30 - 11 - 2020 | 6:39
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU VIỆT NAM Đằng sau những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông

Đằng sau những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông

Email In PDF.

Ở phần này bài viết sẽ đi vào phân tích đánh giá những tác nhân đằng sau những thay đổi trong các tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ năm 2007 đến nay. Bài viết đánh giá việc Trung Quốc duy trì chính sách mập mờ về “lợi ích cốt lõi” của mình đối với Biển Đông là để nhằm tránh việc đa phương hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông nhằm hạn chế sự can thiệp của quốc tế đặc biệt là Mỹ, và hơn nữa là nhằm tạo điều kiện có lợi cho mình trong việc sử dụng “sức mạnh mềm” trong giải quyết tranh chấp với các nước trong khu vực này.

 

(Phần 1)

Dễ nhìn thấy rằng tuyên bố và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông trong thời gian từ năm 2007 trở lại đây có yếu tố tiếp biến chính sách giai đoạn trước. Sự tiếp biến thể hiện dưới hình thức sử dụng tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trong phạm vi đường lưỡi bò, triển khai các hoạt động thăm dò, chủ trương giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán song phương, phản đối quốc tế hóa, trong khi đó chủ động khai thác dầu khí ở Biển Đông, nhưng lại phản đối hành động thăm dò và khai thác của các quốc gia khác trong phạm vi đường đứt khúc chín đoạn, đơn phương áp đặt lệnh cấm bắt cá, ngăn cản và bắt giữ tàu thuyền và ngư dân của các quốc gia khác hoạt động tại vùng biển, tiến hành các hoạt động nhằm củng cố các công trình dân sự và quân sự của Trung Quốc tại các đảo đã chiếm đóng… Các quan chức và học giả Trung Quốc tiếp tục cổ súy, vận động các quốc gia tranh chấp khác ủng hộ chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở những vùng biển nằm trong phạm vi thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của các bên tranh chấp khác.

Theo Joshua Kurlantzick, trong những năm đầu của thập kỷ vừa qua, Trung Quốc đã ít đả động đến yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông, trong khi đẩy mạnh thực hiện cuộc tấn công quyến rũ bằng “sức mạnh mềm”, phát triển mối quan hệ kinh tế, ngoại giao và kể cả an ninh gần gũi với các quốc gia Đông Nam Á. Thế nhưng gần đây, cách tiếp cận “mềm mỏng” đó dường như đã bị bỏ qua.[1] Bên cạnh việc vừa tiếp tục các tranh cãi về chủ quyền, vừa chủ động đàm phán song phương, Bắc Kinh đồng thời đẩy mạnh xây dựng lực lượng hải quân tác chiến, tranh thủ mọi cơ hội biểu dương sức mạnh, phớt lờ việc thực hiện DOC và đẩy mạnh triển khai các biện pháp nhằm kiểm soát thực tế trên các vùng biển mà Trung Quốc yếu sách chủ quyền theo hướng chính thức, khẳng định và thách thức hơn. Hành động của Trung Quốc mang tính chủ động, tự tin hơn, một mặt khoanh vùng và phát huy ảnh hưởng ở Biển Đông, ngăn chặn ảnh hưởng, sự can dự của các nước lớn khác, mặt khác sử dụng “nắm đấm thép bọc nhung” để hăm dọa các bên khác trong tranh chấp. Trung Quốc đã cho cải hoán các tàu quân sự thành tàu tuần tra dân sự, điều một số tàu này đến hoạt động ở Biển Đông.[2] Việc Trung Quốc tăng cường hiện diện trên Biển Đông đồng nghĩa với việc các ngư dân và tàu khảo sát của các nước khác trong khu vực hoạt động ở Biển Đông sẽ đụng độ nhiều hơn với các tàu Trung Quốc lớn hơn và được trang bị tốt hơn, trong đó có tàu Ngư Chính 311 (Yuzheng 311).[3] Thực tế cho thấy, các tàu tuần ngư khổng lồ của Trung Quốc không ngại đụng độ trên biển. Bên cạnh đó, các hoạt động mạnh mẽ và quy mô chưa từng thấy của các lực lượng Hải quân Trung Quốc tại Biển Đông cho thấy Hải quân Trung Quốc luôn sẵn sàng chiến đấu, khiến các quốc gia khác không khỏi e dè.[4]

Điều đáng chú ý là từ năm 2007 đến nay, các bên tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông khác cũng tiếp tục có các động thái củng cố cơ sở hạ tầng, tuyên truyền về yêu sách chủ quyền, đẩy mạnh tuần tra, trinh sát trên biển... Có thể kể đến việc Đài Loan đã hoàn thành công trình đường băng trên đảo Ba Bình, cựu lãnh đạo Đài Loan Trần Thủy Biển ra thăm đảo và nêu “Đề xướng Nam Sa”. Trong năm 2008, Phi-lip-pin từng bước hoàn tất các thủ tục nội bộ để thông qua Dự luật về đường cơ sở mới, và ngày 10/3/2009, Tổng thống nước này ký ban hành Luật đường cơ sở mới của Phi-lip-pin (RA9522) trong đó quy thuộc các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào lãnh thổ Phi-lip-pin. Ma-lai-xi-a khẳng định yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng chuyến thăm của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng (ngày 12/8/2008) và của Thủ tướng nước này (ngày 05/03/2009) đến đảo đá Hoa Lau.

Thực trạng đó đặt ra câu hỏi: Thái độ cứng rắn, hành động tự tin và quyết liệt của Trung Quốc tại Biển Đông từ năm 2007 đến nay là kết quả của (i) việc điều chỉnh chủ động trong chiến lược biển và chính sách của Trung Quốc với tranh chấp tại Biển Đông hay không, hay đó chỉ là (ii) những phản ứng của Trung Quốc đối với động thái của các quốc gia khác trong tranh chấp, hay là (iii) “động thái ném đá dò đường”, phép thử đối với phản ứng của các quốc gia khác, hay chỉ là (iv) hành động vượt quá thẩm quyền, có tính nhất thời của các lực lượng hải quân hoặc tuần duyên của Trung Quốc? Đáng chú ý, trong các cuộc trao đổi gần đây với học giả Việt Nam, học giả Trung Quốc khẳng định chính sách của Trung Quốc đối với các nước láng giềng nói chung và với các tranh chấp ở Biển Đông không hề thay đổi, rằng có sự hiểu nhầm do báo chí phương Tây.

Diễn biến ủng hộ cho lập luận thứ hai là việc Trung Quốc công khai “đường lưỡi bò” để phản đối báo cáo về ranh giới ngoài của thềm lục địa của Việt Nam và Ma-lai-xi-a (2009). Tuy nhiên, khó có thể tìm thấy mối liên hệ nhân quả giữa các hành động khác của các quốc gia khác và sự hung hăng bất thường của Trung Quốc từ cuối năm 2007 đến nay. Khả năng thứ tư vẫn còn để ngỏ bởi Trung Quốc chưa bao giờ công khai quy trình hoạch định chính sách và chính trị nội bộ của họ. Trong phát biểu của mình tại Hội thảo quốc tế lần thứ hai về Biển Đông, học giả Leszek Buszynski bày tỏ lo ngại về sự không minh bạch trong quá trình ra quyết sách trong chính trị nội bộ của Trung Quốc, thế áp đảo của phe quân sự trong nền chính trị ở Bắc Kinh, và ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.[5] Khả năng thứ ba có thể được loại bỏ vì hành động của Trung Quốc có vẻ ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt hơn bất chấp sự phản đối, nghi ngại của cộng đồng quốc tế và các nước trong khu vực.

Xem xét kỹ những hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2007 đến nay cho thấy khả năng thứ nhất (i) hợp lý hơn cả. Lý do đơn giản là các biện pháp mà Trung Quốc triển khai có cường độ mạnh và thái độ quyết liệt “bất bình thường”, có sự phối hợp đồng bộ chặt chẽ của nhiều ngành, nhiều lực lượng, và được đưa tin, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhiều dấu hiệu cho thấy với sức mạnh kinh tế và quân sự tăng lên nhanh chóng, Trung Quốc đang phấn đấu vươn lên trở thành một cường quốc toàn cầu, trong đó coi Biển Đông vừa là mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ hải quân chiến lược và nằm trong phạm vi ảnh hưởng sống còn của Trung Quốc, vừa là cửa ngõ chiến lược để đi ra thế giới. Thêm nữa, sự mạnh bạo của Trung Quốc ở Biển Đông diễn ra đồng thời với thái độ và hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông, mở rộng hoạt động của hải quân Trung Quốc ở biển E-den…

Bằng chứng rõ rệt nhất là giới tinh hoa chính trị của Trung Quốc “đánh tiếng” nâng cấp Biển Đông trở thành khu vực “lợi ích cốt lõi”[6] (hạch tâm quyền lợi) của Trung Quốc.[7] Theo tin tức báo chí quốc tế, Trung Quốc lần đầu tiên coi vấn đề Biển Đông thuộc “lợi ích cốt lõi” trong chuyến thăm Trung Quốc của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Steinberge vào tháng 3/2010. Tuy từ đó đến nay, chưa thấy lãnh đạo Trung Quốc có phát biểu công khai nói Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” và học giả Trung Quốc tham dự Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần hai cũng khẳng định điều này,[8] nhưng khi báo chí trong và ngoài Trung Quốc rầm rộ đưa tin,[9] các kênh nhà nước của Trung Quốc cũng không có phản đối hay đính chính chính thức. Liệu điều đó có hàm ý rằng giới lãnh đạo và tinh hoa chính trị của Trung Quốc ngầm ủng hộ một quan niệm như vậy?  

Ngụ ý của việc quan chức Trung Quốc mập mờ phổ biến khái niệm lợi ích quốc gia cốt lõi đối với Biển Đông là Bắc Kinh sẽ không cho phép thảo luận hay đặt vấn đề đối với những chính sách của họ và có lẽ sẽ đẩy lùi sự hiện diện của quân đội của các cường quốc khác ở ngoài khơi mạnh hơn bao giờ hết. Trong những năm gần đây, Bắc Kinh cũng đã cảnh báo những công ty dầu lửa của Hoa Kỳ không được tham gia các thỏa thuận thăm dò hỗn hợp ở Biển Đông với Việt Nam. Và cũng có tin là họ đã nói với các quốc gia Đông Nam Á không thảo luận những vấn đề liên quan đến biển Đông với nhau.[10]

Việc Trung Quốc có ý duy trì khái niệm mơ hồ về lợi ích cốt lõi có thể khiến các nước trong tranh chấp lo sợ rằng: (i) có phải Bắc Kinh vừa tạo không gian để áp dụng tiêu chuẩn kép, một mặt đòi các cường quốc khác tuân thủ cái gốc là vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, mặt khác lại duy trì đòi hỏi phi lý về đường lưỡi bò đối với các nước trong tranh chấp trực tiếp?; (ii) liệu có phải Bắc Kinh tạo tâm lý răn đe dùng vũ lực, ép các nước liên quan chấp nhận giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” có lợi cho Trung Quốc.

Không thể phủ nhận Trung Quốc có những lợi ích hữu hình quan trọng ở Biển Đông như: (i) đường biển quan trọng vận chuyển hàng hóa phục vụ phát triển kinh tế: số lượng dầu nhập khẩu chiếm 50% nhu cầu trong nước, trong đó 70% số dầu nhập khẩu này phải vận chuyển qua Biển Đông; (ii) các nguồn tài nguyên biển, trong đó quan trọng nhất là dầu khí và hải sản để phục vụ cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thái độ và hành động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2007 đến nay cho thấy giới chính trị - quân sự Bắc Kinh nhìn nhận Biển Đông chủ yếu ở góc độ địa chính trị và địa chiến lược. Theo đó, Biển Đông là không gian lợi ích sống còn, là cửa ngõ để tiến xuống khu vực Đông Nam Á, và vươn xa hơn trở thành cường quốc đại dương. Một loạt hành động như trên trong thời gian gần đây có thể được hiểu là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đặt toàn bộ Biển Ðông dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc, không chỉ để bảo vệ quyền lợi về dầu lửa và tài nguyên biển của họ, mà còn vì lý do chiến lược và quân sự, chẳng hạn như để ngăn chặn bất kỳ hành động can thiệp nào của lực lượng Mỹ trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến Đài Loan.[11]

Mong muốn kiểm soát Biển Đông, biến khu vực này trở thành “ao nhà” ngày càng trở nên rõ ràng qua nhiều tuyên bố, biện pháp và hành động mạnh bạo có tính áp đặt và mạnh bạo nhằm khẳng định chủ quyền pháp lý cùng khả năng kiểm soát biển trên thực tế. Tuy nhiên, Biển Đông còn có ý nghĩa là khu vực ảnh hưởng sống còn, và là cửa ngõ chiến lược đầu tiên để Trung Quốc đi ra thế giới. Việc các lực lượng quân sự của Trung Quốc mạnh dạn chặn các tàu của Mỹ, thử phản ứng của Mỹ với đề nghị chia khu vực ảnh hưởng ở Thái Bình Dương, đe dọa và bắt bớ các tàu thuyền của các nước tranh chấp, xây dựng căn cứ tàu ngầm chiến lược ở Tam Á là những minh chứng rõ ràng về quan niệm của giới chính trị và quân sự Bắc Kinh về tầm quan trọng của Biển Đông và tương lai của vùng biển này trong chiến lược cường quốc của Trung Quốc.

Sự điều chỉnh cách tiếp cận của Trung Quốc là nguyên nhân cơ bản khiến quan hệ giữa Trung Quốc và các nước tranh chấp khác trở nên căng thẳng. Sau năm năm ra đời, Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) giữa Trung Quốc và các nước ASEAN không đủ để ngăn tranh chấp Biển Đông ngày càng nóng và trở thành nguy cơ hiện hữu đối với hòa bình, ổn định ở khu vực và tình hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, rõ ràng là Trung Quốc vẫn chưa đủ sức mạnh chính trị và quân sự để kiểm soát toàn bộ Biển Đông và không muốn căng thẳng biến thành bất ổn, xung đột quân sự. Do đó, lãnh đạo Trung Quốc luôn trấn an các nước trong khu vực và kêu gọi cần phải có hòa bình, ổn định, và hợp tác. Tại buổi họp báo sáng ngày 6/01/2010 ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường nói rằng “chúng ta đã thiết lập cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển, thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, thúc đẩy tiến trình đàm phán. Để giải quyết tranh chấp, hai bên cần xuất phát từ đại cục, toàn cục và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, tạm gác lại tranh chấp, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường, thuận lợi của quan hệ hai nước. Tôi nghĩ đây là cách làm phù hợp nhất”.[12] Thông điệp “giữ đại cục” này cũng được nhắc đi nhắc lại trong nhiều cuộc trao đổi giữa học giả Trung Quốc và Việt Nam, với lập luận Trung Quốc còn phải đối phó với nhiều khó khăn trong nội bộ của nước này, đặc biệt là các vấn đề phát triển và xã hội.

Nghịch lý là, Trung Quốc trước hết sử dụng luận điểm “giữ đại cục” để trấn an các nước vừa và nhỏ trong khu vực, trong khi tiếp tục duy trì sự mập mờ trong chính sách an ninh biển và sử dụng nhiều chiến thuật khác nhau để giành thế chủ động và quyền kiểm soát thực tế ở Biển Đông. Giáo sư Carlyle A. Thayer cho rằng Trung Quốc đang cố tình theo đuổi một chính sách mập mờ có tính toán trong vấn đề này và sẽ trì hoãn việc giải quyết các tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau cho đến thời điểm mà Bắc Kinh cảm thấy thích hợp.[13] Thứ hai, đó là chiến thuật “salami”, thực hiện chính sách “lấn dần từng bước”, đảm bảo đạt được sự kiểm soát tình hình, mà không làm cho các bên yêu sách cùng dư luận quốc tế phản ứng thái quá. Bắc Kinh luôn kết hợp cứng và mềm, sẵn sàng đàm phán khi cần thiết, nhưng cũng sẵn sàng vứt bỏ “cam kết” khi cần. Thứ ba, Trung Quốc kiên trì đàm phán song phương, phản đối đa phương hóa và quốc tế hóa. Theo cách đó, Trung Quốc có thể “chia để trị” và luôn duy trì được thế áp đảo đối với đối phương. Ít có khả năng Trung Quốc tham gia các cơ chế an ninh hợp tác, nơi đó Trung Quốc phải chấp nhận vị thế và lợi ích ngang bằng với các quốc gia khác. và yếu hơn mình, tránh được sự nhòm ngó của quốc tế.[14]

Đọc phần tiếp theo “Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.



[1] Joshua Kurlantzick, “Avoiding a Tempest in the South China Sea”, Expert Brief, Council on Foreign Relations, September 2, 2010, xem tại: http://www.cfr.org/china/avoiding-tempest-south-china-sea/p22858.

[2] Yuzheng 311, 303 start escort in South China Sea, Sina English, 26 November 2009, xem tại: http://english.sina.com/china/p/2009/1126/288553.html,

[3] Peter Brown, Calculated ambiguity in the South China Sea, Asia Times, 8 December 2009, xem tại: http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/KL08Ae01.html

[4] xem thêm: Bước phát triển mới của Hải quân Trung Quốc, BBC Vietnamese, ngày 12/5/2010, xem tại: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/05/100512_china_navy_strategy.shtml

[5] Leszek Buszynski, “Rising Tensions in the South China and Implications for Regional Security”, Tham luận tại Hội thảo quốc tế: “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển ở khu vực”, tổ chức tháng 11/2010 tại thành phố Hồ Chí Minh.

[6] Một thuật ngữ mà nước này thường dùng trong quá khứ để đề cập đến vấn đề Đài Loan, Tây Tạng, và Tân Cương.

[7] Cary Huang, “A bolder China asserts 'core' interests - but will it act?”, South China Morning Post, August 12, 2010, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/china_asserts_core_interest.htm,

[8] GS. Tô Hạo khẳng định tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông tại thành phố Hồ Chí Minh (11/2010): Trung Quốc chưa bao giờ sử dụng thuật ngữ “lợi ích cốt lõi” trong các tài liệu chính thức.

[9] Các báo China Daily, Global Times, và một số tạp chí của Trung Quốc đều có tin bài của học giả Trung Quốc nêu nội dung này. Báo China Daily ngày 30/7/2010 đăng bài của Ai Yang nhấn mạnh “Nam Hải là một trong những lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Tạp chí Thế giới Tri thức (thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc) số ngày 16/8 đăng bài của học giả Trung Quốc khẳng định vào tháng 3 năm 2010, Trung Quốc đã nêu rõ với phía Mỹ rằng Nam Hải liên quan đến “lợi ích cốt lõi” về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc.

[10] Joshua Kurlandtzick, “Avoiding a Tempeset in the South China Sea”, Expert Brief on Council on Foreign Relations Website, September 2, 2010, retrieved on October 10, 2010 at http://www.cfr.org/publication/22858/avoiding_a_tempest_in_the_south_china_sea.html

[11] Trọng Nghĩa, “Nhìn từ Nhật Bản: Phải buộc Trung Quốc đàm phán đa phương về Biển Đông”, RFI, ngày 11/10/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100827-nhin-tu-nhat-ban-phai-buoc-trung-quoc-dam-phan-da-phuong-ve-bien-dong.

[12] “Chờ điều kiện chín muồi để giải quyết tranh chấp Biển Đông”, VNN phỏng vấn Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường, xem tại http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201001/Cho-dieu-kien-chin-muoi-giai-quyet-tranh-chap-bien-Dong-888092/ ngày 11/9/2010.

[14] “Trung Quốc chống quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông”, RFI, ngày 25/7/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20100725-trung-quoc-chong-viec-quoc-te-hoa-tranh-chap-bien-dong, ngày 19/9/2010.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Kế hoạch khai thác thương mại nguồn tài nguyên băng cháy trên Biển Đông của Trung Quốc liệu có thành hiện thực?

Kế hoạch khai thác thương mại nguồn tài nguyên băng cháy trên Biển Đông của Trung Quốc liệu có thành hiện thực?

Nội dung bài viết bao quát lịch sử quá trình từ khi Trung Quốc manh nha thúc đẩy ý tưởng nghiên cứu băng cháy trên Biển Đông; cho đến hiện trạng khai thác hiện nay để làm rõ thực chất Trung Quốc đã đi đến bước nào trong tiến trình khai thác một loại năng lượng mới ở trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Một số vấn đề về quần đảo ngoài khơi của quốc gia lục địa và thực tiễn ở Biển Đông

Một số vấn đề về quần đảo ngoài khơi của quốc gia lục địa và thực tiễn ở Biển Đông

Gần đây, nảy sinh một số ý tưởng “xét lại” cho rằng UNCLOS 1982 không phải là toàn bộ luật biển quốc tế và nhiều vấn đề không được điều chỉnh bởi UNCLOS. Lập luận cổ xúy “quần đảo ngoài khơi của quốc gia lục địa” là một ví dụ. Bài viết này sẽ nhằm đánh giá liệu có tồn tại một tập quán quốc tế điều chỉnh vấn đề quần đảo ngoài khơi của quốc gia lục địa hay không.

Đọc tiếp...

Tàu hải cảnh Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam tại Hoàng Sa là vi phạm luật pháp quốc tế

Tàu hải cảnh Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam tại Hoàng Sa là vi phạm luật pháp quốc tế

Dưới góc nhìn luật pháp quốc tế, bài viết sẽ cung cấp quan điểm chính thức từ hai bên cũng như ý kiến từ bên thứ ba để thấy rõ tính chất đáng lo ngại của động thái hung hăng của Trung Quốc, nhất là khi cả thế giới đang phải đối đầu với đại dịch Covid-19.

Đọc tiếp...

Giá cho thuê mặt biển của Việt Nam còn thấp

Giá cho thuê mặt biển của Việt Nam còn thấp

Trao đổi với phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam, TS. Dư Văn Toán - Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo Việt Nam cho rằng, đơn giá cho thuê biển theo quy định tại Thông tư liên tịch số 198/2015/TTLT-BTC-BTNMT là quá thấp. Giá thấp sẽ khiến ngân sách nhà nước bị thất thu khoản này.

Đọc tiếp...

Điện gió ngoài khơi: Bước đột phá để phát triển kinh tế biển Việt Nam

Điện gió ngoài khơi: Bước đột phá để phát triển kinh tế biển Việt Nam

Biến đổi khí hậu với phần lớn là phát thải khí nhà kính đang khiến cho Việt Nam khó tiếp cận mục tiêu thiên niên kỷ là đảm bảo phát triển kinh tế trong môi trường bền vững. Giải pháp đột phá lúc này chính là xu hướng phát triển năng lượng xanh, trong đó có điện gió ngoài khơi.

Đọc tiếp...

Biển Đông năm 2019 và dự báo trong thời gian tới

Biển Đông năm 2019 và dự báo trong thời gian tới

Biển Đông trong năm 2019 đã có những diễn biến phức tạp khi Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác bất chấp các quy định của luật pháp quốc tế. Dự báo, trong năm 2020 và những năm tiếp theo tình hình ở Biển Đông sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp do cạnh tranh giữa các nước lớn sẽ ngày càng gay gắt.

Đọc tiếp...

Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển UNCLOS và 25 năm thực thi Công ước tại Việt Nam

Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển UNCLOS và 25 năm thực thi Công ước tại Việt Nam

Trong một phần tư thế kỷ qua, Công ước UNCLOS đã cung cấp một khung pháp lý toàn diện cho việc hợp tác sử dụng hòa bình và bền vững các vùng biển, đại dương và tài nguyên biển. Công ước khẳng định các vấn đề của biển và đại dương có liên quan chặt chẽ với nhau và phải được giải quyết một cách tổng thể. Thực thi hiệu quả và toàn diện các quy định của Công ước sẽ đưa nhân loại vượt qua các thách thức, xây dựng một hành tinh xanh, hòa bình và thịnh vượng. Công ước là công cụ pháp lý không thể thiếu cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì một trật tự pháp lý biển công bằng và phát triển bền vững. 

Đọc tiếp...

Trung Quốc tiến hành khảo sát trên vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa Việt Nam: Một hành vi vi phạm luật pháp quốc tế

Trung Quốc tiến hành khảo sát trên vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa Việt Nam: Một hành vi vi phạm luật pháp quốc tế

Từ ngày 03/7/2019 nhóm tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc xâm phạm Bãi Tư Chính - vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam ở phía nam Biển Đông. Đây là hành động được toan tính kỹ, có lộ trình trong quá trình triển khai chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay.

Đọc tiếp...

Việt Nam sở hữu vũ khí chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo

Việt Nam sở hữu vũ khí chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo

Năng lực quốc phòng bảo vệ chủ quyền biển đảo được nâng cấp, từng bước hiện đại, giúp Việt Nam tăng cường khả năng tự vệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo. Đọc tiếp...

Chiến lược biển: Tỉnh táo với các hành động dưới ngưỡng chiến tranh

Chiến lược biển: Tỉnh táo với các hành động dưới ngưỡng chiến tranh

Các hành động sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông diễn ra với nhiều hình thức rất đa dạng. Việc đối phó với các hành động quân sự đã khó nhưng ứng phó với các hành động dưới ngưỡng chiến tranh còn đòi hỏi sự khéo léo và tỉnh táo ở mức độ lớn hơn. Đọc tiếp...

Biển Đông trong Chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ

Biển Đông trong Chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ

Trên cơ sở chính sách Hành động hướng Đông và sáng kiến chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Ấn Độ đã từng bước tăng cường can dự vào vấn đề Biển Đông đồng thời đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia khu vực trong lĩnh vực hàng hải. Là quốc gia yêu sách chủ chốt, đồng thời là điểm nhấn quan trọng trong chính sách Hành động hướng Đông, Việt Nam đã nhận được nhiều sự quan tâm, hỗ trợ và hợp tác từ Ấn Độ, tạo lòng tin và tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia.

Đọc tiếp...

Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc và vấn đề Biển Đông

Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc và vấn đề Biển Đông

Một số quan điểm cho rằng chính sách quyết đoán của Trung Quốc trên Biển Đông và các vùng biển lân cận khác là do chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng chủ nghĩa dân tộc chỉ là một công cụ Trung Quốc sử dụng để thị uy sức mạnh, qua đó gây sức ép lên các bên yêu sách khác và các cường quốc bên ngoài. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu mối tương quan và tác động qua lại giữa chủ nghĩa dân tộc và chính sách đối ngoại Trung Quốc, đặc biệt là với các khu vực lãnh thổ được coi là tranh chấp là vô cùng cần thiết.

Đọc tiếp...

Bản đồ Đường lưỡi bò liền nét: Khoa học bị lợi dụng, Lịch sử bị bóp méo, Luật pháp bị bẻ cong

Bản đồ Đường lưỡi bò liền nét:  Khoa học bị lợi dụng, Lịch sử bị bóp méo, Luật pháp bị bẻ cong

Dưới sự tài trợ và ủng hộ của chính phủ Trung Quốc, các học giả có lẽ sẽ tiếp tục cần mẫn tìm kiếm và ngụy tạo các chứng cớ lịch sử trên danh nghĩa khoa học. Nếu tiếp tục cố chấp với lỗi lầm của mình, Trung Quốc sẽ tiếp tục lúng túng và bế tắc, càng cố càng sai, càng giải thích, càng đi sâu vào ngõ cụt.

Đọc tiếp...

Chính sách của Nhật Bản đối với Biển Đông: Tác động và triển vọng hợp tác cho Việt Nam

Chính sách của Nhật Bản đối với Biển Đông: Tác động và triển vọng hợp tác cho Việt Nam

Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã tích cực can dự vào vấn đề Biển Đông cũng như thường xuyên triển khai các hoạt động hỗ trợ năng lực cho các nước ven biển, trong đó có Việt Nam. Triển vọng hợp tác hai nước trong tương lai sẽ càng được mở rộng khi cả hai nước cùng hiểu rõ chính sách và nhu cầu của nhau.

Đọc tiếp...

Quan điểm của Nhật Bản về Biển Đông và những tác động đối với Trung Quốc

Quan điểm của Nhật Bản về Biển Đông và những tác động đối với Trung Quốc

Trong thời gian gần đây, Nhật Bản liên tục thể hiện quan điểm kiên quyết, nhất quán về vấn đề Biển Đông, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc đẩy mạnh việc triển khai hoạt động trên Biển Đông. Bài viết sẽ góp phần làm rõ hơn sự can dự của Nhật Bản vào vấn đề Biển Đông và tác động của việc can dự đối với quá trình Trung Quốc triển khai thực hiện chiến lược cường quốc biển.

Đọc tiếp...

Khả năng thành lập Tổ chức Quản lý nghề cá ở Biển Đông

Khả năng thành lập Tổ chức Quản lý nghề cá ở Biển Đông

Nguồn cá ở Biển Đông đang bị suy giảm mạnh. Đồng thời, đây cũng là khu vực chồng chéo các yêu sách biển, gây khó khăn cho ngư dân các nước trong việc thực hiện quyền đánh bắt cá trên vùng biển quốc gia và quốc tế. Để giải quyết vấn đề này, việc thành lập một Tổ chức quản lý nghề cá ở Biển Đông có thể được xét tới như một giải pháp cần thiết và hữu ích.

Đọc tiếp...

Đàm phán COC: Một số câu hỏi ban đầu

Đàm phán COC: Một số câu hỏi ban đầu

Bài viết tập trung phân tích ba câu hỏi, chủ yếu có tính thủ tục và sơ khởi, mà các nhà đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC) sẽ gặp phải trong thời gian tới: (i) tính chất của COC; (ii) COC sẽ được đàm phán giữa một bên là ASEAN và bên kia là Trung Quốc hay là cuộc đàm phán giữa 11 nước; và (iii) mối quan hệ giữa Tuyên bố ứng xử các bên ở Biển Đông năm 2002 và COC dự định ký kết trong thời gian tới.

Đọc tiếp...

Nhìn lại nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong luật pháp quốc tế và vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc

Nhìn lại nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong luật pháp quốc tế và vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc

Không một quốc gia nào phủ nhận nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, nhưng điều này không đồng nghĩa là đã có sự đồng thuận về nội dung của nguyên tắc. Bài viết sẽ đề cập chủ yếu đến những điểm còn tranh cãi. Ngoài ra, bài viết cũng xem xét đến các cam kết giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Thái độ và phản ứng của quốc tế đối với Phán quyết của Tòa Trọng tài về tranh chấp ở Biển Đông và tác động đối với việc giải quyết tranh chấp ở vùng biển này

Thái độ và phản ứng của quốc tế đối với Phán quyết của Tòa Trọng tài về tranh chấp ở Biển Đông và tác động đối với việc giải quyết tranh chấp ở vùng biển này

Phán quyết của Tòa Trọng tài là một văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng, có tầm ảnh hưởng rất lớn. Vì thế, văn kiện này cần được sử dụng làm cơ sở pháp lý cho các cuộc đàm phán giữa các nước có liên quan để giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh chính sách Biển Đông của Trung Quốc sau Phán quyết của Tòa trọng tài

Điều chỉnh chính sách Biển Đông của Trung Quốc sau Phán quyết của Tòa trọng tài

Trung Quốc một mặt bác bỏ phán quyết, một mặt đã có những điều chỉnh trên thực địa và ngoại giao để hạn chế những tác động lan tỏa từ vụ kiện. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc có tính lâu dài hay chỉ là sách lược. Bài viết sẽ phân tích ứng xử của Trung Quốc sau phán quyết để tìm lời giải cho câu hỏi đó.

Đọc tiếp...

Tứ Sa - chiến thuật pháp lý mới của Trung Quốc ở Biển Đông

Tứ Sa - chiến thuật pháp lý mới của Trung Quốc ở Biển Đông

Lập luận Tứ Sa của Trung Quốc bao gồm những nội hàm gì, tại sao lại được đăng tải trên báo chí quốc tế và đưa đến những nhận định trái chiều? Bài viết sẽ tập trung giới thiệu về nguồn gốc, nội hàm của Tứ Sa, đánh giá Tứ Sa dưới góc độ pháp luật quốc tế và tính toán chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Thông cáo Báo chí Đối thoại Biển lần thứ 3 - Luật Quốc tế và Biển Đông

Thông cáo Báo chí Đối thoại Biển lần thứ 3 - Luật Quốc tế và Biển Đông

Ngày 11/06/2018, tại Hà Nội, Học viện Ngoại giao, Quỹ Konrad-Adenauer-Stiftung (Đức) và Đại sứ quán Australia tại Hà Nội đã đồng tổ chức buổi Đối thoại Biển lần thứ ba với chủ đề “Luật quốc tế và Biển Đông”. Đối thoại lần này tập trung thảo luận về tình hình Biển Đông từ góc độ pháp lý và tìm kiếm ý tưởng hợp tác quản lý tranh chấp tại khu vực.

Đọc tiếp...

Thông báo về giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông năm 2018

Thông báo về giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông năm 2018

Thực hiện kế hoạch hoạt động của Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông năm 2018, Quỹ phát động Giải thưởng nghiên cứu biển Đông 2018 nhằm hỗ trợ việc nghiên cứu và viết bài về Biển Đông của các tác giả/nhóm tác giả trong và ngoài nước.

Đọc tiếp...

Thông báo về giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông năm 2018

Thông báo về giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông năm 2018

Thực hiện kế hoạch hoạt động của Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông năm 2018, Quỹ phát động Giải thưởng nghiên cứu biển Đông 2018 nhằm hỗ trợ việc nghiên cứu và viết bài về Biển Đông của các tác giả/nhóm tác giả trong và ngoài nước.

Đọc tiếp...

Lễ trao giải Nghiên cứu Biển Đông năm 2017

Lễ trao giải Nghiên cứu Biển Đông năm 2017


Tham dự Lễ trao giải có Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ- PGS.TS. Đặng Đình Quý, các thành viên trong Ban Sáng lập Quỹ, Hội đồng Quản lý Quỹ, Hội đồng giám khảo, các tác giả có bài viết đạt giải thưởng cùng nhiều khách mời và phóng viên nhà báo thuộc nhiều cơ quan thông tấn trong nước.

Đọc tiếp...

Buổi nói chuyện về Biển Đông của Diễn giả Bill Hayton, Viện Nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh

Buổi nói chuyện về Biển Đông của Diễn giả Bill Hayton, Viện Nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh

Ngày 23/5/2017, Học viện Ngoại giao tổ chức buổi nói chuyện với diễn giả Bill Hayton, Chuyên gia hàng đầu về Biển Đông của Viện Nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh (Chatham House) với chủ đề "Trung Quốc và Biển Đông: Lịch sử, pháp lý và cạnh tranh quyền lực ở Châu Á – Thái Bình Dương".

Đọc tiếp...

Các quan điểm, học thuyết xây dựng chính sách biển cận đại và hiện đại

Các quan điểm, học thuyết xây dựng chính sách biển cận đại và hiện đại

Nghiên cứu những quan điểm, học thuyết để xây dựng hay hoạch định chính sách biển là vấn đề khó nhưng rất căn bản. Nhận thức về biển đảo của chúng ta đúng sẽ có một chính sách biển phù hợp và mang tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.

Đọc tiếp...

Thông báo về Giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông 2017

Thông báo về Giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông 2017

Thực hiện kế hoạch hoạt động của Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông năm 2017, Quỹ phát động Giải thưởng nghiên cứu biển Đông 2017 nhằm hỗ trợ việc nghiên cứu và viết bài về Biển Đông của các tác giả/ nhóm tác giả trong và ngoài nước. Đọc tiếp...

Nhìn lại nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế và vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc

Nhìn lại nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế và vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc

Bài viết đề cập chủ yếu đến những điểm còn tranh cãi trong nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế. Ngoài ra, bài viết cũng xem xét đến các cam kết giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Thái độ và phản ứng của quốc tế đối với phán quyết của Tòa Trọng tài và tác động đối với việc giải quyết tranh chấp ở vùng biển này

Thái độ và phản ứng của quốc tế đối với phán quyết của Tòa Trọng tài và tác động đối với việc giải quyết tranh chấp ở vùng biển này

Bài viết phân tích thái độ và phản ứng của cộng đồng quốc tế đối với Phán quyết của Tòa Trọng tài, tập trung vào những nước có liên quan trực tiếp tới những tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Nội dung phân tích của bài viết nhằm nhận diện những khả năng giải quyết tranh chấp là gì và như thế nào sau Phán quyết của Tòa Trọng tài.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 3092 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin