lực lượng tên lửa gồm 6 hệ thống tên lửa đất đối không SAM; 6 hệ thống tên lửa PAC -3; 6 hệ thống Tien Kung (Sky Bowl)

Malaysia có lực lượng hải quân và không quân đáng gờm trong khu vực. Lực lượng hải quân của nước này gồm 14.000 quân[10] và đây là một lực lượng nhận được nhiều ưu ái của chính phủ. Mặc dù hiện nay Ma-lai-xia đang sở hữu một lực lượng tàu chiến khá lớn nhưng Malaysia vẫn tiếp tục đề ra những chủ trương phát triển mới mẻ hơn. Đặc biệt và đáng lưu ý nhất là dự án mua 2 tàu ngầm lớp “Scorpene” chạy bằng động cơ diesel. Ngày 03/9, chiếc tàu ngầm đầu tiên đã chính thức về tới Malaysia, đến ngày 17/9 tàu này sẽ về tới căn cứ tàu ngầm tại vịnh Sepanggar. Bộ trưởng Quốc phòng Ma-lai-xi-a Ahmad Zahid đã nhấn mạnh, Ma-lai-xi-a sẽ đề xuất đóng thêm các tàu ngầm mới trong tương lai nếu cần thiết và tài chính cho phép.[11] Điều này chứng tỏ rằng, việc phát triển một hạm đội tàu ngầm đã và đang được Malaysia tiến hành. Đồng thời, hải quân Ma-lai-xi-a cũng đang xem xét khả năng mua trực thăng tuần tra của Hãng Embraer và Lockheed Martin, cũng như kế hoạch mua máy bay không người lái phục vụ tuần tra ở khu vực eo biển Ma-lắc-ca và biển Đông.

Không lực của Ma-lai-xi-a gồm 15.000 quân[12] được hiện đại hóa với những hợp đồng mua trang thiết bị, vũ khí trị giá hàng triệu đô-la với Nga, Pháp và Mỹ. Từ đầu năm 2003, Bộ Quốc phòng Ma-lai-xi-a đã xúc tiến một số dự án mua sắm trang bị như: dự án mua 18 máy bay chiến đấu Su-30MKM mà Ma-lai-xi-a đã ký với Nga tháng 8 năm 2003 với tổng trị giá 900 triệu USD. Trong đó, 6 chiếc đã nhận hồi tháng 09 năm 2007, tiếp đó nhận 6 chiếc vào tháng 11 năm 2008 và 6 chiếc còn lại sẽ nhận vào cuối năm 2009; dự án mua 12 máy bay trực thăng EC-725 của hãng Eurocopter trước năm 2011 để thay thế số máy bay trực thăng loại Nuri S61A-4 đã hết hạn sử dụng; từ năm 2013-2014, không quân Ma-lai-xi-a sẽ tiếp nhận 4 máy bay A-400M của hãng Airbus và một số dự án máy bay khác như: mua 08 máy bay cảnh báo sớm và Chỉ huy trên không (AEWAC), dự án nâng cấp máy bay F/A-18D.[13]

Ngoài những dự án quan trọng trên, Ma-lai-xi-a đã tiếp tục nghiên cứu và tự chế tạo các máy bay không người lái, với mục đích tăng cường khả năng hoạt động tình báo, trinh sát, do thám và chiến đấu cho quân đội. Ngày 3 tháng 8 năm 2009, hãng thông tấn (Bernama) của Malaysia cho biết, đầu năm 2010, quân đội nước này sẽ thực hiện chuyến bay đầu tiên của máy bay không người lái (UAV) loại Aludra. Mà quân đội Malaysia đã triển khai tại khu vực bờ biển Pandanan và Sipadan. Về hệ thống vệ tinh, hiện Ma-lai-xi-a đã đặt mua 9 ra-đa tác chiến của Mỹ nhằm tăng cường khả năng kiểm soát khu vực biển Xa-ba. Loại ra-đa này có chức năng thu thập hình ảnh và truyền dữ liệu về sở chỉ huy tác chiến.

Sức mạnh tấn công trên biển của Việt Nam tương đối hạn chế, cơ cấu lực lượng thiên về hướng phòng thủ. Về hải quân, Việt Nam đang dần hiện đại hóa về số lượng và chất lượng để tăng khả năng chiến đấu cho lực lượng hải quân 13.000 quân[14] của mình. Điển hình như việc Việt Nam tự đóng 3 tàu chiến cỡ nhỏ, đặt mua 5000 thiết bị từ Ấn Độ để tân trang lại ba tàu chiến loại Petya và hiện đại hóa hệ thống ra-đa cứu hộ bờ biển.[15] Việt Nam đang chú trọng đầu tư vào các tàu chiến nhỏ cao tốc, mang tên lửa chống hạm đảm bảo kiểm soát 1000 km vùng lãnh hải như việc đặt mua thêm 2 tàu chiến có khả năng tàng hình, săn tàu ngầm và chống hạm Gepard, cải tiến tàu Molnya, BPS-500… Theo các nguồn tin nước ngoài, Việt Nam đã thương thảo với Nga để mua 6 tàu ngầm tấn công Kilo lớp 636 chạy bằng diesel để tăng cường khả năng phòng thủ.[16] Về không quân, Việt Nam đang tăng cường hiện đại hóa cho lực lượng không quân gồm 30.000 quân[17] của mình. Hiện, Việt Nam có khoảng 64 máy bay công kích (Su-22, 27, 30), 140 máy bay chiến đấu MIG-21, 26 chiếc trực thăng vũ trang Mi-24, 4 chiếc máy bay trinh sát biển Be-12.[18] Tuy nhiên, ngân sách quốc phòng của Việt Nam có vẻ chưa cho phép Việt Nam đặt mua thêm 8 chiếc máy bay chiến đấu Su-30MK mà không lực Việt Nam đang cần để bổ sung vào 4 chiếc Su-30S Việt Nam đã mua vào năm 2004.[19] Có vẻ như đối với Việt Nam, những trang thiết bị phòng thủ của phương Tây là những món đồ đắt tiền. Tuy nhiên, sự sửa đổi những điều khoản trong Các Quy tắc Lưu thông Vũ khí Quốc tế của chính phủ Mỹ tháng 4/2007 cho phép Mỹ xem xét việc xuất khẩu những vũ khí không gây tử vong cho Việt Nam trên cơ sở từng trường hợp cụ thể, mở đường cho các cuộc đàm phán sơ bộ về khả năng bán các trực thăng Chinook CH-47D. Về hệ thống vệ tinh, tháng 4 năm 2008, công ty Arianespace của Pháp đã phóng vệ tinh đầu tiên của Việt Nam, Vinasat-1, từ căn cứ ở Korou, French Guiana. Vệ tinh Vinasat-1 sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường bảo vệ độc lập và an ninh của quân đội Việt Nam cũng như các thông tin vệ tinh dân sự.

Khả năng tấn công và phòng ngự của Phi-lip-pin trên Biển Đông hiện nay là rất yếu so với Trung Quốc và Ma-lay-sia. Về hải quân, theo chương trình hiện đại hóa quân đội Phi-líp-pin, lực lượng hải quân gồm 24.000 người[20] của nước này có thể được tăng cường thêm các tàu mới vào năm 2017. Tổng thống Gloria Arroyo đã chỉ đạo tìm cách đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa Hải quân, không những để tăng cường bảo vệ an ninh chủ quyền biển, đảo mà còn để gìn giữ môi trường an ninh đại dương. Tuy nhiên, theo Bộ Quốc phòng Phi-líp-pin, sẽ phải mất thêm 2 đến 3 năm nữa để các thiết bị này về tới Phi-líp-pin. Về không quân, không lực với 16.000 quân[21] của Phi-líp-pin vừa được trang bị trực thăng chiến đấu có khả năng tác chiến bàn đệm song không phải dành cho chiến lược của Phi-líp-pin trên biển Đông mà để đáp ứng các nhiệm vụ giải quyết lực lượng quân nổi dậy ở miền Nam nước này. Vừa qua, Phi-líp-pin đã tiếp nhận một số trực thăng chiến đấu UH-1H. Năm 2008, Phi-líp-pin đã không thành công với kế hoạch mua 6 trực thăng chiến đấu MD530F loại một động cơ của tập đoàn MD Helicopters. Phi-líp-pin đang cân nhắc việc mua hơn 10 trực thăng AH-1 Cobra mà hải quân Mỹ đang sử dụng. Nhiều khả năng hợp đồng mua sắm máy bay AH-1 Cobra sẽ được hai bên thực hiện vào cuối năm 2009. Ngoài ra, Phi-líp-pin cũng đang nhận được lời đề xuất nâng cấp các máy bay AH-1 của nước này từ I-xra-en.[22]

