19 - 9 - 2019 | 3:16
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC Mục tiêu của Trung Quốc trong tranh chấp Doklam

Mục tiêu của Trung Quốc trong tranh chấp Doklam

Email In PDF.

Trung Quốc có 4 mục tiêu then chốt trong tranh chấp này, hai mục tiêu nhắm thẳng vào Ấn Độ và hai mục đích với ảnh hưởng trực tiếp hơn tới Mỹ và các quốc gia khác trên toàn thế giới.

 

Ở độ cao hơn 4km so với mực nước biển và với khí hậu lúc nào cũng khắc nghiệt, Cao nguyên Doklam là nơi rất khó để phòng thủ. Trong khi đó, việc tiến hành một cuộc tấn công vấp phải những thách thức lớn hơn gấp bội – và đó là trước khi mùa Đông ở Himalaya ập đến. Điều này giúp giải thích tại sao vừa qua Trung Quốc và Ấn Độ đã chấm dứt một cuộc đối đầu quân sự vốn đã và đang trở nên tồi tệ hơn kể từ tháng 6. Tuy nhiên, vượt ra ngoài sự khổ cực của việc chuẩn bị chiến đấu trên chiến trường khắc nghiệt như vậy, cả hai quốc gia đều có lý do riêng để xuống thang một trong những cuộc đối đầu nghiêm trọng nhất kể từ cuộc chiến duy nhất giữa hai nước vào năm 1962. Nguyên trạng trước đây về cơ bản đã được khôi phục, nhưng tranh chấp này đã làm dấy lên những câu hỏi quan trọng về cán cân quyền lực ở châu Á, chiến lược lớn của Trung Quốc và bài học mà Washington có thể rút ra từ sự kiện này.

Trung Quốc và Ấn Độ có chung đường biên giới dài hơn 4.000km, với gần như toàn bộ đường biên giới chung đó dựa trên các thỏa thuận và khảo sát từ thời thực dân, và phần lớn trong số đó vẫn bị tranh chấp. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền các phần lãnh thổ do Ấn Độ nắm giữ, phần lớn là ở các bang Arunachal Pradesh, Jammu và Kashmir, với những vùng nhỏ hơn được tuyên bố chủ quyền ở Uttarakhand và Himachal Pradesh. Ấn Độ tuyên bố chủ quyền với các vùng đất do Trung Quốc nắm giữ, đáng chú ý nhất là vùng đất có tên gọi Aksai Chin mà Trung Quốc đã cho xây một con đường qua đó vào những năm 1950 nối Tân Cương với Tây Tạng. Phản ánh bản chất bất ổn của chúng, các phần biên giới chia cắt các vùng lãnh thổ bị tranh chấp được đề cập đến như là Đường ranh giới kiểm soát thực tế (LAC). Có những vụ va chạm định kỳ dọc theo LAC, nhưng cả hai quốc gia đã lên kế hoạch cẩn thận nhằm tránh leo thang; kết quả là, đã không có thương vong nào bắt nguồn từ các tranh chấp đất đai trong nửa thế kỷ qua.

Vào ngày 8/6, một đơn vị có quy mô trung đội của lực lượng bảo vệ biên giới Trung Quốc đã di chuyển vào vùng lãnh thổ được cả Trung Quốc lẫn Bhutan, quốc gia phụ thuộc của Ấn Độ, tuyên bố chủ quyền. Họ đã phá hủy các boongke bằng đá mà Quân đội Hoàng gia Bhutan không thường xuyên sử dụng, và ngay sau đó một đội xây dựng đường của Trung Quốc đã tới cùng với máy xúc, xe ủi đất và một đoàn quân đội hộ tống lớn hơn. Vào ngày 16/6, binh lính Ấn Độ đã tới và ngăn cản nỗ lực xây dựng đường sá. Hai tháng tiếp theo đó chứng kiến các vụ xô xát định kỳ tại Doklam, cũng như một vụ ném đá (được ghi hình lại và đăng trên YouTube) bên bờ Hồ Pangong đang tranh chấp cách đó gần 1.300km. Ngày 28/8, cả hai quốc gia đều nhất trí với điều mà Ấn Độ gọi là “rút quân nhanh chóng”, và cả hai đều tuyên bố việc không có giải pháp này là một chiến thắng.

Những mối quan ngại an ninh của New Delhi

Động cơ của Ấn Độ trong xung đột này khá dễ để làm sáng tỏ. Là nước bảo trợ và người bảo lãnh trên thực tế của Bhutan, New Delhi có nghĩa vụ gần như chính thức là bảo vệ các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của quốc gia đó. Theo Hiệp ước hữu nghị năm 1949, Vua Druk Gyalpo của Bhutan đã cam kết “làm theo lời khuyên của Chính phủ Ấn Độ liên quan đến các mối quan hệ bên ngoài của nước này”. Hiệp ước được sửa đổi vào năm 2007 nhằm đưa cả hai chính phủ cam kết “hợp tác chặt chẽ với nhau về các vấn đề có liên quan đến lợi ích quốc gia của hai nước”.

Ẩn dưới ngôn ngữ ngoại giao, ý định vẫn được giữ nguyên: Bhutan sẽ để cho Ấn Độ kiểm soát chính sách đối ngoại của mình, và Ấn Độ sẽ bảo vệ Bhutan khỏi mối đe dọa bên ngoài.
Hơn nữa, sự hiện diện quân sự của Trung Quốc tại Doklam – đặc biệt là sự hiện diện cùng với khả năng về cơ sở hạ tầng vận tải hỗ trợ cho các cuộc tấn công bất ngờ sâu hơn – sẽ đe dọa tới dải đất rộng hơn 27km được biết đến là Hành lang Siliguri nối 7 bang ở Đông Bắc Ấn Độ với phần còn lại của nước này. Hành lang này thường được biết đến là “cổ gà” của Ấn Độ – và New Delhi không có ý định để cho Bắc Kinh giành được quyền kiểm soát nó. Hiệp ước năm 2007 với Bhutan đưa ra lưu ý một cách đáng lo ngại rằng “Chính phủ sẽ không cho phép sử dụng lãnh thổ của mình cho các hoạt động gây hại tới lợi ích và an ninh quốc gia của nước khác”. Thậm chí nếu Bhutan sẵn sàng để Trung Quốc kiểm soát Doklam, thì Ấn Độ có khả năng sẽ miễn cưỡng (và, theo hiệp ước, không cần thiết) đứng sang một bên.

Các động cơ của Trung Quốc thì khó hiểu hơn, đa dạng hơn và quan trọng hơn đối với Mỹ và cộng đồng quốc tế. Như vậy, chúng cần phải được xem xét kỹ lưỡng hơn.

Những mục tiêu của Bắc Kinh ở khu vực

Động thái ban đầu của Trung Quốc, ngay cả khi nó có vẻ là nước cờ đầu trong ván cờ địa chính trị, có khả năng không có chủ đích như vậy. Bắc Kinh đã và đang trong đợt ráo riết xây dựng cơ sở hạ tầng trên toàn quốc kể từ những năm 1990, và các khu vực biên giới nhạy cảm đã không bị bỏ sót khỏi chương trình này. Trong con mắt của Ấn Độ, việc xây dựng một quốc lộ được rải nhựa ở khu vực có tính chiến lược cao có vẻ giống như đặt nền tảng cho một cuộc xâm lược tiềm tàng; nhưng đối với Trung Quốc, điều đó có lẽ chẳng khác gì kiểu nâng cấp “từ sỏi đá đến nhựa đường” nào đó trên khắp đất nước này.

Trên thực tế, binh lính Trung Quốc và Ấn Độ thường xuyên lấn sang biên giới của nhau khoảng một vài trăm mét, phụ thuộc vào việc họ có thể chiếm được bao nhiêu đất trước khi các giới chức trách có thẩm quyền cao hơn can thiệp. Chẳng hạn, vào tháng 4/2013, một trung đội của Trung Quốc đã tiến gần 20km vào vùng lãnh thổ do Ấn Độ nắm giữ gần Daulat Beg Oldi ở Kashmir, nhưng khoảng 3 tuần sau đó họ đã rút lui, sau cuộc tranh cãi căng thẳng về ngoại giao. Một nhân tố khác cho thấy sự rủi ro chứ không phải là tính toán ở cấp cao chính là địa thế chiến thuật: Ấn Độ chiếm ưu thế, điều có nghĩa rằng nếu Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tìm cách lấn qua Doklam tiến tới Hành lang Siliguri thì phần lớn họ sẽ buộc phải tấn công ngược lên ngọn đồi khoảng hơn 140km.

Bất chấp căn nguyên của nó, cuộc đối đầu trực tiếp chưa từng có tiền lệ này – lần đầu tiên ở quy mô này trong 30 năm – kéo dài hơn dự tính, từ vài ngày sang vài tuần rồi tới vài tháng. Sau khoảng tuần đầu tiên, nó từ một sự khởi xướng trên thực địa sang một lựa chọn chính sách được thực hiện ở cấp cao nhất của Chính phủ Trung Quốc. Quả thực, Bắc Kinh đã khơi dậy tinh thần dân tộc chủ nghĩa trong dân chúng Trung Quốc bằng cách cho đăng những câu chuyện mang tính kích động (và trong một số trường hợp mang tính phân biệt chủng tộc cao) trên báo chí do nhà nước kiểm soát và phương tiện truyền thông xã hội. Có thể lập luận rằng Chính phủ Trung Quốc có 4 mục tiêu then chốt trong tranh chấp này, hai mục tiêu nhắm thẳng vào Ấn Độ và hai mục đích với ảnh hưởng trực tiếp hơn tới Mỹ và các quốc gia khác trên toàn thế giới.

Mục tiêu đầu tiên và hoàn toàn mang tính khu vực của Bắc Kinh là để cho Ấn Độ không có suy nghĩ rằng nước này ngang hàng với Trung Quốc. Cuộc chiến năm 1962 – trong đó Trung Quốc đã xâm lược Ấn Độ mà không gặp phải khó khăn lớn nào và đơn phương rút lui 1 tháng sau đó, trong khi giữ lại những phần lãnh thổ duy nhất nước này muốn giữ – đã làm tiêu tan hoàn toàn bất cứ ảo tưởng nào rằng hai quốc gia khổng lồ tại châu Á là bạn bè hay có cùng vị thế. Trong những thập kỷ tiếp theo, các nhà lãnh đạo của Ấn Độ nhìn chung đều thận trọng trước việc làm Bắc Kinh phật ý. Trong suốt những năm tháng Mao Trạch Đông nắm quyền và sau đó, khoảng cách về quân sự và kinh tế (đặc biệt từ những năm 1990 trở đi) giữa 2 quốc gia dường như giãn rộng hơn. Tuy nhiên, trong thế kỷ mới, sự tự tin của Ấn Độ đã đều đặn tăng lên: lãnh đạo của cả 2 đảng phái chính trị lớn ngày càng miêu tả Pakistan là đối thủ của đất nước trong quá khứ, và Trung Quốc là đối thủ trong tương lai. Dưới thời Thủ tướng Narendra Modi, thái độ này đã được đi kèm với hành động. Modi đã tăng cường hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng quân sự và lưỡng dụng của Ấn Độ dọc theo LAC, và gia tăng hợp tác an ninh với các đối tác Thái Bình Dương của nước này, trong đó có Úc, Nhật Bản và Việt Nam.

Mong muốn ngày càng gia tăng này đối với hợp tác an ninh mở rộng sang phía bên kia đại dương. Trong 4 hội nghị thượng đỉnh gần đây trong 3 năm qua, các nhà lãnh đạo của Ấn Độ và Mỹ đã thúc đẩy hợp tác an ninh nhanh chóng nhất có thể. Chẳng hạn, trong chuyến thăm của Modi tới Washington vào tháng 6/2017, Ấn Độ đã tuyên bố nước này sẽ mua 22 máy bay không người lái Guardian MQ-9B của Mỹ cho hoạt động giám sát trên biển. Vào ngày 10/7, Mỹ và Ấn Độ đã bắt đầu tiến hành phiên bản thế kỷ 21 của cuộc diễn tập hải quân hàng năm Malabar, mà lần đầu tiên có sự tham gia của tàu sân bay của 2 nước cũng như của Nhật Bản. Trong quá khứ, Ấn Độ nhìn chung lảng tránh các cuộc tập trận đa phương có sự tham gia của Mỹ, hay bất cứ hành động nào mà có thể bị Bắc Kinh nhìn nhận là một bước đi hướng tới liên minh với Mỹ. Có thể hiểu được là Trung Quốc muốn giữ tình hình như vậy.

Tuy nhiên, lo ngại quan trọng nhất của Trung Quốc tại dãy Himalaya có lẽ liên quan tới tương lai của Dalai Lama, người năm nay 82 tuổi. Các nhà lãnh đạo Ấn Độ đã cho Dalai Lama trú ẩn tại thị trấn Dharamsala trong gần 6 thập kỷ qua, nhưng Modi sẵn sàng chạm nọc của Trung Quốc là khu vực Tây Tạng hơn so với bất kỳ người tiền nhiệm nào trước đây. Năm 2014, ông đã phá vỡ nghi thức ngoại giao khi mời Lobsang Sangay, thủ tướng chính phủ lưu vong của Tây Tạng, tới dự lễ nhậm chức của ông. Tháng 4/2017, 6 tháng sau khi khuyến khích một chuyến thăm tương tự của đại sứ Mỹ, Modi đã cho phép Dalai Lama tới thăm các cộng đồng người Tây Tạng tại bang Arunchal Pradesh – vùng lãnh thổ mà Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền.

Bắc Kinh đã phản đối quyết liệt từng bước đi nói trên, với việc Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố vào tháng 4: “Trung Quốc sẽ cương quyết thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và các quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Trung Quốc có ý định lựa chọn người kế nhiệm Dalai Lama – như nước này đã làm đối với Panchen Lama vào năm 1995, giáo sĩ đứng hàng thứ 2 trong Phật giáo Tây Tạng. Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các khu vực do Ấn Độ và Bhutan kiểm soát bắt nguồn từ tuyên bố chủ quyền của nước này đối với Tây Tạng. Nếu Tây Tạng là một bộ phận không thể thiếu của Trung Quốc, thì mọi lãnh thổ từng do Tây Tạng kiểm soát (hay tuyên bố chủ quyền) cũng là một bộ phận không thể thiếu của Trung Quốc. Một vụ việc gây lo ngại và thu hút sự chú ý trên cao nguyên Doklam – nơi chỉ có những người chăn bò Tây Tạng theo mùa từ Tây Tạng và Bhutan sinh sống – có thể nhằm mục đích gửi một thông điệp ngầm tới Ấn Độ: cụ thể là không lặp lại quyết định của nước này che chở Dalai Lama năm 1959, nguyên nhân chính dẫn đến cuộc xâm lược của Trung Quốc năm 1962.

Các bài học cho chính sách của Mỹ

Vụ việc tại Doklam chứa đựng những bài học cho Mỹ và bất kỳ quốc gia nào khác quan tâm tới tính toán chiến lược toàn cầu của Bắc Kinh. Cho dù Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với vùng đất có diện tích hơn 35.000 dặm vuông do Ấn Độ quản lý dọc theo phần phía Đông của LAC, nước này đã không chọn bất cứ phần nào trong khu vực đó làm địa điểm cho một vụ việc quốc tế. Bằng cách tập trung vào Bhutan thay vì khu vực nói trên, Trung Quốc có thể đang cố gắng gây chia rẽ giữa Ấn Độ và đồng minh dễ tổn thương nhất của nước này. New Delhi sẽ bảo vệ lãnh thổ thuộc chủ quyền của mình, nhưng Bắc Kinh có thể muốn biết liệu Ấn Độ có đi tới chiến tranh trước một đối thủ mạnh hơn nhiều để bảo vệ đất đai của nước khác hay không. Có thể Ấn Độ sẽ rút lui và thỏa hiệp theo cách nào đó: chẳng hạn, cho phép Bhutan từ bỏ tuyên bố chủ quyền của nước này đối với Doklam để đổi lấy việc Trung Quốc từ bỏ tuyên bố chủ quyền của mình đối với 2 khu vực tranh chấp khác do vương quốc nhỏ bé này kiểm soát. Một số quốc gia tại Nam Á (Maldives, Nepal và Sri Lanka) hướng về Ấn Độ để tìm kiếm một mức độ bảo vệ an ninh nào đó, và một số nước tại Đông Nam Á (bao gồm Indonesia, Malaysia và Việt Nam) đã bày tỏ mối quan tâm tới can dự an ninh lớn hơn; một thất bại trong việc bảo vệ hoàn toàn nước phụ thuộc trực tiếp nhất của mình sẽ có những hệ quả nghiêm trọng đối với uy tín của Ấn Độ với vai trò một đối tác.

Ngoài ra, việc Trung Quốc nhanh chóng di chuyển thiết bị xây dựng đường vào khu vực tranh chấp cho thấy Bắc Kinh có thể đang sao chép cách tiếp cận của nước này trên Biển Đông, nơi Trung Quốc đang xây dựng cơ sở hạ tầng để thiết lập quyền sở hữu trên thực tế. Kể từ tháng 12/2013, Bắc Kinh đã cải tạo hơn 2.900 mẫu Anh, về cơ bản họ đang xây dựng đảo trên các dải san hô tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cho tới nay, chiến lược này đã thành công. Không bên nào trong số các đối thủ của Trung Quốc chấp nhận các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh – nhưng không bên nào thực hiện một bước đi có ý nghĩa để loại bỏ một loạt đường băng, cơ sở hải quân và trạm giám sát mới của Trung Quốc.

Nhưng Doklam có thể không phải là một động thái cuối cùng như vậy bên ngoài lĩnh vực trên biển. Trung Quốc không chỉ có tranh chấp trên bộ chưa được giải quyết với Ấn Độ, mà người ta có thể hình dung rằng nước này cũng sẽ sử dụng cách tiếp cận theo kiểu “xây dựng và sở hữu” để mở lại các tranh chấp biên giới im lìm từ lâu với Việt Nam hoặc Myanmar. Nước này thậm chí có thể dùng lực đòn bẩy là các khoản đầu tư của mình vào các dự án cơ sở hạ tầng trên khắp châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh để rút tỉa nhượng bộ chính trị - một chiến thuật đã được các nước đế quốc châu Âu sử dụng trong hàng trăm năm.

Cuộc khủng hoảng tại Doklam hiện đã chấm dứt, nhưng tác động thực sự của sự việc này sẽ chỉ dần lộ ra trong những tuần và tháng sắp tới. Từ quan điểm của Mỹ, các dấu hiệu quan trọng nhất cần để ý tới là bất kỳ sự nhượng bộ nào của các bên có liên quan đối với Trung Quốc. Những nhượng bộ có thể bao gồm việc Bhutan âm thầm thừa nhận tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đối với các vùng lãnh thổ tranh chấp là Jarkalung và Pasamlung, vốn ít mang tính đe dọa về mặt chiến lược hơn đối với Ấn Độ. New Delhi có thể ngầm giảm bớt sự ủng hộ dành cho cộng đồng người Tây Tạng lưu vong. Hoặc có thể Việt Nam sẽ thấy Ấn Độ ít nhiệt tình hơn trước các đề nghị trong tương lai về can dự kinh tế hay an ninh. Bất cứ tiến triển nào như vậy có thể cho thấy Bắc Kinh chưa bị chặn lại đột ngột tại Himalaya, mà đã dùng lực đòn bẩy để biến xung đột này thành lợi thế cho mình.

Nếu Trung Quốc coi Doklam là một thành công, nước này có thể bị cám dỗ sử dụng khuôn mẫu này ở nơi khác, cho dù đó là một đảo san hô vòng ở Thái Bình Dương hay một mỏ đồng ở Cộng hòa Dân chủ Congo. Đó là lý do giải thích tại sao Washington không nên thư giãn vào lúc này. Washington nên chú ý kỹ tới hệ quả của tranh chấp, là cuộc đối đầu Trung-Ấn nghiêm trọng nhất trong 1 thế hệ. Cho dù binh lính đã rút về các vị trí trên đỉnh núi của họ, chỉ có thời gian mới cho biết những vụ ẩu đả của họ có thực sự lắng xuống hay chúng sẽ tạo ra những điều kiện cho một trận “lở tuyết”.

Jonah Blank là nhà khoa học chính trị cao cấp của Tập đoàn Nghiên cứu và Phát triển (RAND), đồng tác giả cuốn Arrow of the Blue-Skinned God: Retracting the Ramayana Through India. Bài viết được đăng trên Foreign Affairs.

Trần Quang (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Hồi kết của phép màu kinh tế Trung Quốc

Hồi kết của phép màu kinh tế Trung Quốc

Phép màu kinh tế của Trung Quốc đang gần tới hạn, và giờ có nguy cơ gây ra hại nhiều hơn lợi. 

Đọc tiếp...

Tính toán của Trung Quốc đằng sau chiến lược xây đập trên sông Mekong

Tính toán của Trung Quốc đằng sau chiến lược xây đập trên sông Mekong

Cách duy nhất để tránh một tương lai ảm đạm cho toàn bộ khu vực này là chấm dứt việc xây dựng đơn phương các đập trên toàn bộ sông Mekong, tập trung vào bảo vệ quyền của mỗi quốc gia và yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người dân, các nước láng giềng và cả hành tinh.

Đọc tiếp...

Chiến lược đối ngoại của Trung Quốc: Xung đột với trật tự hiện nay

Chiến lược đối ngoại của Trung Quốc: Xung đột với trật tự hiện nay

Sự mâu thuẫn trong chính sách đối ngoại hiện nay mà chính quyền Tập Cận Bình đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình triển khai chính sách đối ngoại của mình, tiêu biểu là vấp phải sự kiềm chế của Mỹ, sự nghi ngờ và thiếu tin tưởng của chính quyền cũng như người dân các nước xung quanh. Chính vì vậy, mục tiêu xác lập lại trật tự quốc tế theo hướng có lợi cho Trung Quốc đã chưa thể thành hiện thực.

Đọc tiếp...

Ông Tập Cận Bình và vòng vây chính trị từ nay đến năm 2022

Ông Tập Cận Bình và vòng vây chính trị từ nay đến năm 2022

Sự bất bình ở nước ngoài đối với Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình đã lan rộng nhanh chóng trong năm qua, ít nhất ở các nước phát triển. Một số nước nhỏ hơn như Úc và Canada, cảm thấy bị Bắc Kinh chèn ép. Các nước láng giềng thì lo ngại nguy cơ bị gạt ra ngoài.

Đọc tiếp...

“Ngoại giao Nước lớn” thời Tập Cận Bình: Hệ quả từ Sức mạnh Ngày càng Lớn của Trung Quốc

“Ngoại giao Nước lớn” thời Tập Cận Bình: Hệ quả từ Sức mạnh Ngày càng Lớn của Trung Quốc

Các lãnh đạo Trung Quốc từ thời Mao có xu hướng xếp chính sách đối ngoại ở vị trí thứ yếu trong nghị trình quản trị đất nước. Tuy nhiên, ông Tập cho thấy quyết tâm và sự tự tin thay đổi khuôn mẫu truyền thống này nghiêng về cách tiếp cận thống nhất. Khi làm vậy, ông Tập Cận Bình hướng tới một chính sách đối ngoại quyết đoán hơn.

Đọc tiếp...

Có phải Tập Cận Bình châm ngòi chống đối?

Có phải Tập Cận Bình châm ngòi chống đối?

Có phải Tập Cận Bình đã phạm sai lầm khi khẳng định vị thế cường quốc thế giới lớn hơn cho Trung Quốc tương xứng với sức mạnh kinh tế của nước này? Lẽ nào Trung Quốc cần phải tiếp tục “giấu mình chờ thời” thêm một đến hai thập kỉ nữa, cho đến khi đạt được vị thế dẫn đầu về công nghệ tiên tiến và thương mại toàn cầu ở ngưỡng không thể bị đánh trả?

Đọc tiếp...

Luật pháp và Sức mạnh trong Quan hệ Quốc tế của Trung Quốc

Luật pháp và Sức mạnh trong Quan hệ Quốc tế của Trung Quốc

Bài viết này phân tích một chuỗi các vấn đề nổi cộm của Trung Quốc trên lý thuyết cũng như trong thực tiễn, bao gồm thực tiễn tại WTO của Trung Quốc, tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp biển, các hiệp định song phương về quyền dân sự, chính trị và các hiệp định đa phương.

Đọc tiếp...

Bộ máy tuyên truyền đối ngoại của Trung Quốc

Bộ máy tuyên truyền đối ngoại của Trung Quốc

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) từ lâu có hình ảnh quốc tế thiếu sức hút vì “sức mạnh mềm” khiêm tốn. Hình ảnh nghèo nàn này khiến cộng đồng quốc tế khó chấp nhận Trung Quốc trỗi dậy như một quốc cường toàn cầu. Với mục tiêu “hãnh diện” (yao mianzi) trên trường quốc tế, những năm gần đây, Đảng Cộng Sản Trung Quốc (CCP) đầu tư rất nhiều để cải thiện hình ảnh quốc tế.

Đọc tiếp...

Trung Quốc tạo rủi ro cho các nước đang phát triển

Trung Quốc tạo rủi ro cho các nước đang phát triển

Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất thế giới, tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng tại các nước đang phát triển để đổi lấy quyền tiếp cận các loại nguyên liệu thô. Một nghiên cứu mới cho thấy nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng nợ mới là rất lớn.

Đọc tiếp...

Hoạt động của các trung tâm nghiên cứu do Trung Quốc tài trợ ở Washington

Hoạt động của các trung tâm nghiên cứu do Trung Quốc tài trợ ở Washington

Theo báo cáo của Ủy ban Quốc hội Mỹ, Trung Quốc đang âm thầm tăng cường các hoạt động gây ảnh hưởng tại Mỹ, bao gồm cả việc tài trợ cho các cơ quan nghiên cứu ở Washington và ép buộc người Mỹ gốc Hoa.

Đọc tiếp...

Tham vọng của Tập Cận Bình về quân đội Trung Quốc “tầm cỡ thế giới” vào năm 2050

Tham vọng của Tập Cận Bình về quân đội Trung Quốc “tầm cỡ thế giới” vào năm 2050

Tập Cận Bình quyết định rằng việc giành chiến thắng trong các cuộc chiến như thế đòi hỏi sự thay đổi về cấu trúc của lực lượng vũ trang Trung Quốc. Trong 3 năm qua, Tập Cận Bình đã làm được nhiều việc hơn so với bất kỳ nhà lãnh đạo nào của Trung Quốc kể từ thời Đặng Tiểu Bình nhằm cải cách PLA.

Đọc tiếp...

Giải mã vấn đề nợ trong sáng kiến “Vành đai và Con đường”

Giải mã vấn đề nợ trong sáng kiến “Vành đai và Con đường”

Tiền của Trung Quốc lấp đầy khoảng trống trong quỹ tài trợ cơ sở hạ tầng quốc tế. Vậy tại sao nó lại gây ra nợ nần và tranh luận?

Đọc tiếp...

Đánh giá 5 năm triển khai BRI của Trung Quốc

Đánh giá 5 năm triển khai BRI của Trung Quốc

Đến nay, Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) đã triển khai thực hiện được 5 năm. Trong 5 năm qua, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu lớn, nhưng cũng có những khiếm khuyết, và còn có nhiều chỗ có thể cải thiện và làm tốt hơn.

Đọc tiếp...

Bước chuyển nền ngoại giao Trung Quốc trong thời đại hiện nay

Bước chuyển nền ngoại giao Trung Quốc trong thời đại hiện nay

Năm 1978 là một thời điểm quan trọng. Đó là năm khởi động cải cách mở cửa, ngoại giao Trung Quốc cũng bắt đầu trải qua sự thay đổi lớn. Ngoại giao phục vụ cho phát triển kinh tế trong nước là chủ đề chính của ngoại giao Trung Quốc thời kỳ này. Sau 40 năm cải cách mở cửa, sức mạnh tổng hợp quốc gia và sức ảnh hưởng quốc tế của Trung Quốc tăng mạnh, ngoại giao Trung Quốc một lần nữa đứng ở ngưỡng cửa lịch sử của sự chuyển mình.

Đọc tiếp...

Các tỉnh thành của Trung Quốc đã ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của quốc gia này như thế nào?

Các tỉnh thành của Trung Quốc đã ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của quốc gia này như thế nào?

Bài nghiên cứu phân tích về vai trò của các chủ thể địa phương tại Trung Quốc, tập trung vào việc các chủ thể này đã định hình chính sách kinh tế và đối nội như thế nào. Lấy Hải Nam và Vân Nam làm hai trường hợp nghiên cứu, bài viết tìm ra 3 cơ chế về tầm ảnh hưởng của các tỉnh thành: khởi xướng , lợi dụng, và kháng cự.

Đọc tiếp...

"Made in China 2025" - Một đánh giá chuyên sâu

“Made in China 2025” là một phần then chốt trong cấu trúc phức tạp gồm các kế hoạch và chính sách nhằm mục đích tạo ra “sự phát triển theo định hướng đổi mới”, một chương trình nghị sự nổi lên như một ưu tiên rõ ràng dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình.

Đọc tiếp...

Học thuyết quân sự của Trung Quốc với Chủ tịch Tập Cận Bình

Học thuyết quân sự của Trung Quốc với Chủ tịch Tập Cận Bình

“Đường lối chính sách” của Tập Cận Bình không quan tâm nhiều đến việc phân tích các mối đe dọa mới hay các vấn đề học thuyết trừu tượng nhất, mà thay vào đó là danh sách những thứ mà PLA tuyệt đối phải hoàn tất trong một khoảng thời gian ngắn.

Đọc tiếp...

Năm thách thức đối với “Vành đai và Con đường”

Năm thách thức đối với “Vành đai và Con đường”

Bước sang năm thứ 5, nếu BRI là cách để Trung Quốc thúc đẩy cải cách và mở cửa, Trung Quốc phải cho phép sự linh hoạt thay vì áp dụng một công thức phát triển “không có gì mới mẻ” cho các nước đối tác.

Đọc tiếp...

Liệu Trung Quốc có trở thành cường quốc hình mẫu của thế kỷ 21?

Liệu Trung Quốc có trở thành cường quốc hình mẫu của thế kỷ 21?

Trung Quốc đã nổi lên là một cường quốc kinh tế, và mong muốn trở thành cường quốc trong mọi lĩnh vực. Trung Quốc đang phát triển một chiến lược gắn kết và tổng thể nhằm khẳng định, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước, là một cường quốc hình mẫu về kinh tế, quân sự, ngoại giao, chính trị và ý thức hệ. Trung Quốc còn dự định đề xuất một mô hình phát triển và quản trị đất nước thực sự, và tiến hành cơ cấu lại quản trị toàn cầu.

Đọc tiếp...

Bẫy nợ của Tập Cận Bình

Bẫy nợ của Tập Cận Bình

Ai mới thực sự là kẻ thù của Trung Quốc? Có phải là Mỹ không? Hay là Nhật Bản? Nga? Nếu bình tĩnh suy nghĩ về mọi việc, thì có lẽ câu trả lời không nằm trong số đó. Kẻ thù của Trung Quốc là chính mình.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7056 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin