Học viện Ngoại giao thông báo triển khai Chương trình Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông trên toàn quốc. Dự kiến năm 2012 sẽ cấp 20 suất hỗ trợ (mỗi suất 10.000.000VNĐ) cho các nghiên cứu xuất sắc, góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông.
Chương trình được thực hiện nhằm hỗ trợ, khuyến khích các sinh viên đại học và cao học viết chuyên đề nghiên cứu về chủ đề Biển Đông, qua đó thúc đẩy việc nghiên cứu về Biển Đông trong toàn quốc, đồng thời phát hiện các tài năng trẻ, đam mê nghiên cứu về Biển Đông để tiếp tục đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, thúc đẩy hợp tác vì hòa bình và phát triển ở Biển Đông.
Trong năm 2012 chương trình dự kiến cấp 20 suất hỗ trợ (mỗi suất 10.000.000VNĐ) cho các sinh viên, có luận văn tốt nghiệp, hoặc công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến Biển Đông từ các góc độ lịch sử, pháp lý, kinh tế và quan hệ quốc tế, v.v. Tác giả của 3 nghiên cứu xuất sắc nhất sẽ được mời tham gia và trình bày tham luận tại Hội thảo Quốc gia về Biển Đông lần thứ ba dự kiến tổ chức tại Hà Nội vào quý III năm 2012.
Các nghiên cứu gửi đến tham dự Chương trình sẽ được đánh giá và chọn lọc bởi hội đồng xét duyệt bao gồm các chuyên gia hàng đầu trong nước về vấn đề Biển Đông.
Các sinh viên, học viên cao học có thể đăng ký tham gia Chương trình theo Mẫu đăng ký và gửi đến chương trình thông qua Trường/Viện nơi các học viên đang tham gia học tập và nghiên cứu, hoặc gửi trực tiếp đến Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông -Học viện Ngoại Giao (69 Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội).
Thời hạn đăng ký tham gia Chương trình đến 30/4/2012; hạn chót để gửi bài nghiên cứu hoàn chỉnh là 30/7/2012.
Thông tin thêm xin đề nghị liên hệ với Anh Nguyễn Tiến Thịnh, Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, Học viện Ngoại giao.
Bài viết nhìn lại những hoạt động Trung Quốc thời gian gần đây để đánh giá liệu chính sách Biển Đông có phải là kết quả của sự chỉ đạo thống nhất từ Bắc Kinh hay xuất phát từ sự cạnh tranh của các địa phương và các cơ quan chấp pháp trên biển nhằm tranh giành miếng bánh lợi ích.
Bài tham luận Hội thảo quốc tế lần thứ 4 tại TP. Hồ Chí Minh phân tích các lợi ích và chính sách của Trung Quốc, ASEAN và Mỹ ở Biển Đông, nghiên cứu mối quan hệ giữa tam giác này trong những năm gần đây và đưa ra một số gợi ý cho sự ổn định khu vực.
Trong tranh chấp tại Biển Đông, Trung Quốc luôn có chính sách mập mờ khi nói một đằng làm một nẻo nhằm đánh lừa dư luận. Toàn văn Điều lệ Nam Hải 2012 lần này tiếp tục là minh chứng cho cách ứng xử như vậy của Trung Quốc trong tranh chấp.
Đối với Trung Quốc, tranh chấp Biển Đông sẽ là thách thức quyết định Trung Quốc có đủ khả năng vươn lên vị trí siêu cường hay không. Đáng tiếc, Trung Quốc vẫn chưa nhận thức hết mức độ tổn hại đến quan hệ với các nước láng giềng do thái độ hung hăng của họ trên Biển Đông gây ra.
Việc Trung Quốc yêu sách vùng biển nằm ngoài 12 hải lý tính từ các các đảo tranh chấp ở biển Đông kể từ những năm 1990 và việc họ kèm một bản đồ vẽ đường chữ U trong các công hàm gửi đến Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS) năm 2009 đã làm dấy lên nhiều quan ngại và tranh luận về ý nghĩa của đường này. Bài viết này xem xét một số cách diễn giải có thể có trong bối cảnh Bắc Kinh chưa có một sự giải thích rõ ràng.
Trong khi Chính phủ Trung Quốc vẫn đang cố tình mập mờ về ý nghĩa và cơ sở pháp lý của đường lưỡi bò, dường như giới học giả đã dọn đường trước bằng một luận điểm “pháp lý” về quyền lịch sử. Vậy quyền lịch sử là gì?
Những diễn biến mới như căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc xung quanh bãi cạn Scarborough và CNOOC mời thầu tại thềm lục địa Việt Nam là những đề tài được đề cập đến nhiều trong Hội thảo Biển Đông tại Washington DC. Phỏng vấn của RFA với Giám đốc Học viện Ngoại giao Đặng Đình Quý bên lề hội thảo.