Tương quan lực lượng khu vực(2007)[23]

Lực lượng quân sự của Bru-nây không phải là mối đe dọa cho lực lượng quân sự của các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trong tranh chấp ở Biển Đông. Quân đội Bru-nây có 7.000 lính trong đó quân số của lục quân là 4.900, của hải quân là 1.000 người, và không quân là 1.100.[24] Ngân sách quốc phòng của B-ru-nây còn rất khiêm tốn so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, trước sức nóng của tình hình trên biển Đông B-ru-nây đang tìm cách hiện đại hóa và kiện toàn sức mạnh quân sự của mình. Ngày 12/10/2008, Quốc vương Brunei, Hassanal Bolkiah, thăm Nga và có các cuộc gặp với các quan chức của Tập đoàn xuất khẩu vũ khí Rosoboronexport để đàm phán về khả năng mua vũ khí của Nga trong tương lai. Tháng 6/2009, các cuộc thử nghiệm trên biển của tàu tuần tra đầu tiên lớp mới dùng cho hải quân Brunei đã được bắt đầu. Tính đến thời điểm này, chưa có bất kỳ công ty nào cũng như lãnh đạo Bru-nây khẳng định chính thức việc kí kết hợp đồng đóng tàu, tuy nhiên các nguồn tin trong tổ hợp công nghiệp quốc phòng Đức cho rằng xưởng đóng tàu của Đức đã nhận được đơn đặt hàng đóng một vài tàu tuần tra từ quốc vương Brunei.

Tóm lại, so sánh từ mọi góc độ của sức mạnh, chúng ta thấy Trung Quốc ở vị thế áp đảo so với các nước và vùng lãnh thổ khác trong tranh chấp ở Biển Đông. Tương quan lực lượng có chiều hướng tiếp tục nghiêng mạnh về phía Trung Quốc trong tương lai với tốc độ tăng trưởng chóng mặt của nền kinh tế và ngân sách quốc phòng của nước này. Điều đáng chú ý là hiện nay, có xu hướng chuyển dịch trong chiến lược của các nước trong khu vực từ “phòng thủ” sang “phòng thủ từ xa”, tích cực mua sắm, sản xuất các vũ khí tối tân, hạng nặng. Trung Quốc luôn lập luận rằng, nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc là nhằm mục tiêu phòng thủ. Tuy nhiên, trong thời gian trở lại đây, Trung Quốc ngày càng có nhiều biểu hiện phô diễn sức mạnh, tăng cường sự hiện diện quân sự ở bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc, và quan chức quân sự nước này công khai nói đến các ý định tiếp tục nâng cấp thực lực quân sự - quốc phòng. Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa đã đã gửi tàu chiến đến vịnh Aden tham gia tấn công cướp biển, tích cực triển khai kế hoạch xây tàu sân bay với tham vọng trở thành cường quốc hải quân. Các học giả Trung Quốc bắt đầu bàn luận về các khả năng triển khai các căn cứ quân sự ở nước ngoài.[25]

 TS. Hoàng Nam

Tải file ấn vào đây Hoàng Nam, Tương quan lực lượng quân sự tại Biển Đông 



[2] Military Balance 2009

[5] Ronald O’Rourke, China Naval Modernization: Implicatioin for US Navy Capabilities – Background and Issues for Congress, CRS Report for Congress, July 2009.

[7] Phipps, G., US deal breaks “freeze” on arms sale to Taiwan, Jane’s Defense Weekly, 10 Dec 2008, p.38.

[8] Overview of Taiwan’s military, xem tại: http://www.globalsecurity.org/military/world/taiwan/intro.htm

[9] Military Balance 2009, tr. 410-412.

[10] The military balance 2009, tr.399.

[12] The military balance 2009, tr.399.

[14] The military balance 2009, tr. 415.

[15] The military balance 2009,  tr. 368

[16] Vietnam Reportedly Set to buy Russian Kilo Class Sub, Defense Industry Daily, 28/4/2009, xem tại: http://www.defenseindustrydaily.com/Vietnam-Reportedly-Set-to-Buy-Russian-Kilo-Class-Subs-05396/ 

[17] The military balance 2009, tr. 415.

[18] The military balance 2009, tr. 416 - 417.

[19] The military balance 2009, tr. 368.

[20] The military balance 2009, tr. 406.

[21] The military balance 2009, tr.406.

[23] Tổng hợp từ Military Balance năm 2008

[24] Military Balance 2009, tr.380.

[25] Changes in Beijing’s Approach to Overseas Basing?, China Brief Volume, Vol.9, No. 19, September 24, 2009.


Tin mới hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Điều cần bảo vệ là luật pháp và thực thi luật pháp

Điều cần bảo vệ là luật pháp và thực thi luật pháp

Cuối tháng bảy, Hội thảo về Biển Đông lần thứ năm - một sự kiện uy tín thường niên của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế của Mỹ (CSIS) tổ chức tại Washington D.C, đã thu hút sự quan tâm của đông đảo học giả, chính giới, báo chí với 400 chỗ tham dự được đặt kín chỉ trong vòng hai ngày thông báo.

Đọc tiếp...

Trục biển Toàn cầu: Chiến lược phát triển mới của Indonesia dưới thời Widodo

Trục biển Toàn cầu: Chiến lược phát triển mới của Indonesia dưới thời Widodo

Với sáng kiến này, Indonesia sẽ theo đuổi một chiến lược hoàn toàn mới so với người tiền nhiệm, lấy biển cả làm trung tâm phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh, và xây dựng văn hóa. Chiến lược này là bước chuyển mạnh mẽ, nhưng phù hợp, bởi Indonesia là xứ sở vạn đảo với đường biển trải dài cả ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Đọc tiếp...

Từ “Thế giới hài hòa nửa mùa” tới “Hiện thực của mối đe dọa Trung Quốc”

Từ “Thế giới hài hòa nửa mùa” tới “Hiện thực của mối đe dọa Trung Quốc”

Cuộc thảo luận giữa Giáo sư Hoàng Tĩnh và cựu Ngoại trưởng Úc Bob Carr hé lộ nhiều điều đáng suy ngẫm về sự chuyển biến từ khái niệm “Thế giới hài hòa” thời ông Hồ Cẩm Đào đến “Hiện thực của mối đe dọa Trung Quốc” thời đại Tập Cận Bình. Đọc tiếp...

Quản lí căng thẳng một cách công bằng ở Biển Đông

Quản lí căng thẳng một cách công bằng ở Biển Đông

Sau mười ba năm, các bên trong tranh chấp vẫn chưa hề tiến được bước nào tới giải pháp cho các tranh chấp. Do đó, điều cần thiết bây giờ là một Bộ Quy tắc ứng xử (COC) không những khắc phục được các điểm yếu của DOC mà còn phải có biện pháp nhằm giải quyết các thách thức mới phát sinh từ năm 2002.

Đọc tiếp...

Việc Trung Quốc xây đảo ồ ạt và UNCLOS

Việc Trung Quốc xây đảo ồ ạt và UNCLOS

Chỉ trong vỏn vẹn một năm, việc Trung Quốc ồ ạt xây dựng các đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa còn đang tranh chấp đã làm thay đổi một cách sâu sắc cục diện địa lí và an ninh ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Hội thảo “Tăng cường hợp tác Việt Nam – Trung Quốc trong vùng Vịnh Bắc Bộ”

Hội thảo “Tăng cường hợp tác Việt Nam – Trung Quốc trong vùng Vịnh Bắc Bộ”

Ngày 11/5/2015, Quỹ Hỗ trợ nghiên cứu Biển Đông đã phối hợp với Học viện Ngoại giao tổ chức Hội thảo “Tăng cường hợp tác Việt Nam-Trung Quốc trong vùng Vịnh Bắc Bộ” tại thành phố Hạ Long.

Đọc tiếp...

Series Bài giảng Luật pháp Quốc tế: Các khía cạnh pháp lý của khu vực nhận diện phòng không

Series Bài giảng Luật pháp Quốc tế: Các khía cạnh pháp lý của khu vực nhận diện phòng không

Trên phương diện luật pháp quốc tế, những quy định và phạm vi nào cho phép việc thiết lập Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ)? Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, ngày 24/4/2015, Tiến sỹ Nguyễn Đăng Thắng, Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Học viện Ngoại giao sẽ có buổi thuyết trình với chủ đề "Các Khía cạnh Pháp lý của Khu vực Nhận diện Phòng không.

Đọc tiếp...

Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông trao giải thưởng cho các bài nghiên cứu và tác phẩm báo chí về Biển Đông

Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông trao giải thưởng cho các bài nghiên cứu và tác phẩm báo chí về Biển Đông

Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông trao giải thưởng cho các bài viết nghiên cứu và tác phẩm báo chí về Biển Đông với tổng giá trị giải thưởng 380 triệu VNĐ, góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết về Biển Đông, phát hiện nhiều vấn đề mới, các gợi ý chính sách giúp bảo vệ chủ quyền và thúc đẩy phát triển của Việt Nam.

Đọc tiếp...

Bão “tích điện” ở Biển Đông

Bão “tích điện” ở Biển Đông

Những ngày đầu tháng 12/2014, Philippines và Việt Nam oằn mình phòng chống siêu bão Habupit. Trên Biển Đông, một cơn bão khác đang tích điện và sẽ tạo ra những hệ quả khó lường cho các chính trị gia. Cơn bão chính trị - pháp lý tranh giành quyền ảnh hưởng trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Tranh chấp Biển Đông: Sự thực hay Điều hư cấu?

Tranh chấp Biển Đông: Sự thực hay Điều hư cấu?

Trong bài viết phản bác các lập luận thiếu khách quan của TS. Mark Valencia, tác giả Dương Danh Huy cho rằng nếu một quốc gia viện dẫn luật quốc tế để biện hộ cho lập trường của mình, trong khi lại tránh né việc đưa lập trường đó ra phân xử tại tòa thì việc sử dụng luật pháp quốc tế như vậy chỉ là lời nói, không xứng đáng có được sự ủng hộ từ phía các học giả.

Đọc tiếp...

Cải tạo đảo: Bước đi thay đổi cục diện ở Biển Đông

Cải tạo đảo: Bước đi thay đổi cục diện ở Biển Đông

Các dự án cải tạo đảo và xây dựng quy mô lớn và chưa có tiền lệ của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa khi hoàn tất sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đối với tranh chấp giữa các bên và cạnh tranh giữa các cường quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Giới thiệu sách mới về Biển Đông

Giới thiệu sách mới về Biển Đông

Nhằm phục vụ độc giả có cái nhìn chân thực hơn về vấn đề Biển Đông, Nghiên cứu Biển Đông xin giới thiệu bộ sách gồm hai cuốn “Biển Đông: Địa chính trị, Lợi ích, Chính sách và Hành động của Các bên liên quan” và “Biển Đông: Quản lý tranh chấp và Định hướng giải pháp”.

Đọc tiếp...

Trung Quốc mở tuyến du lịch Hoàng Sa – không đơn thuần chỉ là du lịch

Trung Quốc mở tuyến du lịch Hoàng Sa – không đơn thuần chỉ là du lịch

Ngày 2/9, Tân Hoa Xã công bố chuyến tàu du lịch tới quần đảo Hoàng Sa. Đây không chỉ là hành động mang ý nghĩa kinh tế mà còn phục vụ mục đích chính trị và trầm trọng hơn, đem lại một số ảnh hướng tiêu cực tới quan hệ Việt – Trung và tới chính Trung Quốc.

Đọc tiếp...

CHXHCN Việt Nam có bị ràng buộc bởi công thư 1958?

CHXHCN Việt Nam có bị ràng buộc bởi công thư 1958?

Cho dù những suy diễn về ý nghĩa của Công thư 1958 có đi xa như thế nào, cũng như phía Trung Quốc có đưa thêm bất kỳ bằng chứng gì, thì những gì liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa xảy ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam trước 24.6.1976 không hề ràng buộc CHXHCN Việt Nam.

Đọc tiếp...

Vạch trần mưu đồ xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc tại Trường Sa

Vạch trần mưu đồ xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc tại Trường Sa

Song song với việc triển khai trái phép giàn khoan HD-981 trên thềm lục địa Việt Nam, Trung Quốc tiến hành mở rộng và xây dựng một số công trình quân sự trên các đảo đá ở Biển Đông nhằm thay đổi cục diện theo hướng có lợi rất lớn cho Trung Quốc.   

Đọc tiếp...

Triển khai giàn khoan tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam – Bốn sai lầm chiến lược của Trung Quốc

Triển khai giàn khoan tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam – Bốn sai lầm chiến lược của Trung Quốc

Bước

Bước
leo thang mới nhất của Trung Quốc ở Biển Đông cho thấy một tính toán sai lầm nghiêm trọng của các nhà hoạch định chính sách nước này. Bắc Kinh đã có 4 sai lầm chiến lược trên biển Đông. 

Đọc tiếp...

Biển Đông trên bàn cờ lớn của Trung Quốc

Biển Đông trên bàn cờ lớn của Trung Quốc

Trước chiến thuật và chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông, khu vực và Mỹ cần có những cách tiếp cận tích cực, cụ thể và hiểu quả để ngăn chặn tham vọng bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Ra mắt Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông

Ra mắt Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông

Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông do Học viện Ngoại giao, Đại sứ Lê Công Phụng, nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia và Đại sứ Nguyễn Đức Hùng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Singapore, Canada, cùng đồng sáng lập và đã được Bộ Nội vụ cấp phép thành lập và công nhận đủ điều kiện hoạt động từ tháng 12 năm 2013. 

Đọc tiếp...

Phim tài liệu: Hoàng Sa - Trường Sa: Nơi ghi dấu hồn thiêng đất Việt

Phim tài liệu: Hoàng Sa - Trường Sa: Nơi ghi dấu hồn thiêng đất Việt

“Hoàng Sa, Trường Sa – Nơi ghi dấu hồn thiêng đất Việt” là nhan đề 2 tập phim tài liệu do Uy ban Biên giới Quốc gia Việt Nam sản xuất với 4 thứ tiếng Việt, Anh, Trung và Pháp chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo. Nghiên cứu Biển Đông xin giới thiệu đền độc giả tập phim tài liệu.

Đọc tiếp...

Thông báo kết quả vòng chấm bài viết tham dự Chương trình Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông lần II

Thông báo kết quả vòng chấm bài viết tham dự  Chương trình Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông lần II

Thông báo về kết quả vòng chấm viết các bài tham dự Chương trình Hỗ trợ nghiên cứu Biển Đông nhằm chọn các bài viết chất lượng vào vòng thuyết trình sẽ được tổ chức tại Học viện Ngoại giao.

Đọc tiếp...

Chính sách Biển Đông của Trung Quốc: Trung ương tập quyền hay cát cứ phân tranh?

Chính sách Biển Đông của Trung Quốc: Trung ương tập quyền hay cát cứ phân tranh?

Bài viết nhìn lại những hoạt động Trung Quốc thời gian gần đây để đánh giá liệu chính sách Biển Đông có phải là kết quả của sự chỉ đạo thống nhất từ Bắc Kinh hay  xuất phát từ sự cạnh tranh của các địa phương và các cơ quan chấp pháp trên biển nhằm tranh giành miếng bánh lợi ích.

Đọc tiếp...

Tam giác Trung Quốc-ASEAN-Mỹ tại Biển Đông: Lợi ích, Chính sách và Tương tác

Tam giác Trung Quốc-ASEAN-Mỹ tại Biển Đông: Lợi ích, Chính sách và Tương tác

Bài tham luận Hội thảo quốc tế lần thứ 4 tại TP. Hồ Chí Minh phân tích các lợi ích và chính sách của Trung Quốc, ASEAN và Mỹ ở Biển Đông, nghiên cứu mối quan hệ giữa tam giác này trong những năm gần đây và đưa ra một số gợi ý cho sự ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Điều lệ quản lý trị an biên phòng ven biển tỉnh Hải Nam 2012 - Sự khác biệt giữa lời nói và văn bản

Điều lệ quản lý trị an biên phòng ven biển tỉnh Hải Nam 2012  - Sự khác biệt giữa lời nói và văn bản

Trong tranh chấp tại Biển Đông, Trung Quốc luôn có chính sách mập mờ khi nói một đằng làm một nẻo nhằm đánh lừa dư luận. Toàn văn Điều lệ Nam Hải 2012 lần này tiếp tục là minh chứng cho cách ứng xử như vậy của Trung Quốc trong tranh chấp.

Đọc tiếp...

Những sai lầm chiến lược của Trung Quốc trên Biển Đông

Những sai lầm chiến lược của Trung Quốc trên Biển Đông

Đối với Trung Quốc, tranh chấp Biển Đông sẽ là thách thức quyết định Trung Quốc có đủ khả năng vươn lên vị trí siêu cường hay không. Đáng tiếc, Trung Quốc vẫn chưa nhận thức hết mức độ tổn hại đến quan hệ với các nước láng giềng do thái độ hung hăng của họ trên Biển Đông gây ra.

Đọc tiếp...

Đường chữ U của Trung Quốc ở biển Đông: phân tích bốn cách diễn giải

Đường chữ U của Trung Quốc ở biển Đông: phân tích bốn cách diễn giải

Việc Trung Quốc yêu sách vùng biển nằm ngoài 12 hải lý tính từ các các đảo tranh chấp ở biển Đông kể từ những năm 1990 và việc họ kèm một bản đồ vẽ đường chữ U trong các công hàm gửi đến Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS) năm 2009 đã làm dấy lên nhiều quan ngại và tranh luận về ý nghĩa của đường này. Bài viết này xem xét một số cách diễn giải có thể có trong bối cảnh Bắc Kinh chưa có một sự giải thích rõ ràng.

Đọc tiếp...

Yêu sách dựa trên quyền lịch sử hay yêu sách theo kiểu tự hành xử

Yêu sách dựa trên quyền lịch sử hay yêu sách theo kiểu tự hành xử

Trong khi Chính phủ Trung Quốc vẫn đang cố tình mập mờ về ý nghĩa và cơ sở pháp lý của đường lưỡi bò, dường như giới học giả đã dọn đường trước bằng một luận điểm “pháp lý” về quyền lịch sử. Vậy quyền lịch sử là gì? 

Đọc tiếp...

Dấu chấm hết cho “sự trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc?

Dấu chấm hết cho “sự trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc?

Chỉ có cách tôn trọng hòa bình, an ninh của khu vực và thế giới cũng như tôn trọng luật pháp quốc tế, Bắc Kinh mới có thể vừa làm giảm căng thẳng tại khu vực, vừa duy trì được sự phát triển trong dài hạn của mình.

Đọc tiếp...

Trung Quốc không còn nhiều "bài" trên Biển Đông

Trung Quốc không còn nhiều

TP - Vừa trở về từ hội thảo an ninh Biển Đông tại Mỹ, TS Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông (Học viện Ngoại giao) có cuộc trao đổi với PV Tiền Phong về quan điểm của các học giả quốc tế trước những căng thẳng trên Biển Đông thời gian qua.

Đọc tiếp...

Tình hình biển Đông căng thẳng hơn trong năm 2012

Tình hình biển Đông căng thẳng hơn trong năm 2012

Những diễn biến mới như căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc xung quanh bãi cạn Scarborough và CNOOC mời thầu tại thềm lục địa Việt Nam là những đề tài được đề cập đến nhiều trong Hội thảo Biển Đông tại Washington DC. Phỏng vấn của RFA với Giám đốc Học viện Ngoại giao Đặng Đình Quý bên lề hội thảo.

Đọc tiếp...

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982: Cơ sở pháp lý quốc tế để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam trên Biển Đông

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982: Cơ sở pháp lý quốc tế để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam trên Biển Đông

Công ước Luật biển 1982 là hiến pháp của biển, là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết các tranh chấp biển, trong đó có phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước xung quanh Biển Đông. Bài viết nhân kỷ niệm 30 năm ngày ký kết và nhân ngày Viêt Nam thông qua Luật biển.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5067 khách Trực tuyến

Đăng nhập