19 - 5 - 2012 | 10:14
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU VIỆT NAM Đằng sau những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông

Đằng sau những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông

Email In PDF.

Ở phần này bài viết sẽ đi vào phân tích đánh giá những tác nhân đằng sau những thay đổi trong các tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ năm 2007 đến nay. Bài viết đánh giá việc Trung Quốc duy trì chính sách mập mờ về “lợi ích cốt lõi” của mình đối với Biển Đông là để nhằm tránh việc đa phương hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông nhằm hạn chế sự can thiệp của quốc tế đặc biệt là Mỹ, và hơn nữa là nhằm tạo điều kiện có lợi cho mình trong việc sử dụng “sức mạnh mềm” trong giải quyết tranh chấp với các nước trong khu vực này.

 

(Phần 1)

Dễ nhìn thấy rằng tuyên bố và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông trong thời gian từ năm 2007 trở lại đây có yếu tố tiếp biến chính sách giai đoạn trước. Sự tiếp biến thể hiện dưới hình thức sử dụng tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trong phạm vi đường lưỡi bò, triển khai các hoạt động thăm dò, chủ trương giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán song phương, phản đối quốc tế hóa, trong khi đó chủ động khai thác dầu khí ở Biển Đông, nhưng lại phản đối hành động thăm dò và khai thác của các quốc gia khác trong phạm vi đường đứt khúc chín đoạn, đơn phương áp đặt lệnh cấm bắt cá, ngăn cản và bắt giữ tàu thuyền và ngư dân của các quốc gia khác hoạt động tại vùng biển, tiến hành các hoạt động nhằm củng cố các công trình dân sự và quân sự của Trung Quốc tại các đảo đã chiếm đóng… Các quan chức và học giả Trung Quốc tiếp tục cổ súy, vận động các quốc gia tranh chấp khác ủng hộ chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở những vùng biển nằm trong phạm vi thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của các bên tranh chấp khác.

Theo Joshua Kurlantzick, trong những năm đầu của thập kỷ vừa qua, Trung Quốc đã ít đả động đến yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông, trong khi đẩy mạnh thực hiện cuộc tấn công quyến rũ bằng “sức mạnh mềm”, phát triển mối quan hệ kinh tế, ngoại giao và kể cả an ninh gần gũi với các quốc gia Đông Nam Á. Thế nhưng gần đây, cách tiếp cận “mềm mỏng” đó dường như đã bị bỏ qua.[1] Bên cạnh việc vừa tiếp tục các tranh cãi về chủ quyền, vừa chủ động đàm phán song phương, Bắc Kinh đồng thời đẩy mạnh xây dựng lực lượng hải quân tác chiến, tranh thủ mọi cơ hội biểu dương sức mạnh, phớt lờ việc thực hiện DOC và đẩy mạnh triển khai các biện pháp nhằm kiểm soát thực tế trên các vùng biển mà Trung Quốc yếu sách chủ quyền theo hướng chính thức, khẳng định và thách thức hơn. Hành động của Trung Quốc mang tính chủ động, tự tin hơn, một mặt khoanh vùng và phát huy ảnh hưởng ở Biển Đông, ngăn chặn ảnh hưởng, sự can dự của các nước lớn khác, mặt khác sử dụng “nắm đấm thép bọc nhung” để hăm dọa các bên khác trong tranh chấp. Trung Quốc đã cho cải hoán các tàu quân sự thành tàu tuần tra dân sự, điều một số tàu này đến hoạt động ở Biển Đông.[2] Việc Trung Quốc tăng cường hiện diện trên Biển Đông đồng nghĩa với việc các ngư dân và tàu khảo sát của các nước khác trong khu vực hoạt động ở Biển Đông sẽ đụng độ nhiều hơn với các tàu Trung Quốc lớn hơn và được trang bị tốt hơn, trong đó có tàu Ngư Chính 311 (Yuzheng 311).[3] Thực tế cho thấy, các tàu tuần ngư khổng lồ của Trung Quốc không ngại đụng độ trên biển. Bên cạnh đó, các hoạt động mạnh mẽ và quy mô chưa từng thấy của các lực lượng Hải quân Trung Quốc tại Biển Đông cho thấy Hải quân Trung Quốc luôn sẵn sàng chiến đấu, khiến các quốc gia khác không khỏi e dè.[4]

Điều đáng chú ý là từ năm 2007 đến nay, các bên tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông khác cũng tiếp tục có các động thái củng cố cơ sở hạ tầng, tuyên truyền về yêu sách chủ quyền, đẩy mạnh tuần tra, trinh sát trên biển... Có thể kể đến việc Đài Loan đã hoàn thành công trình đường băng trên đảo Ba Bình, cựu lãnh đạo Đài Loan Trần Thủy Biển ra thăm đảo và nêu “Đề xướng Nam Sa”. Trong năm 2008, Phi-lip-pin từng bước hoàn tất các thủ tục nội bộ để thông qua Dự luật về đường cơ sở mới, và ngày 10/3/2009, Tổng thống nước này ký ban hành Luật đường cơ sở mới của Phi-lip-pin (RA9522) trong đó quy thuộc các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào lãnh thổ Phi-lip-pin. Ma-lai-xi-a khẳng định yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng chuyến thăm của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng (ngày 12/8/2008) và của Thủ tướng nước này (ngày 05/03/2009) đến đảo đá Hoa Lau.

Thực trạng đó đặt ra câu hỏi: Thái độ cứng rắn, hành động tự tin và quyết liệt của Trung Quốc tại Biển Đông từ năm 2007 đến nay là kết quả của (i) việc điều chỉnh chủ động trong chiến lược biển và chính sách của Trung Quốc với tranh chấp tại Biển Đông hay không, hay đó chỉ là (ii) những phản ứng của Trung Quốc đối với động thái của các quốc gia khác trong tranh chấp, hay là (iii) “động thái ném đá dò đường”, phép thử đối với phản ứng của các quốc gia khác, hay chỉ là (iv) hành động vượt quá thẩm quyền, có tính nhất thời của các lực lượng hải quân hoặc tuần duyên của Trung Quốc? Đáng chú ý, trong các cuộc trao đổi gần đây với học giả Việt Nam, học giả Trung Quốc khẳng định chính sách của Trung Quốc đối với các nước láng giềng nói chung và với các tranh chấp ở Biển Đông không hề thay đổi, rằng có sự hiểu nhầm do báo chí phương Tây.

Diễn biến ủng hộ cho lập luận thứ hai là việc Trung Quốc công khai “đường lưỡi bò” để phản đối báo cáo về ranh giới ngoài của thềm lục địa của Việt Nam và Ma-lai-xi-a (2009). Tuy nhiên, khó có thể tìm thấy mối liên hệ nhân quả giữa các hành động khác của các quốc gia khác và sự hung hăng bất thường của Trung Quốc từ cuối năm 2007 đến nay. Khả năng thứ tư vẫn còn để ngỏ bởi Trung Quốc chưa bao giờ công khai quy trình hoạch định chính sách và chính trị nội bộ của họ. Trong phát biểu của mình tại Hội thảo quốc tế lần thứ hai về Biển Đông, học giả Leszek Buszynski bày tỏ lo ngại về sự không minh bạch trong quá trình ra quyết sách trong chính trị nội bộ của Trung Quốc, thế áp đảo của phe quân sự trong nền chính trị ở Bắc Kinh, và ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.[5] Khả năng thứ ba có thể được loại bỏ vì hành động của Trung Quốc có vẻ ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt hơn bất chấp sự phản đối, nghi ngại của cộng đồng quốc tế và các nước trong khu vực.

Xem xét kỹ những hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2007 đến nay cho thấy khả năng thứ nhất (i) hợp lý hơn cả. Lý do đơn giản là các biện pháp mà Trung Quốc triển khai có cường độ mạnh và thái độ quyết liệt “bất bình thường”, có sự phối hợp đồng bộ chặt chẽ của nhiều ngành, nhiều lực lượng, và được đưa tin, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhiều dấu hiệu cho thấy với sức mạnh kinh tế và quân sự tăng lên nhanh chóng, Trung Quốc đang phấn đấu vươn lên trở thành một cường quốc toàn cầu, trong đó coi Biển Đông vừa là mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ hải quân chiến lược và nằm trong phạm vi ảnh hưởng sống còn của Trung Quốc, vừa là cửa ngõ chiến lược để đi ra thế giới. Thêm nữa, sự mạnh bạo của Trung Quốc ở Biển Đông diễn ra đồng thời với thái độ và hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông, mở rộng hoạt động của hải quân Trung Quốc ở biển E-den…

Bằng chứng rõ rệt nhất là giới tinh hoa chính trị của Trung Quốc “đánh tiếng” nâng cấp Biển Đông trở thành khu vực “lợi ích cốt lõi”[6] (hạch tâm quyền lợi) của Trung Quốc.[7] Theo tin tức báo chí quốc tế, Trung Quốc lần đầu tiên coi vấn đề Biển Đông thuộc “lợi ích cốt lõi” trong chuyến thăm Trung Quốc của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Steinberge vào tháng 3/2010. Tuy từ đó đến nay, chưa thấy lãnh đạo Trung Quốc có phát biểu công khai nói Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” và học giả Trung Quốc tham dự Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần hai cũng khẳng định điều này,[8] nhưng khi báo chí trong và ngoài Trung Quốc rầm rộ đưa tin,[9] các kênh nhà nước của Trung Quốc cũng không có phản đối hay đính chính chính thức. Liệu điều đó có hàm ý rằng giới lãnh đạo và tinh hoa chính trị của Trung Quốc ngầm ủng hộ một quan niệm như vậy?  

Ngụ ý của việc quan chức Trung Quốc mập mờ phổ biến khái niệm lợi ích quốc gia cốt lõi đối với Biển Đông là Bắc Kinh sẽ không cho phép thảo luận hay đặt vấn đề đối với những chính sách của họ và có lẽ sẽ đẩy lùi sự hiện diện của quân đội của các cường quốc khác ở ngoài khơi mạnh hơn bao giờ hết. Trong những năm gần đây, Bắc Kinh cũng đã cảnh báo những công ty dầu lửa của Hoa Kỳ không được tham gia các thỏa thuận thăm dò hỗn hợp ở Biển Đông với Việt Nam. Và cũng có tin là họ đã nói với các quốc gia Đông Nam Á không thảo luận những vấn đề liên quan đến biển Đông với nhau.[10]

Việc Trung Quốc có ý duy trì khái niệm mơ hồ về lợi ích cốt lõi có thể khiến các nước trong tranh chấp lo sợ rằng: (i) có phải Bắc Kinh vừa tạo không gian để áp dụng tiêu chuẩn kép, một mặt đòi các cường quốc khác tuân thủ cái gốc là vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, mặt khác lại duy trì đòi hỏi phi lý về đường lưỡi bò đối với các nước trong tranh chấp trực tiếp?; (ii) liệu có phải Bắc Kinh tạo tâm lý răn đe dùng vũ lực, ép các nước liên quan chấp nhận giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” có lợi cho Trung Quốc.

Không thể phủ nhận Trung Quốc có những lợi ích hữu hình quan trọng ở Biển Đông như: (i) đường biển quan trọng vận chuyển hàng hóa phục vụ phát triển kinh tế: số lượng dầu nhập khẩu chiếm 50% nhu cầu trong nước, trong đó 70% số dầu nhập khẩu này phải vận chuyển qua Biển Đông; (ii) các nguồn tài nguyên biển, trong đó quan trọng nhất là dầu khí và hải sản để phục vụ cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thái độ và hành động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2007 đến nay cho thấy giới chính trị - quân sự Bắc Kinh nhìn nhận Biển Đông chủ yếu ở góc độ địa chính trị và địa chiến lược. Theo đó, Biển Đông là không gian lợi ích sống còn, là cửa ngõ để tiến xuống khu vực Đông Nam Á, và vươn xa hơn trở thành cường quốc đại dương. Một loạt hành động như trên trong thời gian gần đây có thể được hiểu là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đặt toàn bộ Biển Ðông dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc, không chỉ để bảo vệ quyền lợi về dầu lửa và tài nguyên biển của họ, mà còn vì lý do chiến lược và quân sự, chẳng hạn như để ngăn chặn bất kỳ hành động can thiệp nào của lực lượng Mỹ trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến Đài Loan.[11]

Mong muốn kiểm soát Biển Đông, biến khu vực này trở thành “ao nhà” ngày càng trở nên rõ ràng qua nhiều tuyên bố, biện pháp và hành động mạnh bạo có tính áp đặt và mạnh bạo nhằm khẳng định chủ quyền pháp lý cùng khả năng kiểm soát biển trên thực tế. Tuy nhiên, Biển Đông còn có ý nghĩa là khu vực ảnh hưởng sống còn, và là cửa ngõ chiến lược đầu tiên để Trung Quốc đi ra thế giới. Việc các lực lượng quân sự của Trung Quốc mạnh dạn chặn các tàu của Mỹ, thử phản ứng của Mỹ với đề nghị chia khu vực ảnh hưởng ở Thái Bình Dương, đe dọa và bắt bớ các tàu thuyền của các nước tranh chấp, xây dựng căn cứ tàu ngầm chiến lược ở Tam Á là những minh chứng rõ ràng về quan niệm của giới chính trị và quân sự Bắc Kinh về tầm quan trọng của Biển Đông và tương lai của vùng biển này trong chiến lược cường quốc của Trung Quốc.

Sự điều chỉnh cách tiếp cận của Trung Quốc là nguyên nhân cơ bản khiến quan hệ giữa Trung Quốc và các nước tranh chấp khác trở nên căng thẳng. Sau năm năm ra đời, Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) giữa Trung Quốc và các nước ASEAN không đủ để ngăn tranh chấp Biển Đông ngày càng nóng và trở thành nguy cơ hiện hữu đối với hòa bình, ổn định ở khu vực và tình hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, rõ ràng là Trung Quốc vẫn chưa đủ sức mạnh chính trị và quân sự để kiểm soát toàn bộ Biển Đông và không muốn căng thẳng biến thành bất ổn, xung đột quân sự. Do đó, lãnh đạo Trung Quốc luôn trấn an các nước trong khu vực và kêu gọi cần phải có hòa bình, ổn định, và hợp tác. Tại buổi họp báo sáng ngày 6/01/2010 ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường nói rằng “chúng ta đã thiết lập cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển, thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, thúc đẩy tiến trình đàm phán. Để giải quyết tranh chấp, hai bên cần xuất phát từ đại cục, toàn cục và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, tạm gác lại tranh chấp, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường, thuận lợi của quan hệ hai nước. Tôi nghĩ đây là cách làm phù hợp nhất”.[12] Thông điệp “giữ đại cục” này cũng được nhắc đi nhắc lại trong nhiều cuộc trao đổi giữa học giả Trung Quốc và Việt Nam, với lập luận Trung Quốc còn phải đối phó với nhiều khó khăn trong nội bộ của nước này, đặc biệt là các vấn đề phát triển và xã hội.

Nghịch lý là, Trung Quốc trước hết sử dụng luận điểm “giữ đại cục” để trấn an các nước vừa và nhỏ trong khu vực, trong khi tiếp tục duy trì sự mập mờ trong chính sách an ninh biển và sử dụng nhiều chiến thuật khác nhau để giành thế chủ động và quyền kiểm soát thực tế ở Biển Đông. Giáo sư Carlyle A. Thayer cho rằng Trung Quốc đang cố tình theo đuổi một chính sách mập mờ có tính toán trong vấn đề này và sẽ trì hoãn việc giải quyết các tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau cho đến thời điểm mà Bắc Kinh cảm thấy thích hợp.[13] Thứ hai, đó là chiến thuật “salami”, thực hiện chính sách “lấn dần từng bước”, đảm bảo đạt được sự kiểm soát tình hình, mà không làm cho các bên yêu sách cùng dư luận quốc tế phản ứng thái quá. Bắc Kinh luôn kết hợp cứng và mềm, sẵn sàng đàm phán khi cần thiết, nhưng cũng sẵn sàng vứt bỏ “cam kết” khi cần. Thứ ba, Trung Quốc kiên trì đàm phán song phương, phản đối đa phương hóa và quốc tế hóa. Theo cách đó, Trung Quốc có thể “chia để trị” và luôn duy trì được thế áp đảo đối với đối phương. Ít có khả năng Trung Quốc tham gia các cơ chế an ninh hợp tác, nơi đó Trung Quốc phải chấp nhận vị thế và lợi ích ngang bằng với các quốc gia khác. và yếu hơn mình, tránh được sự nhòm ngó của quốc tế.[14]

Đọc phần tiếp theo “Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.



[1] Joshua Kurlantzick, “Avoiding a Tempest in the South China Sea”, Expert Brief, Council on Foreign Relations, September 2, 2010, xem tại: http://www.cfr.org/china/avoiding-tempest-south-china-sea/p22858.

[2] Yuzheng 311, 303 start escort in South China Sea, Sina English, 26 November 2009, xem tại: http://english.sina.com/china/p/2009/1126/288553.html,

[3] Peter Brown, Calculated ambiguity in the South China Sea, Asia Times, 8 December 2009, xem tại: http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/KL08Ae01.html

[4] xem thêm: Bước phát triển mới của Hải quân Trung Quốc, BBC Vietnamese, ngày 12/5/2010, xem tại: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/05/100512_china_navy_strategy.shtml

[5] Leszek Buszynski, “Rising Tensions in the South China and Implications for Regional Security”, Tham luận tại Hội thảo quốc tế: “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển ở khu vực”, tổ chức tháng 11/2010 tại thành phố Hồ Chí Minh.

[6] Một thuật ngữ mà nước này thường dùng trong quá khứ để đề cập đến vấn đề Đài Loan, Tây Tạng, và Tân Cương.

[7] Cary Huang, “A bolder China asserts 'core' interests - but will it act?”, South China Morning Post, August 12, 2010, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/china_asserts_core_interest.htm,

[8] GS. Tô Hạo khẳng định tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông tại thành phố Hồ Chí Minh (11/2010): Trung Quốc chưa bao giờ sử dụng thuật ngữ “lợi ích cốt lõi” trong các tài liệu chính thức.

[9] Các báo China Daily, Global Times, và một số tạp chí của Trung Quốc đều có tin bài của học giả Trung Quốc nêu nội dung này. Báo China Daily ngày 30/7/2010 đăng bài của Ai Yang nhấn mạnh “Nam Hải là một trong những lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Tạp chí Thế giới Tri thức (thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc) số ngày 16/8 đăng bài của học giả Trung Quốc khẳng định vào tháng 3 năm 2010, Trung Quốc đã nêu rõ với phía Mỹ rằng Nam Hải liên quan đến “lợi ích cốt lõi” về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc.

[10] Joshua Kurlandtzick, “Avoiding a Tempeset in the South China Sea”, Expert Brief on Council on Foreign Relations Website, September 2, 2010, retrieved on October 10, 2010 at http://www.cfr.org/publication/22858/avoiding_a_tempest_in_the_south_china_sea.html

[11] Trọng Nghĩa, “Nhìn từ Nhật Bản: Phải buộc Trung Quốc đàm phán đa phương về Biển Đông”, RFI, ngày 11/10/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100827-nhin-tu-nhat-ban-phai-buoc-trung-quoc-dam-phan-da-phuong-ve-bien-dong.

[12] “Chờ điều kiện chín muồi để giải quyết tranh chấp Biển Đông”, VNN phỏng vấn Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường, xem tại http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201001/Cho-dieu-kien-chin-muoi-giai-quyet-tranh-chap-bien-Dong-888092/ ngày 11/9/2010.

[14] “Trung Quốc chống quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông”, RFI, ngày 25/7/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20100725-trung-quoc-chong-viec-quoc-te-hoa-tranh-chap-bien-dong, ngày 19/9/2010.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Học bổng hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông

Học bổng hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông

Học viện Ngoại giao thông báo triển khai Chương trình Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông trên toàn quốc. Dự kiến năm 2012 sẽ cấp 20 suất hỗ trợ (mỗi suất 10.000.000VNĐ) cho các nghiên cứu xuất sắc, góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Phân tích một số lập luận của Trung Quốc về “Chủ quyền lịch sử” của họ tại Biển Đông

Phân tích một số lập luận của Trung Quốc về “Chủ quyền lịch sử” của họ tại Biển Đông

Bài viết của PGS.TS Vũ Dương Huân phân tích bản chất các lập luận của Trung Quốc về cái gọi là "chủ quyền lịch sử”của họ đối với Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển nằm trong đường lưỡi bò.

Đọc tiếp...

Thực trạng xây dựng thể chế khu vực bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông

Thực trạng xây dựng thể chế khu vực bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông

Bài viết của NCS. Vũ Hải Đăng và TS. Nguyễn Chu Hồi đánh giá về việc xây dựng thể chế liên quan đến những cơ chế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông. Phân tích cho thấy kết quả khá thất vọng trong quá trình xây dựng thể chế bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông và khu vực vẫn còn một quãng đường dài trong vấn đề này. 

Đọc tiếp...

Chính sách Biển Đông của Việt Nam và Trung Quốc

Chính sách Biển Đông của Việt Nam và Trung Quốc

Phỏng vấn của BBC với Tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, Nhà nghiên cứu duy nhất của Việt Nam tại hội thảo Biển Đông ở Manila ngày 16-17/10, về những thay đổi gần đây trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc và Việt Nam.   

Đọc tiếp...

Hiện trạng mô hình hợp tác quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại các vùng biển cận biên và một số gợi ý ban đầu cho Việt Nam

Hiện trạng mô hình hợp tác quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại các vùng biển cận biên và một số gợi ý ban đầu cho Việt Nam

Bài viết của TS. Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu Quản lý biển và hải đảo, giới thiệu tổng quan các mô hình hợp tác quốc tế (HTQT) về các khu bảo tồn biển đa quốc gia trên thế giới. Từ việc phân tích những lợi ích của mô hình này, bài viết đề xuất phân chia khu vực biển Việt Nam thành bốn vùng: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, Hoàng Sa, Trường Sa và mô hình HTQT phù hợp qua đó đề xuất xây dựng khu vực Trường Sa thành Công viên biển hòa bình quốc tế. Đọc tiếp...

Tình huống chiến lược Biển Đông

Tình huống chiến lược Biển Đông

Bài viết của TS. Đặng Xuân Thanh*, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, phân tích cấu trúc tình huống chiến lược tại Biển Đông, từ đó đưa ra dự báo ngắn hạn và triển vọng dài hạn cho cục diện tình hình ở vùng biển phức tạp này.

Đọc tiếp...

Từ DOC qua Hướng dẫn thực hiện tới COC trên Biển Đông

Từ DOC qua Hướng dẫn thực hiện tới COC trên Biển Đông

Ngày 21 tháng 7 năm 2011, tại Bali – Indonesia, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sau 9 năm đàm phán. Văn bản này được xem là bước tiến trong tiến trình quản lý tranh chấp, tuy nhiều ý kiến bình luận hoài nghi về khả năng kiềm chế các căng thẳng trên Biển Đông. NCBĐ xin giới thiệu bài viết của nhà nghiên cứu Việt Long về quá trình đi từ DOC đến Bản Quy tắc hướng dẫn, từ đó gợi mở các hướng về COC trong tương lai.

Đọc tiếp...

Phi-líp-pin định kiện Trung Quốc về điều gì ở Tòa trọng tài thành lập theo Công ước Luật biển? Và làm sao họ làm được như vậy?

Phi-líp-pin định kiện Trung Quốc về điều gì ở Tòa trọng tài thành lập theo Công ước Luật biển? Và làm sao họ làm được như vậy?

Bài viết của Nguyễn Đăng Thắng*, Nghiên cứu sinh luật tại Anh, phân tích những cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước luật biển, mối quan tâm chính trong tranh chấp tại Biển Đông của Phi-lip-pin, từ đó đưa ra những đánh giá triển vọng về việc nước này kiện (nếu có) Trung Quốc, những suy ngẫm và có thể là bài học để Việt Nam tham khảo và xem xét.

Đọc tiếp...

"Thỏa thuận chung” về vấn đề Biển Đông

Trả lời phỏng vấn của đài ABC của Úc trong bài "Thỏa thuận chung” về vấn đề Biển Đông, TS. Trần Trường Thủy, GĐ Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, cho biết quan điểm của ông về một số vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay như chuyến đi Trung Quốc của Thứ trưởng NG Hồ Xuân Sơn, các thỏa thuận về quản lý Biển Đông như DOC, Bản hướng dẫn thực thi DOC, và mong đợi của Việt Nam tại Hội nghị Bali.

Đọc tiếp...

Vụ tàu Bình Minh 02 - một Vụ CGX trên Biển Đông?

Vụ tàu Bình Minh 02 - một Vụ CGX trên Biển Đông?

Vụ việc tàu hải giám của Trung Quốc ngang nhiên cắt cáp thăm dò của tàu địa chấn Bình Minh 02 thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đang được dư luận hết sức quan tâm.  NCBĐ giới thiệu bài bình luận nóng của tác giả Nguyễn Đăng Thắng, dựa trên Công ước luật  biển 1982 và các tiền lệ án quốc tế, phân tích tính phi lý trong hành động của phía Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Phản ứng của các nước và cục diện an ninh mới ở Biển Đông (phần cuối)

Phản ứng của các nước và cục diện an ninh mới ở Biển Đông (phần cuối)

Sau những chính sách và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ 2007, vấn đề Biển Đông càng được thu hút bởi dư luận thế giới đặc biệt là Mỹ. Do đó sự căng thẳng của vấn đề Biển Đông cần được xem xét trong tổng thể lợi ích và các mối quan tâm của các nước có liên quan, trước hết là các nước trong khu vực, Trung Quốc và Mỹ.

Đọc tiếp...

Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông đã có những thay đổi rõ rệt. Điều này dựa trên mối liên hệ giữa chính sách Biển Đông của Trung Quốc với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay. Do đó chiến lược giấu mình chờ thời hay “ ngoại giao hài hòanhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn, chủ động và hiếu chiến hơn nhằm gây sức ép với các nước tranh chấp trong khu vực.

Đọc tiếp...

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò (phần cuối)

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò (phần cuối)

Một ngày sau khi có tin Phi-líp-pin gửi thư lên Liên Hiệp Quốc để phản đối yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc, Bắc Kinh lên tiếng nói điều này “không thể chấp nhận được”. Đáp lại công hàm của Phi-líp-pin, Trung Quốc cũng lập tức gửi công hàm ngoại giao lên Liên Hiệp Quốc khẳng định chủ quyền 'không thể chối cãi' ở Biển Đông. Về nội dung công hàm này, các chuyên gia có khá  nhiều ý kiến bình luận xung quanh cách giải thích, ngôn từ cũng như  ý đồ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò (tiếp theo)

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò (tiếp theo)

Trả lời câu hỏi tại sao Phi-líp-pin lại lên tiếng vào thời điểm này và với công hàm này, tiến trình giải quyết hòa bình các tranh chấp tại Biển Đông liệu sẽ được thúc đẩy hay không, PGS. Nguyễn Hồng Thao đã có bài bình luận toàn diện và chi tiết.

Đọc tiếp...

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò

Bàn tròn tranh luận: Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò

Công hàm của Phi-líp-pin phản đối Đường lưỡi bò và công hàm phản hồi của Trung Quốc gửi Liên Hiệp Quốc trong tháng 4 năm 2011 liên quan đến Biển Đông đã thu hút sự quan tâm và chú ý của dư luận. NCBĐ mời các chuyên gia trong vấn đề Biển Đông tham gia tranh luận trực tuyến về cuộc chiến pháp lý mới này.  

Đọc tiếp...

Đằng sau những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông

Đằng sau những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông

Ở phần này bài viết sẽ đi vào phân tích đánh giá những tác nhân đằng sau những thay đổi trong các tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ năm 2007 đến nay. Bài viết đánh giá việc Trung Quốc duy trì chính sách mập mờ về “lợi ích cốt lõi” của mình đối với Biển Đông là để nhằm tránh việc đa phương hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông nhằm hạn chế sự can thiệp của quốc tế đặc biệt là Mỹ, và hơn nữa là nhằm tạo điều kiện có lợi cho mình trong việc sử dụng “sức mạnh mềm” trong giải quyết tranh chấp với các nước trong khu vực này.

Đọc tiếp...

Nhìn lại chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ 2007 đến nay

Nhìn lại chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ 2007 đến nay

Bài viết của hai tác giả Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh*, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông  đánh giá những thay đổi về chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ năm 2007 đến nay, giải mã những căng thẳng ở khu vực Biển Đông nhìn từ khía cạnh chính sách và động thái của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Sống chung với nước láng giềng lớn hơn: Thực tiễn và chính sách

Sống chung với nước láng giềng lớn hơn: Thực tiễn và chính sách

Đề cập đến mối quan hệ nước lớn - nước nhỏ trong quan hệ quốc tế, PGS.TS Nguyên Vũ Tùng cho rằng "Đối với nước nhỏ, quan hệ với nước lớn chung biên giới luôn là một mối quan hệ khó khăn". Bài nghiên cứu nêu lên nguồn gốc của những khó khăn trong mối quan hệ này, từ đó đưa ra một số khuyến nghị về chính sách đối ngoại của các nước nhỏ đối với nước lớn láng giềng.

Đọc tiếp...

Những chủ thể và tư duy đối ngoại mới ở Trung Quốc: Hệ lụy đối với chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông

Những chủ thể và tư duy đối ngoại mới ở Trung Quốc: Hệ lụy đối với chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông

Bài viết tổng hợp phân tích về các nhóm lợi ích và ảnh hưởng của các nhóm này đối với  quá trình hoặc định chính sách đối  ngoại của Trung Quốc. Qua đó, tác giả rút ra các hệ lụy đối với chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Nguyễn Nam Dương, Dư âm ARF và quan hệ ASEAN - Trung Quốc trên biển Đông

Nguyễn Nam Dương, Dư âm ARF và quan hệ ASEAN - Trung Quốc trên biển Đông

Diễn đàn An ninh khu vực ARF khép lại hồi tháng 7 nhưng dư âm của nó còn kéo dài, làm nóng các trang báo ở các quốc gia liên quan, nhất là xoay quanh vấn đề Biển Đông, và trục quan hệ ASEAN - Trung Quốc - Mỹ.
Đọc tiếp...

Hoàng Việt, PHÂN TÍCH CÁC YÊU SÁCH VỀ "ĐƯỜNG LƯỠI BÒ" THEO LUẬT QUỐC TẾ

Hoàng Việt, PHÂN TÍCH CÁC YÊU SÁCH VỀ
I.                  Đặt vấn đề

Cuộc tranh chấp biển Đông vẫn đang là một “nguy cơ” gây bất ổn trong khu vực. Tranh chấp biển Đông đã trở thành một trong những cuộc tranh chấp phức tạp bậc nhất trên thế giới. Sự phức tạp của tranh chấp biển Đông đến từ các yêu sách phức tạp về chủ quyền của nhiều quốc gia đối với các khu vực chồng lấn, vả lại, nó không chỉ đơn thuần là tranh chấp về mặt luật pháp quốc tế về biên giới biển, lãnh thổ trên biển mà hơn thế nữa nó còn được đan xen với những lợi ích về địa – chính trị, về kiểm soát con đường vận tải biển chiến lược, và về khai thác các nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là dầu mỏ.

Đọc tiếp...

Nguyễn Quang Ngọc, ĐỊA DANH TRUNG QUỐC CÁC QUẦN ĐẢO GIỮA BIỂN ĐÔNG: LỊCH SỬ MỘT THẾ KỶ CHUYỂN ĐỔI

I.    Về một số địa danh cổ

Sách báo Trung Quốc gần đây thường viện dẫn các địa danh như Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu, Thất Châu Dương... làm minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo giữa Biển Đông đã có từ hàng nghìn năm trước. Các địa danh Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu thật ra chỉ là những địa danh phiếm chỉ một vùng biển đảo nguy hiểm, hư hư, ảo ảo nằm ngoài đảo Hải Nam và đương nhiên là không thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Riêng Thất Châu Dương là vùng biển đảo có thật, được ghi chép rất rõ ràng trong thư tịch và bản đồ cổ Trung Quốc, gần huyện Văn Xương của đảo Hải Nam, thì lại bị người ta cố tình mơ hồ hoá, huyền thoại hoá và đẩy nó ra tận giữa Biển Đông!.

Đọc tiếp...

Nguyễn Hồng Thao, YÊU SÁCH “ĐƯỜNG ĐỨT KHÚC 9 ĐOẠN” CỦA TRUNG QUỐC DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

Nguyễn Hồng Thao, YÊU SÁCH “ĐƯỜNG ĐỨT KHÚC 9 ĐOẠN” CỦA TRUNG QUỐC DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

Đối với những người Trung Quốc đang muốn đất nước mình là một thành viên đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế, của Công ước về Luật biển 1982 thì việc từ bỏ "đường đứt khúc 9 đoạn" sẽ khắc phục được tình trạng mập mờ cản trở thực tiễn, tạo niềm tin với các nước hữu quan, làm cho các cuộc đàm phán phân định biển trong khu vực trở nên khách quan hơn, thúc đẩy hợp tác và phát triển.

Đọc tiếp...

Nguyễn Bá Diến, ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC VỀ THỤ ĐẮC LÃNH THỔ TRONG LUẬT QUỐC TẾ GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG

“…Pháp luật quốc tế ghi nhận một trong những cơ sở nền tảng (nguyên tắc cơ bản) để xác lập hợp pháp danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia là:  việc xác lập chủ quyền phải dựa vào các phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp. Một phương thức thụ đắc lãnh thổ được coi là hợp pháp khi nó được tiến hành trên một đối tượng lãnh thổ phù hợp (đối tượng thụ đắc của phương thức chiếm cứ hữu hiệu là lãnh thổ vô chủ hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi). Chủ thể xác lập danh nghĩa chủ quyền phải có tư cách quốc gia và được thực hiện theo đúng cách thức mà luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ đòi hỏi…”

Đọc tiếp...

Tôn Sinh Thành, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÔNG TÁC BIÊN GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

Tôn Sinh Thành, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÔNG TÁC BIÊN GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

 Bài viết này sẽ xem xét mối quan hệ biện chứng giữa biên giới và kinh tế. Trước hết, bài viết sẽ mổ xẻ những nội hàm kinh tế của khái niệm biên giới, khu vực biên giới, sau đó sẽ phân tích ý nghĩa kinh tế của công tác biên giới từ giai đoạn hoạch định biên giới tới quản lý biên giới. Bài viết cũng sẽ xem xét công tác biên giới trong mối quan hệ biện chứng giữa an ninh và phát triển đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa. 

Đọc tiếp...

Trần Thanh Tùng, CHÍNH TRỊ NỘI BỘ PHI-LÍP-PIN VỚI TRANH CHẤP TRƯỜNG SA

Bài viết tập trung phân tích những tác động của chính trị nội bộ đến việc hoạch định chính sách của Phi-líp-pin trong tranh chấp Trường Sa - là nơi Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Hai trường hợp nghiên cứu tình huống là Thỏa thuận thăm dò địa chấn chung giữa Việt Nam - Trung Quốc - Phi-líp-pin năm 2004/2005 và Luật đường cơ sở của Phi-líp-pin năm 2009.

Đọc tiếp...

Phạm Thùy Trang, LỢI ÍCH CỦA MỸ Ở BIỂN ĐÔNG

Phạm Thùy Trang, LỢI ÍCH CỦA MỸ Ở BIỂN ĐÔNG Các giới ở Mỹ gần đây cho là lợi ích của Mỹ bị đe dọa do tranh chấp biển Đông leo thang đồng thời quan tâm hơn tới sự cải thiện lực lượng hải quân của Trung Quốc trong khu vực.  Do đó, đã có ý kiến cho rằng chính sách “không can dự” của Mỹ không còn hoàn toàn bảo vệ lợi ích của Mỹ tại biển Đông, Mỹ cần dính líu hơn vào khu vực này. Mỹ dường như đang thay đổi từ “không can dự” tới “can dự một phần” trong chính sách đối ngoại với các nước ven biển và ASEAN tại biển Đông.
Đọc tiếp...

Nguyễn Minh Ngọc, QUAN HỆ VIỆT NAM - CAMPUCHIA VÀ VẤN ĐỀ PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI BIỂN TẠI VỊNH THÁI LAN

Nguyễn Minh Ngọc, QUAN HỆ VIỆT NAM - CAMPUCHIA VÀ VẤN ĐỀ PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI BIỂN TẠI VỊNH THÁI LAN

Phân định biển Việt Nam - Campuchia là một quá trình khó khăn và lâu dài do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, hai bên có lập trường rất khác biệt về đường biên giới biển. Thứ hai, việc phân định biên giới giữa Việt Nam và Campuchia (cả trên bộ lẫn trên biển) phụ thuộc rất nhiều vào tình hình chính trị nội bộ của Campuchia và tình hình quan hệ giữa hai nước. Thứ ba, phía Campuchia muốn hoàn tất công tác phân giới cắm mốc biên giới trên bộ với Việt Nam, sau đó mới tính đến việc giải quyết biên giới biển.

Đọc tiếp...

BIỂN ĐÔNG: TÌM KIẾM MỘT DÀN XẾP PHÁP LÝ MỚI NHẰM TĂNG CƯỜNG ỔN ĐỊNH, HÒA BÌNH VÀ HỢP TÁC

BIỂN ĐÔNG: TÌM KIẾM MỘT DÀN XẾP PHÁP LÝ MỚI  NHẰM TĂNG CƯỜNG ỔN ĐỊNH, HÒA BÌNH VÀ HỢP TÁC (Nguyễn Hồng Thao & Ramses Amer)  Biển Đông từ lâu được xem là một trong những nguồn gốc chính của căng thẳng và bất ổn định trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.Có nhiều nhân tố dẫn đến thực trạng đó. Thứ nhất, vị trí địa chiến lược của biển Đông. Nhân tố nữa là những tranh chấp lãnh thổ đối với  quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như  đối với các khu vực hàng hải tại biển Đông. Nhân tố thứ ba là cuộc chạy đua giành quyền kiểm soát các tài nguyên thiên nhiên tại khu vực này. Nhân tố thứ tư là sự phát triển của Luật Biển. Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4163 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN 3