Công ước Luật biển 1982 là hiến pháp của biển, là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết các tranh chấp biển, trong đó có phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước xung quanh Biển Đông. Bài viết nhân kỷ niệm 30 năm ngày ký kết và nhân ngày Viêt Nam thông qua Luật biển.
Bài viết của PGS.TS Vũ Dương Huân phân tích bản chất các lập luận của Trung Quốc về cái gọi là "chủ quyền lịch sử”của họ đối với Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển nằm trong đường lưỡi bò.
Bài viết của NCS. Vũ Hải Đăng và TS. Nguyễn Chu Hồi đánh giá về việc xây dựng thể chế liên quan đến những cơ chế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông. Phân tích cho thấy kết quả khá thất vọng trong quá trình xây dựng thể chế bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông và khu vực vẫn còn một quãng đường dài trong vấn đề này.
Phỏng vấn của BBC với Tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, Nhà nghiên cứu duy nhất của Việt Nam tại hội thảo Biển Đông ở Manila ngày 16-17/10, về những thay đổi gần đây trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc và Việt Nam.
Bài viết của TS. Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu Quản lý biển và hải đảo, giới thiệu tổng quan các mô hình hợp tác quốc tế (HTQT) về các khu bảo tồn biển đa quốc gia trên thế giới. Từ việc phân tích những lợi ích của mô hình này, bài viết đề xuất phân chia khu vực biển Việt Nam thành bốn vùng: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, Hoàng Sa, Trường Sa và mô hình HTQT phù hợp qua đó đề xuất xây dựng khu vực Trường Sa thành Công viên biển hòa bình quốc tế.
Bài viết của TS. Đặng Xuân Thanh*, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, phân tích cấu trúc tình huống chiến lược tại Biển Đông, từ đó đưa ra dự báo ngắn hạn và triển vọng dài hạn cho cục diện tình hình ở vùng biển phức tạp này.
Ngày 21 tháng 7 năm 2011, tại Bali – Indonesia, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sau 9 năm đàm phán. Văn bản này được xem là bước tiến trong tiến trình quản lý tranh chấp, tuy nhiều ý kiến bình luận hoài nghi về khả năng kiềm chế các căng thẳng trên Biển Đông. NCBĐ xin giới thiệu bài viết của nhà nghiên cứu Việt Long về quá trình đi từ DOC đến Bản Quy tắc hướng dẫn, từ đó gợi mở các hướng về COC trong tương lai.
Bài viết của Nguyễn Đăng Thắng*, Nghiên cứu sinh luật tại Anh, phân tích những cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước luật biển, mối quan tâm chính trong tranh chấp tại Biển Đông của Phi-lip-pin, từ đó đưa ra những đánh giá triển vọng về việc nước này kiện (nếucó) Trung Quốc, những suy ngẫm và có thể là bài học để Việt Nam tham khảo và xem xét.
Trả lời phỏng vấn của đài ABC của Úc trong bài "Thỏa thuận chung” về vấn đề Biển Đông, TS. Trần Trường Thủy, GĐ Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, cho biết quan điểm của ông về một số vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay như chuyến đi Trung Quốc của Thứ trưởng NG Hồ Xuân Sơn, các thỏa thuận về quản lý Biển Đông như DOC, Bản hướng dẫn thực thi DOC, và mong đợi của Việt Nam tại Hội nghị Bali.
Vụ việc tàu hải giám của Trung Quốc ngang nhiên cắt cáp thăm dò của tàu địa chấn Bình Minh 02 thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đang được dư luận hết sức quan tâm. NCBĐ giới thiệu bài bình luận nóng của tác giả Nguyễn Đăng Thắng, dựa trên Công ước luật biển 1982 và các tiền lệ án quốc tế, phân tích tính phi lý trong hành động của phía Trung Quốc.
Sau những chính sách và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ 2007, vấn đề Biển Đông càng được thu hút bởi dư luận thế giới đặc biệt là Mỹ. Do đó sự căng thẳng của vấn đề Biển Đông cần được xem xét trong tổng thể lợi ích và các mối quan tâm của các nước có liên quan, trước hết là các nước trong khu vực, Trung Quốc và Mỹ.
Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông đã có những thay đổi rõ rệt. Điều này dựa trên mối liên hệ giữa chính sách Biển Đông của Trung Quốc với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay. Do đó chiến lược “giấu mình chờ thời” hay “ ngoại giao hài hòa”nhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn, chủ động và hiếu chiến hơn nhằm gây sức ép với các nước tranh chấp trong khu vực.
Một ngày sau khi có tin Phi-líp-pin gửi thư lên Liên Hiệp Quốc để phản đối yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc, Bắc Kinh lên tiếng nói điều này “không thể chấp nhận được”. Đáp lại công hàm của Phi-líp-pin, Trung Quốc cũng lập tức gửi công hàm ngoại giao lên Liên Hiệp Quốc khẳng định chủ quyền 'không thể chối cãi' ở Biển Đông. Về nội dung công hàm này, các chuyên gia có khá nhiều ý kiến bình luận xung quanh cách giải thích, ngôn từ cũng như ý đồ của Trung Quốc.
Trả lời câu hỏi tại sao Phi-líp-pin lại lên tiếng vào thời điểm này và với công hàm này, tiến trình giải quyết hòa bình các tranh chấp tại Biển Đông liệu sẽ được thúc đẩy hay không, PGS. Nguyễn Hồng Thao đã có bài bình luận toàn diện và chi tiết.
Công hàm của Phi-líp-pin phản đối Đường lưỡi bò và công hàm phản hồi của Trung Quốc gửi Liên Hiệp Quốc trong tháng 4 năm 2011 liên quan đến Biển Đông đã thu hút sự quan tâm và chú ý của dư luận. NCBĐ mời các chuyên gia trong vấn đề Biển Đông tham gia tranh luận trực tuyến về cuộc chiến pháp lý mới này.
Ở phần này bài viết sẽ đi vào phân tích đánh giá những tác nhân đằng sau những thay đổi trong các tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ năm 2007 đến nay. Bài viết đánh giá việc Trung Quốc duy trì chính sách mập mờ về “lợi ích cốt lõi” của mình đối với Biển Đông là để nhằm tránh việc đa phương hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông nhằm hạn chế sự can thiệp của quốc tế đặc biệt là Mỹ, và hơn nữa là nhằm tạo điều kiện có lợi cho mình trong việc sử dụng “sức mạnh mềm” trong giải quyết tranh chấp với các nước trong khu vực này.
Bài viết của hai tác giả Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh*, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông đánh giá những thay đổi về chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ năm 2007 đến nay, giải mã những căng thẳng ở khu vực Biển Đông nhìn từ khía cạnh chính sách và động thái của Trung Quốc.
Đề cập đến mối quan hệ nước lớn - nước nhỏ trong quan hệ quốc tế, PGS.TS Nguyên Vũ Tùng cho rằng "Đối với nước nhỏ, quan hệ với nước lớn chung biên giới luôn là một mối quan hệ khó khăn". Bài nghiên cứu nêu lên nguồn gốc của những khó khăn trong mối quan hệ này, từ đó đưa ra một số khuyến nghị về chính sách đối ngoại của các nước nhỏ đối với nước lớn láng giềng.
Bài viết tổng hợp phân tích về các nhóm lợi ích và ảnh hưởng của các nhóm này đối với quá trình hoặc định chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Qua đó, tác giả rút ra các hệ lụy đối với chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông.
Diễn đàn An ninh khu vực ARF khép lại hồi tháng 7 nhưng dư âm của nó còn kéo dài, làm nóng các trang báo ở các quốc gia liên quan, nhất là xoay quanh vấn đề Biển Đông, và trục quan hệ ASEAN - Trung Quốc - Mỹ.
Cuộc tranh chấp biển Đông vẫn đang là một “nguy cơ” gây bất ổn trong khu vực. Tranh chấp biển Đông đã trở thành một trong những cuộc tranh chấp phức tạp bậc nhất trên thế giới. Sự phức tạp của tranh chấp biển Đông đến từ các yêu sách phức tạp về chủ quyền của nhiều quốc gia đối với các khu vực chồng lấn, vả lại, nó không chỉ đơn thuần là tranh chấp về mặt luật pháp quốc tế về biên giới biển, lãnh thổ trên biển mà hơn thế nữa nó còn được đan xen với những lợi ích về địa – chính trị, về kiểm soát con đường vận tải biển chiến lược, và về khai thác các nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là dầu mỏ.
Sách báo Trung Quốc gần đây thường viện dẫn các địa danh như Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu, Thất Châu Dương... làm minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo giữa Biển Đông đã có từ hàng nghìn năm trước. Các địa danh Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu thật ra chỉ là những địa danh phiếm chỉ một vùng biển đảo nguy hiểm, hư hư, ảo ảo nằm ngoài đảo Hải Nam và đương nhiên là không thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Riêng Thất Châu Dương là vùng biển đảo có thật, được ghi chép rất rõ ràng trong thư tịch và bản đồ cổ Trung Quốc, gần huyện Văn Xương của đảo Hải Nam, thì lại bị người ta cố tình mơ hồ hoá, huyền thoại hoá và đẩy nó ra tận giữa Biển Đông!.