19 - 9 - 2019 | 19:23
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU VIỆT NAM Đường chữ U của Trung Quốc ở biển Đông: phân tích bốn cách diễn giải

Đường chữ U của Trung Quốc ở biển Đông: phân tích bốn cách diễn giải

Email In PDF.

Việc Trung Quốc yêu sách vùng biển nằm ngoài 12 hải lý tính từ các các đảo tranh chấp ở biển Đông kể từ những năm 1990 và việc họ kèm một bản đồ vẽ đường chữ U trong các công hàm gửi đến Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS) năm 2009 đã làm dấy lên nhiều quan ngại và tranh luận về ý nghĩa của đường này. Bài viết này xem xét một số cách diễn giải có thể có trong bối cảnh Bắc Kinh chưa có một sự giải thích rõ ràng.


 

Bối cảnh

Tranh chấp quần đảo Hoàng Sa bắt đầu vào năm 1909 giữa Trung Quốc và Việt Nam, lúc đó do Pháp đại diện, và tranh chấp quần đảo Trường Sa bắt đầu trong thập niên 1930 giữa Pháp và Nhật Bản. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Trung Quốc mới đề ra yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Vào năm 1948 Trung Quốc phát hành một bản đồ với đường chữ U, nhưng lúc đó họ không nói đường đó là yêu sách về vùng biển bên trong đường này.

Tranh chấp đối với vùng biển nằm ngoài 12 hải lý tính từ các quần đảo này chỉ mới bắt đầu khá gần đây.

Trong thập niên 1960, Indonesia và Malaysia bắt đầu đưa ra các tuyên bố chủ quyền đối với thềm lục địa ở phần phía nam biển Đông, và vào năm 1969 hai nước này đã ký kết hiệp định phân giới. Năm 1971 Việt Nam Cộng Hòa đưa ra yêu sách thềm lục địa có chồng lấn với các yêu sách của Malaysia và Indonesia.

Mặc dù khu vực bên trong đường chữ U chồng lấn với các yêu sách thềm lục địa của Indonesia, Malaysia và Việt Nam Cộng Hòa, cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Bắc Kinh lẫn Quốc Dân Đảng ở Đài Bắc đều không phản đối các yêu sách này, không phản đối hiệp ước năm 1969 của Indonesia-Malaysia, và lúc đó họ cũng không đưa ra yêu sách gì về vùng thềm lục địa đó.

Phải tới thập niên 1990, Bắc Kinh mới bắt đầu phản đối các hoạt động dầu khí của Việt Nam ở khu vực Nam Côn Sơn và khu vực bãi Tư Chính (Vanguard Bank), và vào năm 1992 họ ký hợp đồng khảo sát với một công ty Mỹ cho một khu vực rộng 25.000 km² trong vùng bãi Tư Chính. Kể từ đó, các tuyên bố và hành động của Trung Quốc trong việc đòi hỏi vùng biển nằm ngoài 12 hải lý tính từ các đảo tranh chấp ngày càng thêm quyết đoán.

Trong bối cảnh này, việc Trung Quốc kèm bản đồ có vẽ đường chữ U trong các công hàm gửi cho CLCS năm 2009, mà không có lời giải thích nào về ý nghĩa của đường này, đã làm dấy lên rất nhiều tranh luận. Các chuyên gia và các nhà ngoại giao phỏng đoán về Trung Quốc có ý định yêu sách gì bên trong đường đó, và về Trung Quốc có thể sử dụng đường đó thế nào để biện minh cho yêu sách của mình.

Có bốn cách hiểu về đường chữ U đã được đưa ra và sẽ được xem xét ở đây.

Các cách diễn giải đường chữ U

1. Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tuyên bố rằng Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với các đảo bên trong đường chữ U. Theo luật quốc tế, yêu sách đó sẽ bao gồm thêm lãnh hải 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, nếu có, của các đảo này.

Nếu đó là tất cả những gì Trung Quốc đòi hỏi, tức là Trung Quốc không đòi hỏi quyền hạn gì đối với toàn bộ vùng biển bên trong đường chữ U, thì đó sẽ là cách diễn giải đường chữ U ít phi lý và ít phi pháp nhất. Tất nhiên sẽ còn phải xét xem việc Trung Quốc đòi các đảo là có hợp pháp hay không, nhưng nếu đường chữ U chỉ có nghĩa đòi đảo thì nó sẽ chỉ tương đương với việc các nước khác đòi đảo. Tuy nhiên, vấn đề là Trung Quốc không nói đó là tất cả ý nghĩa của đường chữ U.

2. Chính phủ Trung Hoa Dân quốc (tức là nhà chức trách Đài Loan - một chính phủ không được công nhận là đại diện cho quốc gia nào) đã tuyên bố rằng khu vực bên trong đường chữ U là vùng nước lịch sử. Quan điểm này được một số học giả đại lục chia sẻ.

Tuy nhiên, luật quốc tế chưa từng công nhận đòi hỏi nào về các vùng nước lịch sử mà vươn quá xa ra biển và bao gồm một khu vực rộng lớn như vậy. Ngoài ra, không có bằng chứng cho thấy trong lịch sử Trung Quốc đã thực thi chủ quyền trên khu vực được bao bọc bởi đường chữ U. Vì vậy cách giải thích vùng biển bên trong đường chữ U như là vùng nước lịch sử bị luật pháp quốc tế và bằng chứng bác bỏ hoàn toàn. Hơn nữa, vì vùng nước lịch sử thường được bao bọc bên trong đường cơ sở chứ không nằm bên ngoài, việc đòi vùng biên bên trong đường chữ U sẽ không phù hợp với tuyên bố về đường cơ sở do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đưa ra.

3. Các công hàm của Trung Quốc gửi cho CLCS năm 2009, liên quan đến các đệ trình riêng và chung của Việt Nam và Malaysia, đòi chủ quyền đối với các "vùng nước liền kề" các đảo trong biển Đông và quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với "các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy của chúng", có đính kèm một bản đồ có vẽ đường chữ U. Nhưng các công hàm này không hề tuyên bố rằng đường này là ranh giới của bất kỳ vùng nước nào. Năm 2011, Trung Quốc gửi CLCS thêm một công hàm khẳng định rằng "quần đảo Nam Sa của Trung Quốc được hưởng đầy đủ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa". Các công hàm này dường như ủng hộ một cách diễn giải thứ ba: Trung Quốc có ý định đòi hỏi vùng biển bên trong đường chữ U như là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phát sinh từ quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và bãi cạn Scarborough.

Tuy nhiên, đây chỉ là một suy đoán; không có bất kỳ tuyên bố chính thức nào của Trung Quốc xác nhận suy đoán đó. Hơn nữa, với thực tế rằng hầu hết các phần của đường chữ U đều nằm gần các vùng lãnh thổ không có tranh chấp hơn là quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và bãi cạn Scarborough, Trung Quốc sẽ khó có thể biện minh đường này như là một ranh giới cho vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phát sinh từ các cấu trúc địa lý này.

4. Vì Trung Quốc chưa sẵn sàng chấp nhận cách diễn giải thứ nhất, và vì cách diễn giải thứ hai và thứ ba rõ ràng là không phù hợp với luật quốc tế, trong những năm gần đây các học giả Trung Quốc đã đưa ra một cách diễn giải thứ tư. Theo cách diễn giải này, yêu sách của Trung Quốc ở biển Đông bao gồm ba lớp. Ở lớp đầu tiên, Trung Quốc đòi chủ quyền đối với các đảo đang bị tranh chấp. Ở lớp thứ hai, họ yêu sách vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phát sinh từ các đảo này. Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa này có thể không vươn ra đến đường chữ U. Ở lớp thứ ba, Trung Quốc đòi "quyền lịch sử" đối với vùng biển bên ngoài 12 hải lý tính từ các đảo, với đường chữ U là phạm vi, hoặc vừa là cơ sở vừa là phạm vi, cho yêu sách này.

Đường chữ U có thể tạo ra quyền lịch sử?

Hai cách diễn giải thứ nhì và thứ tư khác nhau ở điểm: trong cách diễn giải thứ tư, những người đề xuất không đòi hỏi rằng “quyền lịch sử” trong lớp yêu sách thứ ba phải có nghĩa là chủ quyền lịch sử, hay khu vực bao bởi đường chữ U phải là vùng nước lịch sử. Thay vào đó, những người đề xuất cách diễn giải thứ tư đề nghị rằng các “quyền lịch sử này” không có nghĩa là tuyệt đối hay độc quyền, mà chỉ là quyền được chia sẻ, thậm chí có thể là được ưu tiên trong việc chia sẻ, tài nguyên cho tới sát đường chữ U, dù cho vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của những đảo đang trong tình trạng tranh chấp không vươn ra tới đường này.

Bằng cách lùi một bước và không yêu sách vùng nước lịch sử và chủ quyền tuyệt đối cho toàn bộ khu vực bên trong đường chữ U, có lẽ những người đề xuất cách diễn giải thứ tư hy vọng tránh được tính phi pháp của cách diễn giải thứ nhì, trong khi đó vẫn có cớ để Trung Quốc yêu sách việc chia sẻ tài nguyên tới sát đường chữ U, điều mà họ không thể làm được với cách diễn giải thứ nhất.

Muốn cho cách diễn giải thứ tư, tức là lập luận “quyền lịch sử”, có thể hợp lý, cần phải thỏa mãn hai điều kiện. Thứ nhất, từ trước khi Công ước Luật Biển (UNCLOS) ra đời  Trung Quốc phải đã đạt được quyền lịch sử hợp pháp trên vùng biển nằm ngoài khu vực 12 hải lý của các đảo đang trong tình trạng tranh chấp. Thứ nhì, những quyền lịch sử này phải là những quyền được công nhận bởi công ước đó.

Mặc dù đường chữ U xuất hiện lần đầu tiên trên bản đồ chính thức của Trung Quốc từ năm 1948, Trung Quốc chưa bao giờ tuyên bố rằng đường đó thể hiện một yêu sách về quyền hạn trên biển bên trong đường đó. Thậm chí, trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã cố ý lờ đi những lời yêu cầu làm rõ về ý nghĩa của đường chữ U này.

Vì vậy, cho tới nay đường chữ U vẫn chỉ là một đường trên bản đồ chưa hề có ý nghĩa, và chưa bao giờ được chính thức đưa ra như là một yêu sách về quyền hạn đối với vùng biển phía bên trong nó. Vì đường chữ U chưa bao giờ được tuyên bố là yêu sách cho những quyền hạn nào đó đối với vùng biển bên trong nó, nó không thể là cơ sở pháp lý cho những quyền hạn đó.

Giả sử vào năm 1948 Trung Quốc có tuyên bố rằng đường chữ U là một yêu sách về các quyền trên biển đi nữa, thì theo luật quốc tế vào thời điểm đó, đường đó cũng nằm cách quá xa với các đảo có tranh chấp để được coi là một yêu sách hợp pháp. Vì vậy, đường chữ U đã không bao giờ có thể trở thành một yêu sách hợp pháp về quyền trên biển, và nó chưa bao giờ được công nhận như vậy bởi bất kỳ quốc gia nào.

Liệu có thể có nguồn nào khác là cơ sở cho quyền lịch sử?

Nếu không phải là đường chữ U thì liệu những hoạt động đánh cá truyền thống bởi ngư dân Trung Quốc có thể được coi là cơ sở cho yêu sách về quyền lịch sử trên biển được không?

Cần lưu ý rằng Trung Quốc chắc chắn không thể nào là nước duy nhất có ngư dân đánh cá lâu đời trên biển Đông. Bởi vậy, giả sử việc đánh cá truyền thống có tạo ra những quyền lịch sử nào đó, thì Trung Quốc cũng không phải là nước duy nhất có những quyền này.

Thêm nữa, trong vụ phân xử về thềm lục địa giữa hai nước Libya và Tunisia, Tòa án Công lý Quốc tế đã phán quyết rằng những quyền lịch sử do các hoạt động đánh cá truyền thống là xuất phát từ một cơ chế pháp lý hoàn toàn khác với và không liên quan tới thềm lục địa. Bởi vậy giả sử những hoạt động đánh cá truyền thống trên Biển Đông có thể là lý do để các nước liên quan thỏa thuận tạo ra một khu vực đánh cá chung đi nữa, thì nó cũng không thể tạo ra cơ sở cho những yêu sách đối với thềm lục địa.

Liệu những tuyên bố hay hành động khác của Trung Quốc có thể được coi là cơ sở pháp lý cho yêu sách về quyền lịch sử trên biển không?

Trên thực tế, khi Indonesia và Malaysia đưa ra yêu sách về thềm lục địa ở phía Nam Biển Đông vào thập niên 60, khi hai quốc gia này ký thỏa thuận phân ranh giới vào năm 1969, và khi Việt Nam Cộng Hòa đưa ra yêu sách đối với khu vực này vào năm 1971, Trung Quốc đã không hề phản đối. Phải đến tận thập niên 1990 Trung Quốc mới bắt đầu đưa ra yêu sách về thềm lục địa trong khu vực này. Vì vậy, ở phía Nam của Biển Đông, nếu như có bất cứ quyền lịch sử gì đối với thềm lục địa phía ngoài 12 hải lý tính từ các quần đảo có tranh chấp, thì Indonesia, Malaysia và Việt Nam là những nước có những quyền lịch sử đó chứ không phải Trung Quốc.

Cách diễn giải ít phi pháp nhất

Vì vậy, trong khi có thể tồn tại một số quyền hạn mà một quốc gia đạt được trong thời kỳ tiền UNCLOS trên vùng biển nằm giữa 12 và 200 hải lý có thể ảnh hưởng tới sự phân định ranh giới các khu vực có các quyền lợi đối kháng nhau trong thời kỳ hậu UNCLOS, điều đó cũng không biện minh được cho đường lưỡi bò, vì Trung Quốc đã không hề đạt được những quyền đó.

Kết luận lại, trong ba cách diễn giải về đường chữ U như cơ sở hay giới hạn của những yêu sách đối với toàn bộ vùng biển trong nó (bao gồm yêu sách về vùng nước lịch sử, yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, hay là yêu sách về quyền lịch sử đối với các nguồn tài nguyên), không có cách diễn giải nào có đủ cơ sở pháp lý.

Cách diễn giải ít phi pháp nhất cho đường chữ U là đó chỉ là một yêu sách đối với các quần đảo bên trong đường đó. Tất nhiên dù cách diễn giải thứ nhất là ít phi pháp nhất thì cơ sở pháp lý của nó cũng vẫn yếu hơn cơ sở pháp lý của Việt Nam về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng đó là một đề tài khác. Vấn đề ở đây là cơ sở và phạm vi của bất kỳ yêu sách nào về quyền trên biển cần phải được bắt nguồn từ các quần đảo dựa theo UNCLOS và các phán quyết trước đó của tòa án về phân định biển, chứ không phải từ đường chữ U.

TS. Dương Danh Huy (bài tiếng Anh đăng trên Asia Sentinel)

Phạm Thanh Vân, Phan Văn Song (dịch)

 

 

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Trung Quốc tiến hành khảo sát trên vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa Việt Nam: Một hành vi vi phạm luật pháp quốc tế

Trung Quốc tiến hành khảo sát trên vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa Việt Nam: Một hành vi vi phạm luật pháp quốc tế

Từ ngày 03/7/2019 nhóm tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc xâm phạm Bãi Tư Chính - vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam ở phía nam Biển Đông. Đây là hành động được toan tính kỹ, có lộ trình trong quá trình triển khai chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay.

Đọc tiếp...

Việt Nam sở hữu vũ khí chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo

Việt Nam sở hữu vũ khí chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo

Năng lực quốc phòng bảo vệ chủ quyền biển đảo được nâng cấp, từng bước hiện đại, giúp Việt Nam tăng cường khả năng tự vệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo. Đọc tiếp...

Chiến lược biển: Tỉnh táo với các hành động dưới ngưỡng chiến tranh

Chiến lược biển: Tỉnh táo với các hành động dưới ngưỡng chiến tranh

Các hành động sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông diễn ra với nhiều hình thức rất đa dạng. Việc đối phó với các hành động quân sự đã khó nhưng ứng phó với các hành động dưới ngưỡng chiến tranh còn đòi hỏi sự khéo léo và tỉnh táo ở mức độ lớn hơn. Đọc tiếp...

Biển Đông trong Chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ

Biển Đông trong Chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ

Trên cơ sở chính sách Hành động hướng Đông và sáng kiến chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Ấn Độ đã từng bước tăng cường can dự vào vấn đề Biển Đông đồng thời đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia khu vực trong lĩnh vực hàng hải. Là quốc gia yêu sách chủ chốt, đồng thời là điểm nhấn quan trọng trong chính sách Hành động hướng Đông, Việt Nam đã nhận được nhiều sự quan tâm, hỗ trợ và hợp tác từ Ấn Độ, tạo lòng tin và tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia.

Đọc tiếp...

Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc và vấn đề Biển Đông

Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc và vấn đề Biển Đông

Một số quan điểm cho rằng chính sách quyết đoán của Trung Quốc trên Biển Đông và các vùng biển lân cận khác là do chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng chủ nghĩa dân tộc chỉ là một công cụ Trung Quốc sử dụng để thị uy sức mạnh, qua đó gây sức ép lên các bên yêu sách khác và các cường quốc bên ngoài. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu mối tương quan và tác động qua lại giữa chủ nghĩa dân tộc và chính sách đối ngoại Trung Quốc, đặc biệt là với các khu vực lãnh thổ được coi là tranh chấp là vô cùng cần thiết.

Đọc tiếp...

Bản đồ Đường lưỡi bò liền nét: Khoa học bị lợi dụng, Lịch sử bị bóp méo, Luật pháp bị bẻ cong

Bản đồ Đường lưỡi bò liền nét:  Khoa học bị lợi dụng, Lịch sử bị bóp méo, Luật pháp bị bẻ cong

Dưới sự tài trợ và ủng hộ của chính phủ Trung Quốc, các học giả có lẽ sẽ tiếp tục cần mẫn tìm kiếm và ngụy tạo các chứng cớ lịch sử trên danh nghĩa khoa học. Nếu tiếp tục cố chấp với lỗi lầm của mình, Trung Quốc sẽ tiếp tục lúng túng và bế tắc, càng cố càng sai, càng giải thích, càng đi sâu vào ngõ cụt.

Đọc tiếp...

Chính sách của Nhật Bản đối với Biển Đông: Tác động và triển vọng hợp tác cho Việt Nam

Chính sách của Nhật Bản đối với Biển Đông: Tác động và triển vọng hợp tác cho Việt Nam

Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã tích cực can dự vào vấn đề Biển Đông cũng như thường xuyên triển khai các hoạt động hỗ trợ năng lực cho các nước ven biển, trong đó có Việt Nam. Triển vọng hợp tác hai nước trong tương lai sẽ càng được mở rộng khi cả hai nước cùng hiểu rõ chính sách và nhu cầu của nhau.

Đọc tiếp...

Quan điểm của Nhật Bản về Biển Đông và những tác động đối với Trung Quốc

Quan điểm của Nhật Bản về Biển Đông và những tác động đối với Trung Quốc

Trong thời gian gần đây, Nhật Bản liên tục thể hiện quan điểm kiên quyết, nhất quán về vấn đề Biển Đông, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc đẩy mạnh việc triển khai hoạt động trên Biển Đông. Bài viết sẽ góp phần làm rõ hơn sự can dự của Nhật Bản vào vấn đề Biển Đông và tác động của việc can dự đối với quá trình Trung Quốc triển khai thực hiện chiến lược cường quốc biển.

Đọc tiếp...

Khả năng thành lập Tổ chức Quản lý nghề cá ở Biển Đông

Khả năng thành lập Tổ chức Quản lý nghề cá ở Biển Đông

Nguồn cá ở Biển Đông đang bị suy giảm mạnh. Đồng thời, đây cũng là khu vực chồng chéo các yêu sách biển, gây khó khăn cho ngư dân các nước trong việc thực hiện quyền đánh bắt cá trên vùng biển quốc gia và quốc tế. Để giải quyết vấn đề này, việc thành lập một Tổ chức quản lý nghề cá ở Biển Đông có thể được xét tới như một giải pháp cần thiết và hữu ích.

Đọc tiếp...

Đàm phán COC: Một số câu hỏi ban đầu

Đàm phán COC: Một số câu hỏi ban đầu

Bài viết tập trung phân tích ba câu hỏi, chủ yếu có tính thủ tục và sơ khởi, mà các nhà đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC) sẽ gặp phải trong thời gian tới: (i) tính chất của COC; (ii) COC sẽ được đàm phán giữa một bên là ASEAN và bên kia là Trung Quốc hay là cuộc đàm phán giữa 11 nước; và (iii) mối quan hệ giữa Tuyên bố ứng xử các bên ở Biển Đông năm 2002 và COC dự định ký kết trong thời gian tới.

Đọc tiếp...

Nhìn lại nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong luật pháp quốc tế và vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc

Nhìn lại nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong luật pháp quốc tế và vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc

Không một quốc gia nào phủ nhận nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, nhưng điều này không đồng nghĩa là đã có sự đồng thuận về nội dung của nguyên tắc. Bài viết sẽ đề cập chủ yếu đến những điểm còn tranh cãi. Ngoài ra, bài viết cũng xem xét đến các cam kết giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Thái độ và phản ứng của quốc tế đối với Phán quyết của Tòa Trọng tài về tranh chấp ở Biển Đông và tác động đối với việc giải quyết tranh chấp ở vùng biển này

Thái độ và phản ứng của quốc tế đối với Phán quyết của Tòa Trọng tài về tranh chấp ở Biển Đông và tác động đối với việc giải quyết tranh chấp ở vùng biển này

Phán quyết của Tòa Trọng tài là một văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng, có tầm ảnh hưởng rất lớn. Vì thế, văn kiện này cần được sử dụng làm cơ sở pháp lý cho các cuộc đàm phán giữa các nước có liên quan để giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh chính sách Biển Đông của Trung Quốc sau Phán quyết của Tòa trọng tài

Điều chỉnh chính sách Biển Đông của Trung Quốc sau Phán quyết của Tòa trọng tài

Trung Quốc một mặt bác bỏ phán quyết, một mặt đã có những điều chỉnh trên thực địa và ngoại giao để hạn chế những tác động lan tỏa từ vụ kiện. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc có tính lâu dài hay chỉ là sách lược. Bài viết sẽ phân tích ứng xử của Trung Quốc sau phán quyết để tìm lời giải cho câu hỏi đó.

Đọc tiếp...

Tứ Sa - chiến thuật pháp lý mới của Trung Quốc ở Biển Đông

Tứ Sa - chiến thuật pháp lý mới của Trung Quốc ở Biển Đông

Lập luận Tứ Sa của Trung Quốc bao gồm những nội hàm gì, tại sao lại được đăng tải trên báo chí quốc tế và đưa đến những nhận định trái chiều? Bài viết sẽ tập trung giới thiệu về nguồn gốc, nội hàm của Tứ Sa, đánh giá Tứ Sa dưới góc độ pháp luật quốc tế và tính toán chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Thông cáo Báo chí Đối thoại Biển lần thứ 3 - Luật Quốc tế và Biển Đông

Thông cáo Báo chí Đối thoại Biển lần thứ 3 - Luật Quốc tế và Biển Đông

Ngày 11/06/2018, tại Hà Nội, Học viện Ngoại giao, Quỹ Konrad-Adenauer-Stiftung (Đức) và Đại sứ quán Australia tại Hà Nội đã đồng tổ chức buổi Đối thoại Biển lần thứ ba với chủ đề “Luật quốc tế và Biển Đông”. Đối thoại lần này tập trung thảo luận về tình hình Biển Đông từ góc độ pháp lý và tìm kiếm ý tưởng hợp tác quản lý tranh chấp tại khu vực.

Đọc tiếp...

Thông báo về giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông năm 2018

Thông báo về giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông năm 2018

Thực hiện kế hoạch hoạt động của Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông năm 2018, Quỹ phát động Giải thưởng nghiên cứu biển Đông 2018 nhằm hỗ trợ việc nghiên cứu và viết bài về Biển Đông của các tác giả/nhóm tác giả trong và ngoài nước.

Đọc tiếp...

Thông báo về giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông năm 2018

Thông báo về giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông năm 2018

Thực hiện kế hoạch hoạt động của Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông năm 2018, Quỹ phát động Giải thưởng nghiên cứu biển Đông 2018 nhằm hỗ trợ việc nghiên cứu và viết bài về Biển Đông của các tác giả/nhóm tác giả trong và ngoài nước.

Đọc tiếp...

Lễ trao giải Nghiên cứu Biển Đông năm 2017

Lễ trao giải Nghiên cứu Biển Đông năm 2017


Tham dự Lễ trao giải có Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ- PGS.TS. Đặng Đình Quý, các thành viên trong Ban Sáng lập Quỹ, Hội đồng Quản lý Quỹ, Hội đồng giám khảo, các tác giả có bài viết đạt giải thưởng cùng nhiều khách mời và phóng viên nhà báo thuộc nhiều cơ quan thông tấn trong nước.

Đọc tiếp...

Buổi nói chuyện về Biển Đông của Diễn giả Bill Hayton, Viện Nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh

Buổi nói chuyện về Biển Đông của Diễn giả Bill Hayton, Viện Nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh

Ngày 23/5/2017, Học viện Ngoại giao tổ chức buổi nói chuyện với diễn giả Bill Hayton, Chuyên gia hàng đầu về Biển Đông của Viện Nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh (Chatham House) với chủ đề "Trung Quốc và Biển Đông: Lịch sử, pháp lý và cạnh tranh quyền lực ở Châu Á – Thái Bình Dương".

Đọc tiếp...

Các quan điểm, học thuyết xây dựng chính sách biển cận đại và hiện đại

Các quan điểm, học thuyết xây dựng chính sách biển cận đại và hiện đại

Nghiên cứu những quan điểm, học thuyết để xây dựng hay hoạch định chính sách biển là vấn đề khó nhưng rất căn bản. Nhận thức về biển đảo của chúng ta đúng sẽ có một chính sách biển phù hợp và mang tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.

Đọc tiếp...

Thông báo về Giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông 2017

Thông báo về Giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông 2017

Thực hiện kế hoạch hoạt động của Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông năm 2017, Quỹ phát động Giải thưởng nghiên cứu biển Đông 2017 nhằm hỗ trợ việc nghiên cứu và viết bài về Biển Đông của các tác giả/ nhóm tác giả trong và ngoài nước. Đọc tiếp...

Nhìn lại nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế và vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc

Nhìn lại nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế và vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc

Bài viết đề cập chủ yếu đến những điểm còn tranh cãi trong nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế. Ngoài ra, bài viết cũng xem xét đến các cam kết giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Thái độ và phản ứng của quốc tế đối với phán quyết của Tòa Trọng tài và tác động đối với việc giải quyết tranh chấp ở vùng biển này

Thái độ và phản ứng của quốc tế đối với phán quyết của Tòa Trọng tài và tác động đối với việc giải quyết tranh chấp ở vùng biển này

Bài viết phân tích thái độ và phản ứng của cộng đồng quốc tế đối với Phán quyết của Tòa Trọng tài, tập trung vào những nước có liên quan trực tiếp tới những tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Nội dung phân tích của bài viết nhằm nhận diện những khả năng giải quyết tranh chấp là gì và như thế nào sau Phán quyết của Tòa Trọng tài.

Đọc tiếp...

Một số hội nghị quốc tế liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (1943-1954)

Một số hội nghị quốc tế liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (1943-1954)

Nghiên cứu những tư liệu và chứng cứ cho thấy, rõ ràng là những văn kiện pháp lý quốc tế từ Tuyên bố Cairo năm 1943, Tuyên ngôn Hội nghị Potsdam năm 1945, Hòa ước San Francisco năm 1951 và Hội nghị Geneve năm 1954 đều đã thừa nhận chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đọc tiếp...

FESS tổ chức Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ VIII tại TP. Nha Trang -11/2016

FESS tổ chức Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ VIII tại TP. Nha Trang -11/2016

Từ ngày 13-15/11/2016 tại Thành phố Nha Trang, Học viện Ngoại giao (DAV), Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông (FESS) và Hội Luật Gia Việt Nam (VLA) đồng phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học Quốc tế về Biển Đông lần thứ VIII với chủ đề “ Hợp tác vì an ninh và phát triển khu vực.”

Đọc tiếp...

Phán quyết của Tòa Trọng tài Luật Biển làm lộ rõ Chủ nghĩa dân tộc Nguy hiểm của Trung Quốc

Phán quyết của Tòa Trọng tài Luật Biển làm lộ rõ Chủ nghĩa dân tộc Nguy hiểm của Trung Quốc

Chủ nghĩa dân tộc đang chèo lái sức mạnh của Trung Quốc. Những phản ứng của nước này đối với vụ kiện không hề có dấu hiệu nào cho thấy rằng, việc sử dụng sức mạnh đó để theo đuổi lợi ích quốc gia sẽ bị kiềm chế bởi nhận thức về tính công bằng của luật pháp quốc tế hay bởi sự tôn trọng đối với các quy chuẩn quốc tế.

Đọc tiếp...

Xử lý tranh chấp Pedra Branca: Kinh nghiệm cho Việt Nam trong tranh chấp tại Biển Đông

Xử lý tranh chấp Pedra Branca: Kinh nghiệm cho Việt Nam trong tranh chấp tại Biển Đông

Để chuẩn bị cho việc sử dụng luật pháp quốc tế và các thể chế quốc tế để giải quyết tranh chấp, Việt Nam cần tiếp tục ưu tiên đào tạo đội ngũ chuyên gia về luật quốc tế có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao; chú trọng hơn nữa việc gửi người hoặc vận động gửi người tham gia vào các thể chế quốc tế, trong đó có các cơ quan tài phán quốc tế.

Đọc tiếp...

Bàn về chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc sau đại hội XVIII

Bàn về chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc sau đại hội XVIII

Có nhiều dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang và sẽ đi theo con đường phát triển truyền thống đã thành quy luật của các cường quốc trong lịch sử như Mỹ, Anh, Nhật Bản…Đó là phát triển sức mạnh biển với hải quân làm trung tâm theo tư tưởng của Alfred Mahan, nhưng có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Trung Quốc hiện nay.

Đọc tiếp...

Con đường tơ lụa hay tư lợi trên Biển Đông

Con đường tơ lụa hay tư lợi trên Biển Đông

Sáng kiến con đường tơ lụa trên Biển Đông không năm ngoài chiến thuật ba hướng của Trung Quốc: (1) Pháp điển hóa đường lưỡi bò trong các văn bản quốc gia; (2) Triển khai các hoạt động quấy phá, thăm dò dọc theo đường lưỡi bò để áp đặt quyền quản lý toàn Biển Đông; (3) Tuyên truyền phản ứng mạnh mẽ đối với những phát biểu phê phán Trung Quốc của các nước.

Đọc tiếp...

Ba kịch bản ADIZ của Trung Quốc ở Biển Đông và những hệ quả

Ba kịch bản ADIZ của Trung Quốc ở Biển Đông và những hệ quả

Ba kịch bản ADIZ mà Trung Quốc có thể thiết lập ở Biển Đông là tại Hoàng Sa, Trường Sa và đối với đường 9 đoạn. Nếu ADIZ được Trung Quốc thiết lập thì hệ lụy về mặt ngoại giao, pháp lý sẽ là gì?

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7261 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin