24 - 9 - 2019 | 1:42
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC Không có bằng chứng ủng hộ chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông

Không có bằng chứng ủng hộ chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông

Email In PDF.

Mặc dù Trung Quốc khẳng định chủ quyền lịch sử đối với nhiều phần ở Biển Đông, gần đây một số nhà bình luận cho rằng đã có nhầm lẫn trong cách hiểu về tranh chấp ở Biển Đông và không có bằng chứng nào ủng hộ các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.

 

TS. Li Dexia và ông Tan Keng Tat là tiêu biểu trong số những người ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên, khi được đề nghị cung cấp chứng cứ rõ ràng cho các lập luận của mình, họ đã không thể chứng minh yêu sách chủ quyền của Trung Quốc với bất kỳ hòn đảo cụ thể nào được thực hiện trước năm 1909, đơn giản là không có chứng cứ xác thực, hoặc chỉ là những bao biện không đúng sự thật. Không có bằng chứng cho thấy các nhân vật thời tiền hiện đại của Trung Quốc như Trịnh Hoà (Zheng He) hay các đô đốc nhà Minh đã từng thực hiện chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Các đoàn quân viễn chinh Mông Cổ từ thế kỷ trước cũng vậy. Vào 500 năm trước, người đi biển thường đi thuyền xung quanh bờ biển để tránh các rạn san hô.

Lập luận mơ hồ

Chắc chắn có các văn tự cổ Trung Quốc đề cập đến khái niệm “đảo”, nhưng tất cả đều rất mơ hồ, không liên quan đến phần đất cụ thể và không chứng minh được việc khai phá hay khẳng định chủ quyền. Một số các ghi chép là của những người nước ngoài đến Trung Quốc, một số khác nói tới những vị trí bí ẩn gần lối vào thế giới ngầm, và một số khác nữa là sao chép các bản đồ Châu Âu.

TS. Li và ông Tan đã đưa ra một số quan điểm cụ thể, tuy nhiên, đều thiếu chính xác. Trước hết, họ đã thất bại trong việc thuyết phục rằng cái tên “Tây Sa” đã xuất hiện trong các tài liệu của Trung Quốc trước khi cái tên “West Sand” xuất hiện trên bản đồ phương Tây. Bên cạnh đó, việc khẳng định các thỏa thuận năm 1887 giữa Pháp và Trung Quốc trong đó trao quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc là không đúng sự thật. Thoả thuận được nhắc tới (ký tại Bắc Kinh ngày 26/6/1887) chỉ nhắc đến khu vực Đông Dương mà thực dân Pháp gọi là “Tonkin- Bắc Bộ” - một phần cực bắc của Việt Nam bây giờ.

Các luận điểm cũng nhắc đến “đá đánh dấu” (stone marker) được các tướng lĩnh Trung Quốc đặt tại quần đảo Hoàng Sa vào năm 1902 và 1907 khi đoàn thám hiểm hải quân Trung Quốc đến đảo Duy Mộng (Drummond). Tuy nhiên, chưa tìm thấy bằng chứng nào cho thấy sự kiện này thực sự đã diễn ra.

Phần lớn các tuyên bố của Trung Quốc đều dựa trên những khẳng định không có nguồn gốc được lặp đi lặp lại trong nhiều thập kỷ mà không vấp phải một sự kiểm chứng cụ thể nào. Nhiều trong số đó đã trở thành một phần của “kiến thức thông thường” (conventional wisdom) của quốc tế về Biển Đông. Chúng được tìm thấy trong bài báo của Hungdah Chiu và Choon-ho Park mà các tác giả Li và Tan đề cập, trong bài viết năm 1976 “Các đảo tranh chấp ở Biển Đông” của Dieter Heinzig, và trong cuốn sách năm 1982 của Marwyn Samuels “Tranh chấp Biển Đông”, những tài liệu mà nhiều học giả quốc tế sau đó đã dựa vào.

Các ghi nhận của Heinzig và Samuels là những nỗ lực tiên phong, mang lại nhiều hiểu biết cần thiết về chủ đề này, tuy nhiên, phần lớn chúng lại dựa trên các bài báo xuất bản trên các tạp chí của Đảng Cộng Sản Trung Quốc sau khi Trung Quốc chiếm đóng nửa phía Tây của quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1/1974. Một được xuất bản trong ấn phẩm tháng 3/1974 Nhật báo những năm 70 (Ch”i-shi niên-tai Yueh-k”an) và hai trong ấn phẩm tháng 5/1974 của Nhật báo Ming Pao. Những bài báo này rõ ràng không thể hiện tính trung lập vì mục đích của chúng là biện minh cho cuộc xâm lược.

Trích dẫn không đầy đủ

Ngoài ra, trong các bài viết của mình, các tác giả trên đã trích dẫn không đầy đủ các tài liệu lịch sử. Ví dụ như bức thư của Thủ Tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gửi người đồng nhiệm Trung Quốc tháng 9/1958, trả lời “Tuyên bố về lãnh hải” của Bắc Kinh. Tuyên bố này có nêu việc mở rộng vùng lãnh hải của Trung Quốc ra đến 12 hải lý - một động thái nhằm mục đích ngăn chặn can thiệp của tàu Mỹ hỗ trợ các đơn vị đồn trú Đài Loan trên đảo Kim Môn (Jinmen) và Mã Tổ (Mazu). Ngoài ra, phần thứ hai của Tuyên bố 1958 khẳng định yêu sách của Trung Quốc với các đảo trên Biển Đông. Toàn văn bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai đã loại phần thứ hai này trong khi ủng hộ phần đầu. Câu chữ đầy đủ là “Chính Phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công nhận và chấp thuận tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của CP nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa liên quan đến quyết định đối với vùng lãnh hải của Trung Quốc”. Như vậy, Việt Nam không rõ ràng bác bỏ nhưng cũng không ủng hộ các yêu sách của Trung Quốc.

Các tác giả cũng đã trích dẫn Tuyên bố Cairo ngày 27/11/1943 như sau: “Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi tất cả các vùng lãnh thổ khác mà nước này đã chiếm bằng bạo lực và lòng tham”. Câu này trên thực tế đầy đủ là: “... Nhật Bản bị tước quyền khỏi tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà nước này đã nắm giữ hoặc chiếm đóng kể từ khi bắt đầu chiến tranh thế giới lần thứ nhất vào năm 1914, và rằng tất cả các lãnh thổ Nhật Bản đã đánh cắp từ Trung Quốc, như Mãn Châu, Đài Loan, và Bành Hồ, phải được trả lại cho Đài Loan. Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi tất cả các vùng lãnh thổ khác mà nước này đã chiếm bằng bạo lực và lòng tham”. Tuyên bố không đề cập đến bất kỳ đảo nào khác trên Biển Đông, ngoại trừ Đài Loan và Bành Hồ, và không nhắc gì về “quyền sở hữu” của Trung Quốc đối với các vùng lãnh thổ khác mà Nhật Bản bị trục xuất.

Cần chia nhỏ các yêu sách cụ thể

Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đều tuyên bố quyền sở hữu đối với các nhóm đảo lớn như thể chúng là một đơn vị duy nhất. Philippines đòi chủ quyền với một tập hợp các đảo thuộc quần đảo Trường Sa mà họ gọi là Nhóm đảo Kalayaan trong khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền với cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tranh chấp Biển Đông sẽ trở nên dễ dàng giải quyết hơn nếu những yêu sách lớn được chia thành các yêu sách nhỏ cụ thể đối với các đảo cụ thể, với các bằng chứng cụ thể. Để làm được điều này sẽ đòi hỏi các cơ quan Chính phủ đưa ra các bằng chứng về các hành động thực tế thể hiện chủ quyền. Trung Quốc đã thất bại trong việc đưa ra bằng chứng lịch sử thuyết phục cho những yêu sách của mình, ít nhất những bằng chứng này không tồn tại đối với Trung Quốc trước ngày 6/6/1909 trong trường hợp quần đảo Hoàng Sa và ngày 12/12/1946 đối với quần đảo Trường Sa./.

Bài của Bill Hayton, Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajatnam, đăng trên trang mạng RSIS

Duy Anh (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đằng sau việc Trung Quốc muốn kiểm soát hai vùng biển ở Đông Á

Đằng sau việc Trung Quốc muốn kiểm soát hai vùng biển ở Đông Á

Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) trong 4 năm qua đã đẩy mạnh các cuộc tập trận quân sự xung quanh hai tuyến đường biển chiến lược - Kênh đào Bashi và Eo biển Miyako - để bảo vệ lối ra vào các vùng biển của nước này.

Đọc tiếp...

Hồi kết của phép màu kinh tế Trung Quốc

Hồi kết của phép màu kinh tế Trung Quốc

Phép màu kinh tế của Trung Quốc đang gần tới hạn, và giờ có nguy cơ gây ra hại nhiều hơn lợi. 

Đọc tiếp...

Tính toán của Trung Quốc đằng sau chiến lược xây đập trên sông Mekong

Tính toán của Trung Quốc đằng sau chiến lược xây đập trên sông Mekong

Cách duy nhất để tránh một tương lai ảm đạm cho toàn bộ khu vực này là chấm dứt việc xây dựng đơn phương các đập trên toàn bộ sông Mekong, tập trung vào bảo vệ quyền của mỗi quốc gia và yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người dân, các nước láng giềng và cả hành tinh.

Đọc tiếp...

Chiến lược đối ngoại của Trung Quốc: Xung đột với trật tự hiện nay

Chiến lược đối ngoại của Trung Quốc: Xung đột với trật tự hiện nay

Sự mâu thuẫn trong chính sách đối ngoại hiện nay mà chính quyền Tập Cận Bình đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình triển khai chính sách đối ngoại của mình, tiêu biểu là vấp phải sự kiềm chế của Mỹ, sự nghi ngờ và thiếu tin tưởng của chính quyền cũng như người dân các nước xung quanh. Chính vì vậy, mục tiêu xác lập lại trật tự quốc tế theo hướng có lợi cho Trung Quốc đã chưa thể thành hiện thực.

Đọc tiếp...

Ông Tập Cận Bình và vòng vây chính trị từ nay đến năm 2022

Ông Tập Cận Bình và vòng vây chính trị từ nay đến năm 2022

Sự bất bình ở nước ngoài đối với Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình đã lan rộng nhanh chóng trong năm qua, ít nhất ở các nước phát triển. Một số nước nhỏ hơn như Úc và Canada, cảm thấy bị Bắc Kinh chèn ép. Các nước láng giềng thì lo ngại nguy cơ bị gạt ra ngoài.

Đọc tiếp...

“Ngoại giao Nước lớn” thời Tập Cận Bình: Hệ quả từ Sức mạnh Ngày càng Lớn của Trung Quốc

“Ngoại giao Nước lớn” thời Tập Cận Bình: Hệ quả từ Sức mạnh Ngày càng Lớn của Trung Quốc

Các lãnh đạo Trung Quốc từ thời Mao có xu hướng xếp chính sách đối ngoại ở vị trí thứ yếu trong nghị trình quản trị đất nước. Tuy nhiên, ông Tập cho thấy quyết tâm và sự tự tin thay đổi khuôn mẫu truyền thống này nghiêng về cách tiếp cận thống nhất. Khi làm vậy, ông Tập Cận Bình hướng tới một chính sách đối ngoại quyết đoán hơn.

Đọc tiếp...

Có phải Tập Cận Bình châm ngòi chống đối?

Có phải Tập Cận Bình châm ngòi chống đối?

Có phải Tập Cận Bình đã phạm sai lầm khi khẳng định vị thế cường quốc thế giới lớn hơn cho Trung Quốc tương xứng với sức mạnh kinh tế của nước này? Lẽ nào Trung Quốc cần phải tiếp tục “giấu mình chờ thời” thêm một đến hai thập kỉ nữa, cho đến khi đạt được vị thế dẫn đầu về công nghệ tiên tiến và thương mại toàn cầu ở ngưỡng không thể bị đánh trả?

Đọc tiếp...

Luật pháp và Sức mạnh trong Quan hệ Quốc tế của Trung Quốc

Luật pháp và Sức mạnh trong Quan hệ Quốc tế của Trung Quốc

Bài viết này phân tích một chuỗi các vấn đề nổi cộm của Trung Quốc trên lý thuyết cũng như trong thực tiễn, bao gồm thực tiễn tại WTO của Trung Quốc, tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp biển, các hiệp định song phương về quyền dân sự, chính trị và các hiệp định đa phương.

Đọc tiếp...

Bộ máy tuyên truyền đối ngoại của Trung Quốc

Bộ máy tuyên truyền đối ngoại của Trung Quốc

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) từ lâu có hình ảnh quốc tế thiếu sức hút vì “sức mạnh mềm” khiêm tốn. Hình ảnh nghèo nàn này khiến cộng đồng quốc tế khó chấp nhận Trung Quốc trỗi dậy như một quốc cường toàn cầu. Với mục tiêu “hãnh diện” (yao mianzi) trên trường quốc tế, những năm gần đây, Đảng Cộng Sản Trung Quốc (CCP) đầu tư rất nhiều để cải thiện hình ảnh quốc tế.

Đọc tiếp...

Trung Quốc tạo rủi ro cho các nước đang phát triển

Trung Quốc tạo rủi ro cho các nước đang phát triển

Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất thế giới, tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng tại các nước đang phát triển để đổi lấy quyền tiếp cận các loại nguyên liệu thô. Một nghiên cứu mới cho thấy nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng nợ mới là rất lớn.

Đọc tiếp...

Hoạt động của các trung tâm nghiên cứu do Trung Quốc tài trợ ở Washington

Hoạt động của các trung tâm nghiên cứu do Trung Quốc tài trợ ở Washington

Theo báo cáo của Ủy ban Quốc hội Mỹ, Trung Quốc đang âm thầm tăng cường các hoạt động gây ảnh hưởng tại Mỹ, bao gồm cả việc tài trợ cho các cơ quan nghiên cứu ở Washington và ép buộc người Mỹ gốc Hoa.

Đọc tiếp...

Tham vọng của Tập Cận Bình về quân đội Trung Quốc “tầm cỡ thế giới” vào năm 2050

Tham vọng của Tập Cận Bình về quân đội Trung Quốc “tầm cỡ thế giới” vào năm 2050

Tập Cận Bình quyết định rằng việc giành chiến thắng trong các cuộc chiến như thế đòi hỏi sự thay đổi về cấu trúc của lực lượng vũ trang Trung Quốc. Trong 3 năm qua, Tập Cận Bình đã làm được nhiều việc hơn so với bất kỳ nhà lãnh đạo nào của Trung Quốc kể từ thời Đặng Tiểu Bình nhằm cải cách PLA.

Đọc tiếp...

Giải mã vấn đề nợ trong sáng kiến “Vành đai và Con đường”

Giải mã vấn đề nợ trong sáng kiến “Vành đai và Con đường”

Tiền của Trung Quốc lấp đầy khoảng trống trong quỹ tài trợ cơ sở hạ tầng quốc tế. Vậy tại sao nó lại gây ra nợ nần và tranh luận?

Đọc tiếp...

Đánh giá 5 năm triển khai BRI của Trung Quốc

Đánh giá 5 năm triển khai BRI của Trung Quốc

Đến nay, Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) đã triển khai thực hiện được 5 năm. Trong 5 năm qua, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu lớn, nhưng cũng có những khiếm khuyết, và còn có nhiều chỗ có thể cải thiện và làm tốt hơn.

Đọc tiếp...

Bước chuyển nền ngoại giao Trung Quốc trong thời đại hiện nay

Bước chuyển nền ngoại giao Trung Quốc trong thời đại hiện nay

Năm 1978 là một thời điểm quan trọng. Đó là năm khởi động cải cách mở cửa, ngoại giao Trung Quốc cũng bắt đầu trải qua sự thay đổi lớn. Ngoại giao phục vụ cho phát triển kinh tế trong nước là chủ đề chính của ngoại giao Trung Quốc thời kỳ này. Sau 40 năm cải cách mở cửa, sức mạnh tổng hợp quốc gia và sức ảnh hưởng quốc tế của Trung Quốc tăng mạnh, ngoại giao Trung Quốc một lần nữa đứng ở ngưỡng cửa lịch sử của sự chuyển mình.

Đọc tiếp...

Các tỉnh thành của Trung Quốc đã ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của quốc gia này như thế nào?

Các tỉnh thành của Trung Quốc đã ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của quốc gia này như thế nào?

Bài nghiên cứu phân tích về vai trò của các chủ thể địa phương tại Trung Quốc, tập trung vào việc các chủ thể này đã định hình chính sách kinh tế và đối nội như thế nào. Lấy Hải Nam và Vân Nam làm hai trường hợp nghiên cứu, bài viết tìm ra 3 cơ chế về tầm ảnh hưởng của các tỉnh thành: khởi xướng , lợi dụng, và kháng cự.

Đọc tiếp...

"Made in China 2025" - Một đánh giá chuyên sâu

“Made in China 2025” là một phần then chốt trong cấu trúc phức tạp gồm các kế hoạch và chính sách nhằm mục đích tạo ra “sự phát triển theo định hướng đổi mới”, một chương trình nghị sự nổi lên như một ưu tiên rõ ràng dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình.

Đọc tiếp...

Học thuyết quân sự của Trung Quốc với Chủ tịch Tập Cận Bình

Học thuyết quân sự của Trung Quốc với Chủ tịch Tập Cận Bình

“Đường lối chính sách” của Tập Cận Bình không quan tâm nhiều đến việc phân tích các mối đe dọa mới hay các vấn đề học thuyết trừu tượng nhất, mà thay vào đó là danh sách những thứ mà PLA tuyệt đối phải hoàn tất trong một khoảng thời gian ngắn.

Đọc tiếp...

Năm thách thức đối với “Vành đai và Con đường”

Năm thách thức đối với “Vành đai và Con đường”

Bước sang năm thứ 5, nếu BRI là cách để Trung Quốc thúc đẩy cải cách và mở cửa, Trung Quốc phải cho phép sự linh hoạt thay vì áp dụng một công thức phát triển “không có gì mới mẻ” cho các nước đối tác.

Đọc tiếp...

Liệu Trung Quốc có trở thành cường quốc hình mẫu của thế kỷ 21?

Liệu Trung Quốc có trở thành cường quốc hình mẫu của thế kỷ 21?

Trung Quốc đã nổi lên là một cường quốc kinh tế, và mong muốn trở thành cường quốc trong mọi lĩnh vực. Trung Quốc đang phát triển một chiến lược gắn kết và tổng thể nhằm khẳng định, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước, là một cường quốc hình mẫu về kinh tế, quân sự, ngoại giao, chính trị và ý thức hệ. Trung Quốc còn dự định đề xuất một mô hình phát triển và quản trị đất nước thực sự, và tiến hành cơ cấu lại quản trị toàn cầu.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 8432 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin