13 - 12 - 2017 | 10:37
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC Trung Quốc mở rộng đầu tư vào cảng biển trên toàn cầu

Trung Quốc mở rộng đầu tư vào cảng biển trên toàn cầu

Email In PDF.

Trung Quốc đang nỗ lực đẩy mạnh các bước đi nhằm thể hiện vai trò một cường quốc biển. Bên cạnh việc tăng cường sức mạnh hải quân, Trung Quốc cũng đang đầu tư rất lớn vào hạ tầng cảng biển trên quy mô toàn cầu. Tuy nhiên, có những rủi ro kinh tế và chính trị cần được xem xét thỏa đáng nhằm bảo đảm sự đầu tư này thực sự mang lại hiệu quả.

 

Trung Quốc đang nỗ lực đẩy mạnh các bước đi nhằm thể hiện vai trò một cường quốc biển. Bên cạnh việc tăng cường sức mạnh hải quân, Trung Quốc cũng đang đầu tư rất lớn vào hạ tầng cảng biển trên quy mô toàn cầu. Từ giữa năm 2016 đến nay, các công ty của Trung Quốc đã công bố những khoản đầu tư trị giá khoảng 20 tỉ USD vào 9 cảng lớn ở nước ngoài, tăng gấp đôi so với giai đoạn một năm trước đó. Tuy nhiên, có những rủi ro kinh tế và chính trị cần được xem xét thỏa đáng nhằm bảo đảm sự đầu tư này thực sự mang lại hiệu quả.

Tốc độ đầu tư của Trung Quốc vào hạ tầng cảng biển trên thế giới đã tăng nhanh chóng. Theo số liệu nghiên cứu của EIU, đến hết tháng 9/2017, các công ty Trung Quốc đã nắm quyền đầu tư hoặc sở hữu cảng biển tại 34 quốc gia, với 12 kế hoạch đầu tư cảng biển tại 8 quốc gia khác trong thời gian tới.

Các công ty nhà nước của Trung Quốc nắm vai trò chủ lực trong chiến lược đầu tư vào hệ thống cảng biển ở nước ngoài. Đi đầu là công ty COSCO Shipping, doanh nghiệp vận tải biển lớn nhất của Trung Quốc. Công ty này đã tập trung vào thâu tóm cảng biển tại những điểm nút quan trọng trên các tuyến vận tải biển toàn cầu, như Piraeus (Hy Lạp), Euromax (Hà Lan) và Said (Ai Cập). Hầu hết đầu tư cảng biển của công ty này tập trung vào các nước phát triển.

Một công ty nhà nước khác của Trung Quốc là China Merchants Group lại đi đầu trong việc đầu tư vào những thị trường mới nổi. Đến hết năm 2016, công ty này đã sở hữu hoặc nắm quyền khai thác 40 cảng tại 22 nước, bao gồm cả Nigeria, Sri Lanka, Togo và Djibouti. Ngay cả tại Mỹ, nơi cảng biển là lĩnh vực bị cấm đối với các nhà đầu tư nước ngoài, China Merchants Group vẫn sở hữu một tỷ lệ cổ phần nhỏ tại những cảng ở Houston và Miami thông qua việc mua lại Terminal Link, một công ty vận tải biển của Pháp. Hầu hết các cảng mà Trung Quốc đang đầu tư hoặc có kế hoạch đầu tư đều là các cảng biển nước sâu. Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, các đội tàu vận tải thương mại trên thế giới đều đi theo xu hướng phát triển các tàu có trọng tải siêu lớn để cắt giảm chi phí. Những cảng biển nước sâu có khả năng đón những con tàu lớn loại này sẽ có khả năng cạnh tranh tốt hơn.

3 “hành lang kinh tế xanh”

Hầu hết các dự án đầu tư cảng biển của Trung Quốc ở nước ngoài đều nằm trải dọc theo 3 “hành lang kinh tế xanh”, một sáng kiến của Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia, cơ quan hoạch định chính sách kinh tế hàng đầu của Trung Quốc, với tham vọng kết nối châu Á với châu Phi, châu Đại Dương và châu Âu trong khuôn khổ chung của Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI).

Đóng vai trò trung tâm là “hành lang” nối từ Trung Quốc tới Ấn Độ Dương, châu Phi đến Địa Trung Hải. Hành lang này gắn liền với những dự án chủ chốt khác của BRI, như Hàng lang Kinh tế Trung Quốc-Pakistan và Hành lang Kinh tế Bangladesh-Trung Quốc-Ấn Độ-Myanmar. Dọc tuyến hành lang biển này, các công ty Trung Quốc đã đầu tư vào những cảng tại Gwadar (Pakistan), Colombo và Hambantota (đều tại Sri Lanka). 4 dự án đầu tư khác cũng được lên kế hoạch tại Malaysia. Trung Quốc cũng đang đàm phán đầu tư cảng biển tại Tanjung Priok (Indonesia) và Kyaukpyu (Myanmar).

Hành lang thứ hai nối Trung Quốc với Úc và Nam Thái Bình Dương. Úc là thị trường đầu tư lớn thứ hai của Trung Quốc. Các công ty Trung Quốc đã đầu tư vào cảng biển tại Darwin, Newcastle và Melbourne của Úc. Cảng Darwin xuất khẩu 35% lượng gia súc của Úc trong khi cảng Newcastle xuất khẩu 40% lượng than của nước này. Trung Quốc là nước nhập khẩu lớn nhất đối với cả 2 sản phẩm này của Úc.

Hành lang thứ ba, nối Trung Quốc với châu Âu qua Bắc Băng Dương, hiện chưa được khai thác nhiều, nhưng có tiềm năng rất quan trọng vì có thể rút ngắn hải trình vận tải hàng hóa được nhiều ngày. Các dự án được Trung Quốc đứng sau lưng, dưới dạng đàm phán hoặc đang bỏ thầu đầu tư, bao gồm các cảng tại Arkhangelsk (Nga), Klaipeda (Litva), Kirkenes (Na Uy) và một cảng nước sâu tại phía Bắc của Iceland.

Tại sao Trung Quốc lại đầu tư vào cảng?

Có những lợi ích kinh tế rõ ràng giải thích tại sao Trung Quốc tăng cường đầu tư vào hạ tầng cảng biển. Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất và cũng là nước nhập khẩu lớn thứ hai thế giới – nền kinh tế của Trung Quốc gắn bó chặt chẽ với thương mại toàn cầu. Nhật Bản trong những năm 1980 và Hàn Quốc trong những năm 1990 cũng đã đi theo lộ trình tương tự khi đầu tư lớn vào các cảng biển nước ngoài trong quá trình mở rộng ảnh hưởng thương mại toàn cầu. Trung Quốc đang nhìn thấy tiềm năng cực lớn tại những nền kinh tế mới nổi, với tốc độ tăng trưởng thương mại được dự báo là nhanh nhất thế giới trong những năm tới.

Ngoài việc hỗ trợ thương mại, các cảng biển còn có giá trị kinh tế đa dạng hơn, ví dụ như nắm bắt những dữ liệu quý giá về hậu cần vận tải và kinh tế địa phương. Cảng biển là cơ sở để phát triển các ngành dịch vụ liên quan đến hàng hải – như bảo hiểm, tư vấn và thu thập các chỉ số công nghiệp chủ chốt. Việc xây dựng cảng cũng là một thị trường lớn cho ngành xây dựng và lắp máy của Trung Quốc, trong bối cảnh thị trường trong nước đang bão hòa. China Communications Construction của Trung Quốc, công ty xây dựng cảng lớn nhất thế giới, đã xây dựng 95 âu tàu cảng biển nước sâu và bán hơn 750 cần cẩu container cho cảng biển bên ngoài Trung Quốc đến cuối năm 2016.
Gây tranh cãi hơn hết là những lợi ích chiến lược từ việc mở rộng đầu tư cảng biển. Đây là cách Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ hơn các tuyến vận tải biển và tuyến cung cấp năng lượng. Mối quan tâm của Trung Quốc đối với cảng Gwadar (Pakistan), hiện do công ty Cảng hải ngoại Trung Quốc (China Overseas Ports) vận hành từ năm 2013, xuất phát từ giá trị chiến lược của cảng trong việc vận tải dầu thô từ Trung Đông về khu vực phía Tây của Trung Quốc mà không cần phải đi qua eo biển Malacca. Các hệ thống cảng biển này cũng có tiềm năng sử dụng cho các mục đích quân sự, như các cảng tại Gwadar, Djibouti và Seychelles. Các cảng tại Colombo (Sri Lanka) và Piraeus (Hy Lạp) cũng được cho là nằm trong mối quan tâm về quân sự sau khi tiếp nhận những chuyến thăm quy mô từ phía Hải quân Trung Quốc.

Lợi ích cho các nước có cảng biển do Trung Quốc đầu tư

Vai trò là đối tác thương mại và nhà đầu tư lớn hàng đầu thế giới của Trung Quốc mang lại lợi ích lớn cho những nước có cảng biển. Việc cho phép Trung Quốc đầu tư vào cảng của mình giúp cải thiện quan hệ song phương. Đối với các nước đang phát triển, Trung Quốc có thể mang đến kỹ năng và công nghệ quản lý cảng, ngoài khoản đầu tư tài chính. Các cảng biển của Trung Quốc thường đi kèm với việc xây dựng những khu công nghiệp và kế hoạch phát triển cho những khu vực xung quanh cảng – theo “Mô hình Thâm Quyến”. Với cách tương tự, công ty China Merchants bắt đầu xây dựng một khu vực thương mại tự do thí điểm tại Djibouti vào tháng 1/2017 sau khi đầu tư vào cảng biển tại đây. Khu vực này có thể thu hút nhiều hơn nữa đầu tư từ Trung Quốc một khi đã có cơ sở hạ tầng tốt hơn và xây dựng một môi trường kinh doanh quen thuộc với các nhà đầu tư Trung Quốc.

Những rủi ro về kinh tế và chính trị

Chiến lược đầu tư vào cảng biển của Trung Quốc tiềm ẩn một số rủi ro. Sự phục hồi của thương mại toàn cầu đã diễn ra chậm chạp trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính, làm dấy lên những tranh cãi về việc phải chăng cách thức tiến hành thương mại đã thay đổi về cơ bản. Ngày càng xuất hiện xu hướng địa phương hóa khâu sản xuất thay vì xây dựng theo kiểu chuỗi cung cấp toàn cầu. Những phát minh như công nghệ in 3D khiến cho việc vận tải hàng hóa có thể trở nên không còn quá cần thiết như trước kia. Bên cạnh đó, xu thế bảo hộ thương mại trên phạm vi toàn cầu đang có chiều hướng gia tăng. Trong bối cảnh đó, không loại trừ khả năng các công ty và tập đoàn của Trung Quốc đang đầu tư quá mức vào hệ thống cảng biển toàn cầu.

Một rủi ro khác đối với Trung Quốc xuất phát từ sự thất thường về tâm trạng chính trị của các nước chủ nhà. Đầu tư vào các cảng biển có thể bị xem là nhạy cảm, nhất là khi đầu tư của các công ty Trung Quốc lại được xem là gắn liền với những mục tiêu chiến lược quốc gia toàn diện hơn. Bangladesh đã hủy một hợp đồng xây dựng cảng nước sâu với Trung Quốc tại Sonadia năm 2016 trong bối cảnh quốc gia Nam Á này tìm cách cân bằng quan hệ với Ấn Độ và Mỹ. Lẽ ra Sonadia đã trở thành cảng biển nước sâu đầu tiên của Trung Quốc.

Theo quan điểm của một số quan chức chính phủ Ấn Độ, đầu tư của Trung Quốc vào cảng Gwadar của Pakistan, cũng như các cảng tại Sri Lanka và Myanmar, tạo thành một phần của “chuỗi ngọc trai” – cụm từ dùng để chỉ mạng lưới các cảng biển do Trung Quốc đầu tư dọc theo Ấn Độ Dương. Những lo ngại về việc những cảng này còn có ý đồ chiến lược nào khác bên ngoài giá trị thương mại thuần túy hay không càng được củng cố trong bối cảnh hầu hết những dự án đầu tư cảng của Trung Quốc đều do các công ty nhà nước của Trung Quốc thực hiện dưới sự chỉ đạo của chính phủ trung ương.

Trong thời gian tới, đầu tư của Trung Quốc vào các cảng biển trên thế giới sẽ tiếp tục gia tăng. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ODI) của Trung Quốc đã giảm đáng kể trong năm 2017 do những quy định chặt chẽ hơn về giao dịch và chuyển tiền. Tuy nhiên, tháng 8/2017, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành quy định về những lĩnh vực đầu tư được khuyến khích, hay hạn chế, hoặc bị cấm hoàn toàn. Vận tải biển vẫn nằm trong danh mục đầu tư nước ngoài được Trung Quốc khuyến khích.

Thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào hệ thống cảng biển toàn cầu sẽ là lợi nhuận thu về. Nhằm thực hiện chỉ đạo chính trị về việc tăng cường sự hiện diện và ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu, các công ty Trung Quốc đang đối mặt với viễn cảnh phải đầu tư một cách dàn trải, lãng phí và mù quáng vì những mục tiêu chính trị trong khi không tính toán hết những rủi ro về kinh tế. Việc tính toán thận trọng tiềm năng kinh tế của những dự án như vậy sẽ là rất cần thiết.

Theo Bộ phận dự báo, phân tích và tư vấn rủi ro (EIU) trực thuộc tập đoàn The Economist.

Trần Quang (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Năm điều thách thức sự trỗi dậy của Trung Quốc

Năm điều thách thức sự trỗi dậy của Trung Quốc

Bất chấp vẻ ngoài tự tin, vẫn còn nhiều vấn đề khiến giới cầm quyền cao nhất của Trung Quốc phải bận tâm. Có 5 vấn đề thực sự khiến họ bận tâm: đặc điểm địa lý, nước Mỹ, sự trỗi dậy và trở lại của các cường quốc khác, “chủ nghĩa ly khai” và sự ổn định kinh tế.

Đọc tiếp...

Ba vấn đề về sức mạnh của Trung Quốc

Ba vấn đề về sức mạnh của Trung Quốc

Trung Quốc là một siêu cường, sức mạnh và ảnh hưởng ngày càng tăng ở quy mô toàn cầu. Tuy nhiên, đằng sau những yếu tố sức mạnh này, cũng như bài diễn văn rất tự tin của Chủ tịch Tập Cận Bình về sự trở lại của Trung Quốc trên trường quốc tế và "Giấc mộng Trung Hoa", sự trỗi dậy của Trung Quốc đang vấp phải những hạn chế, khó khăn cần phải vượt qua.

Đọc tiếp...

Trung Quốc sử dụng có chiến lược kinh phí khoa học cho nghiên cứu về Luật quốc tế

Trung Quốc sử dụng có chiến lược kinh phí khoa học cho nghiên cứu về Luật quốc tế

Trong số nhiều chủ đề được chính phủ Trung Quốc tài trợ và khuyến khích, đứng đầu là luật kinh tế quốc tế, thứ hai là các vấn đề liên quan tới luật biển và thứ ba là luật môi trường quốc tế. Và Trung Quốc thường khuyến khích các học giả phát triển cách tiếp cận theo hướng chủ nghĩa dân tộc.

Đọc tiếp...

Giải mã tầm nhìn của Bắc Kinh về khu vực “cộng đồng chung vận mệnh”

Giải mã tầm nhìn của Bắc Kinh về khu vực “cộng đồng chung vận mệnh”

Hiện nay Sáng kiến Vành đai Con đường được thể hiện như phản ứng của Trung Quốc trước một nhu cầu thúc bách cần phải có sự thay đổi, một trật tự lấy Trung Quốc làm trung tâm. Liệu ý niệm về cộng đồng chung vận mệnh có đồng nghĩa với hệ thống “thiên hạ - triều cống”?

Đọc tiếp...

Chính sách đối ngoại Trung Quốc: Những động lực trong nước

Chính sách đối ngoại Trung Quốc: Những động lực trong nước

Dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình, chính sách đối ngoại “giấu mình chờ thời” của Trung Quốc đã không còn được ưa chuộng mà thay bằng định hướng “làm nên công tích”. Trong bối cảnh đó, ngoại giao Trung Quốc đã trở nên chủ động hơn nhiều, phát động những sáng kiến tại châu Á-Thái Bình Dương và vượt ra ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Mười mối quan hệ Trung Quốc phải xử lý khi thực hiện chiến lược “Vành đai và Con đường”

Mười mối quan hệ Trung Quốc phải xử lý khi thực hiện chiến lược “Vành đai và Con đường”

Trên thế giới hiện nay vẫn có rất nhiều tranh luận khác nhau về chiến lược này, chẳng hạn như chiến lược này liên quan tới chủ nghĩa thực dân mới, thuyết về mối đe dọa Trung Quốc, kế hoạch Marshall mới... Do vậy, việc phân tích và thảo luận có hệ thống về 10 mối quan hệ lớn Trung Quốc phải xử lý có ý nghĩa thực tiễn quan trọng.

Đọc tiếp...

Trung Quốc mở rộng đầu tư vào cảng biển trên toàn cầu

Trung Quốc mở rộng đầu tư vào cảng biển trên toàn cầu

Trung Quốc đang nỗ lực đẩy mạnh các bước đi nhằm thể hiện vai trò một cường quốc biển. Bên cạnh việc tăng cường sức mạnh hải quân, Trung Quốc cũng đang đầu tư rất lớn vào hạ tầng cảng biển trên quy mô toàn cầu. Tuy nhiên, có những rủi ro kinh tế và chính trị cần được xem xét thỏa đáng nhằm bảo đảm sự đầu tư này thực sự mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Phương Tây hiểu sai như thế nào về kinh tế Trung Quốc?

Phương Tây hiểu sai như thế nào về kinh tế Trung Quốc?

Khi đánh giá nền kinh tế Trung Quốc, câu hỏi không phải là liệu người ta nên có thái độ tích cực hay tiêu cực. Thay vào đó, nó là về một khuôn khổ dẫn tới một cách hiểu tốt hơn về thực tế Trung Quốc.

Đọc tiếp...

RCEP “nuôi” tham vọng ngoại giao nước lớn của Trung Quốc

RCEP “nuôi” tham vọng ngoại giao nước lớn của Trung Quốc

Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ là dịp để tiến hành thảo luận lần cuối cùng về RCEP trong bối cảnh ông Tập đang chơi “ván cờ” thương mại thế giới. Các kỳ thảo luận lần này sẽ xác định liệu Trung Quốc có đang dẫn dắt các cuộc thương lượng về RCEP hay không và ở mức độ nào để theo đuổi mục tiêu thay đổi trật tự địa chính trị ở châu Á.

Đọc tiếp...

Tại sao cần quan ngại chiến lược xuất khẩu vũ khí Trung Quốc

Tại sao cần quan ngại chiến lược xuất khẩu vũ khí Trung Quốc

Doanh thu từ việc bán vũ khí của Trung Quốc đang tăng lên. Trên thực tế, trong giai đoạn năm 2012-2016, xuất khẩu vũ khí của Trung Quốc vượt Đức, Pháp và Anh, đưa Trung Quốc trở thành nhà xuất khẩu vũ khí lớn thứ 3 thế giới. Đây không phải hiện tượng ngắn ngủi mà là một xu hướng lâu dài.

Đọc tiếp...

Trung Quốc sẽ cứng rắn hơn trong đường lối

Trung Quốc sẽ cứng rắn hơn trong đường lối

Trước thềm Đại hộ Đảng Trung Quốc lần XIX, Tập Cận Bình dường như đang đứng trên đỉnh cao quyền lực. Nhưng quyền lực này sẽ vươn xa tới đâu? Các quyết định nhân sự sắp tới trong và sau Đại hội đảng cũng như nội dung của báo cáo chính trị sẽ đưa ra những gợi ý về mức độ thật sự của quyền lực Tập Cận Bình.

Đọc tiếp...

Hoạt động chính trị trong công cuộc tái cơ cấu quân đội dưới thời Tập Cận Bình

Hoạt động chính trị trong công cuộc tái cơ cấu quân đội dưới thời Tập Cận Bình

Tháng 11/2015, Tập Cận Bình đã đề xướng một kế hoạch cải cách mới đối với PLA trong vòng 5 năm. Khi được hoàn tất vào năm 2020, PLA sẽ có một diện mạo hoàn toàn mới. Bài viết này nghiên cứu hoạt động chính trị của cuộc cải cách này trong bối cảnh Tập Cận Bình nắm giữ vai trò lãnh đạo chính trị.

Đọc tiếp...

Cải cách kinh tế Trung Quốc đã chạm ngưỡng?

Cải cách kinh tế Trung Quốc đã chạm ngưỡng?

Theo gần như bất kì cách tính nào, thành tích kinh tế của Trung Quốc trong 4 thập kỷ qua cũng ấn tượng không khác gì Vạn lý trường thành. Nhưng giống như Vạn lý trường thành không hiệu quả như người ta tưởng tượng, nền tảng của nền kinh tế Trung Quốc cũng yếu kém.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và các mục tiêu địa chính trị trước năm 2049

Trung Quốc và các mục tiêu địa chính trị trước năm 2049

Năm 2049, Trung Quốc sẽ kỷ niệm 100 năm Cuộc cách mạng năm 1949, 100 năm thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Từ nay tới thời điểm đó, Trung Quốc có thể sẽ hoàn thành "Giấc mộng Trung Hoa", tức giành vị trí số 1 trên trường quốc tế. Để đạt được điều đó, những mục tiêu địa chính trị mà nước này nhắm tới là gì?

Đọc tiếp...

Mục tiêu của Trung Quốc trong tranh chấp Doklam

Mục tiêu của Trung Quốc trong tranh chấp Doklam

Trung Quốc có 4 mục tiêu then chốt trong tranh chấp này, hai mục tiêu nhắm thẳng vào Ấn Độ và hai mục đích với ảnh hưởng trực tiếp hơn tới Mỹ và các quốc gia khác trên toàn thế giới.

Đọc tiếp...

Chín vấn đề của ngoại giao Trung Quốc

Chín vấn đề của ngoại giao Trung Quốc

Khi thực lực quốc gia được tăng cường, Trung Quốc phải trở thành một quốc gia “quân tử” khiêm nhường có trách nhiệm đối với thế giới, chứ không phải là một quốc gia ngang ngược sử dụng sức mạnh tàn bạo.

Đọc tiếp...

Sáng kiến Vành đai Con đường - Cần xử lý 10 mối quan hệ

Sáng kiến Vành đai Con đường - Cần xử lý 10 mối quan hệ

Có nhiều luồng dư luận trái chiều về chiến lược “Một vành đai, một con đường”, như đây là đại diện cho Chủ nghĩa thực dân mới, Thuyết mối đe dọa Trung Quốc... Do vậy, cần phân tích một cách có hệ thống 10 mối quan hệ mà Trung Quốc cần xử lý tốt trong khi triển khai sáng kiến này.

Đọc tiếp...

PLA và chiến lược gia tăng tuyên bố chủ quyền trong tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc

PLA và chiến lược gia tăng tuyên bố chủ quyền trong tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc

Được xem là xương sống của CPC, PLA suốt chiều dài lịch sử đã trợ giúp đắc lực cho Đảng Cộng sản Trung Quốc không chỉ trong việc duy trì quyền lực mà trong cả việc khẳng định các yêu sách đầy tham vọng về lãnh thổ và lãnh hải.

Đọc tiếp...

Tác động của Sáng kiến “Vành đai và Con đường” đối với Đông Nam Á

Tác động của Sáng kiến “Vành đai và Con đường” đối với Đông Nam Á

Việc các quốc gia Đông Nam Á tham gia vào BRI có thể mang lại nhiều cơ hội phát triển kinh tế, tuy nhiên, không thể không nhắc đến những rủi ro mà sáng kiến này có thể gây ra, đặc biệt là hành vi cũng như ý đồ của Trung Quốc ở Biển Đông và các các vấn đề an ninh, chính trị khu vực.

Đọc tiếp...

Khi nào và Tại sao Trung Quốc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ

Khi nào và Tại sao Trung Quốc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ

Tại sao và Khi nào Trung Quốc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ là cơ sở quan trọng giúp dự đoán hành vi của nước này. Bài nghiên cứu của GS. Fravel Taylor, Viện Công nghệ MIT chỉ ra rằng: khi ưu thế thương lượng suy giảm là lúc Trung Quốc thường sử dụng vũ lực nhất.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 13482 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin