24 - 5 - 2013 | 6:45
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC Khi nào và Tại sao Trung Quốc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ

Khi nào và Tại sao Trung Quốc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ

Email In PDF.

Tại sao và Khi nào Trung Quốc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ là cơ sở quan trọng giúp dự đoán hành vi của nước này. Bài nghiên cứu của GS. Fravel Taylor, Viện Công nghệ MIT chỉ ra rằng: khi ưu thế thương lượng suy giảm là lúc Trung Quốc thường sử dụng vũ lực nhất.

 

Khi sức mạnh quân sự của Trung Quốc gia tăng thì các quan ngại về khả năng Trung Quốc xâm chiếm lãnh thổ của các nước khác cũng gia tăng theo. Những quan ngại này cho thấy sự bất ổn và lo ngại luôn song hành cùng với sự dịch chuyển sức mạnh. Trong lịch sử, phát triển nhanh chóng bên trong thường thúc đẩy các nước xác định lại và mở rộng lợi ích của mình ra bên ngoài.[1] Hơn nữa, phát triển kinh tế giúp các nước đầu tư tăng cường tiềm lực quân sự để theo đuổi lợi ích của mình, đặc biệt là các yêu sách về lãnh thổ dài hạn. Phản ánh những lo ngại này, Ủy ban Đánh giá Quan hệ Kinh tế và An ninh Mỹ – Trung của Quốc hội Mỹ, kết luận rằng Trung Quốc có thể “lợi dụng sức mạnh quân sự tiên tiến hơn để đe dọa sử dụng vũ lực, hoặc sử dụng vũ lực nhằm hỗ trợ các giải pháp giải quyết tranh chấp lãnh thổ theo hướng có lợi cho mình”.[2]

Tuy nhiên, cách thức Trung Quốc sử dụng vũ lực trong các tranh chấp lãnh thổ kể từ năm 1949 đến nay hết sức đa dạng. Trung Quốc có tổng cộng hai mươi ba tranh chấp lãnh thổ với các quốc gia khác, nhưng cho đến nay họ mới chỉ sử dụng vũ lực trong sáu trường hợp.[3] Một số tranh chấp, đặt biệt là tranh chấp với Ấn Độ và Việt Nam, rất khốc liệt; những tranh chấp khác, như tranh chấp giữa Trung Quốc và Liên Xô, từng có nguy cơ chuyển thành chiến tranh hạt nhân. Mặc dù Trung Quốc luôn sẵn sàng sử dụng vũ lực trong một số xung đột, nhưng Trung Quốc chỉ chiếm thêm rất ít lãnh thổ mà Trung Quốc không kiểm soát trước khi xảy ra xung đột. Ngoài ra, Trung quốc thỏa hiệp nhiều hơn là sử dụng vũ lực, và đã nhượng bộ tới mười bảy trong số hai mươi ba tranh chấp lãnh thổ.[4]   

Nếu chiếu theo các lý thuyết chính về quan hệ quốc tế thì so với các quốc gia có đặc điểm tương tự, Trung Quốc là nước ít hiếu chiến hơn. Đối với các học giả theo thuyết chủ nghĩa hiện thực về gây chiến trước (offensive realism), Trung Quốc hiếm khi khai thác ưu thế quân sự của mình để mặc cả quyết liệt nhằm đòi các vùng lãnh thổ mà Trung Quốc có yêu sách hoặc dùng vũ lực chiếm các vùng lãnh thổ này. Mặc dù sức mạnh quân sự và kinh tế của Trung Quốc đã mạnh hơn rất nhiều kể từ năm 1990, nhưng Trung Quốc cũng không tỏ ra hiếu chiến hơn khi xử lý các tranh chấp lãnh thổ. Đối với các học giả nghiên cứu các tác động của chủ nghĩa dân tộc, Trung Quốc sẵn sàng nhân nhượng về lãnh thổ. Điều này cho thấy không hẳn Trung Quốc lợi dụng quá khứ lịch sử là nạn nhân của nước ngoài và bị chia cắt lãnh thổ để có thái độ cứng rắn trong các tranh chấp về lãnh thổ. Các học giả chuyên nghiên cứu về vai trò của các thiết chế chính trị Trung Quốc cho biết Trung Quốc chỉ sử dụng vũ lực trong một số tranh chấp lãnh thổ, mặc dù hệ thống chính trị của Trung Quốc là độc tài, tập quyền và ít bị kiểm soát về sử dụng vũ lực.

Phân tích về việc Trung Quốc sử dụng vũ lực trong các tranh chấp lãnh thổ trong quá khứ sẽ là cơ sở giúp chúng ta đoán biết khả năng xảy ra các xung đột bạo lực ở Đông Á. Trong hệ thống quốc tế bao gồm các quốc gia có chủ quyền, hành vi của một quốc gia trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ là một yếu tố quan trọng để xác định quốc gia đó muốn duy trì nguyên trạng hay tìm cách thay đổi đường biên giới quốc gia của mình. Trong lịch sử, lãnh thổ là vấn đề dễ đẩy các quốc gia đi đến chiến tranh nhất.[5] Hiện nay, các tranh chấp của Trung Quốc đối với Đài Loan và quần đảo Điếu Ngư (Senkaku) với Nhật đang làm tăng nguy cơ chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ, vì Mỹ có quan hệ an ninh mật thiết với cả Đài Bắc và Tokyo. Mặc dù nhiều nghiên cứu chứng minh rằng Trung Quốc sử dụng vũ lực chủ yếu trong các tranh chấp lãnh thổ, nhưng chưa có một nghiên cứu mang tính hệ thống, phân tích kỹ lưỡng Trung Quốc thường sử dụng vũ lực trong những hoàn cảnh nào.[6]

Các nghiên cứu hiện tại mới chỉ xác định được những tranh chấp dễ có nguy cơ dẫn đến chiến tranh nhất. Các quốc gia theo chế độ dân chủ và đồng minh của họ ít có khả năng đánh nhau để tranh giành lãnh thổ hơn các quốc gia khác. Trái lại, các quốc gia có thiên hướng dùng sử dụng vũ lực để tranh giành lãnh thổ là các quốc gia được đánh giá cao về vị trí chiến lược, tiềm năng kinh tế và tính biểu tượng, hoặc mạnh hơn đối phương về mặt quân sự.[7] Nghiên cứu này đã giúp hiểu rõ hơn bản chất của tranh chấp lãnh thổ, nhưng lại không giải thích được về mặt lý thuyết quyết định sử dụng vũ lực của các quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu về lãnh thổ. Các nghiên cứu này chủ yếu làm sáng tỏ biến số có tính quyết định trong việc giải quyết tranh chấp, xác định các tranh chấp dễ có khả năng bùng nổ thành chiến tranh. Mặc dù các yếu tố như giá trị của từng vùng lãnh thổ đang tranh chấp có khác nhau, nhưng trong hầu hết các tranh chấp cụ thể thì đó lại là những nhân tố bất biến và do điều này khiến cho việc lý giải quyết định sử dụng vũ lực của các quốc gia khó khăn hơn.

Tranh chấp Đài Loan của Trung Quốc là ví dụ cụ thể về hạn chế của phương pháp tiếp cận này. Các nghiên cứu hiện tại đều dự đoán tranh chấp Đài Loan rất dễ xảy ra xung đột. Tranh chấp Đài Loan là tranh chấp lãnh thổ quan trọng nhất của Trung Quốc, vừa gắn với chủ nghĩa dân tộc hiện đại của Trung Quốc và tính hợp pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), vừa có tầm quan trọng về chiến lược và kinh tế. Kể từ sau năm 1949, Trung Quốc đã đủ mạnh về mặt quân sự để tấn công các đảo hoặc vùng lãnh thổ mà Trung Quốc kiểm soát, và trong chế độ độc tài của Trung Quốc chỉ có một số ít thiết chế có nhiệm vụ kiểm soát và cân bằng quyền lực liên quan đến việc sử dụng vũ lực. Tuy nhiên, việc sử dụng vũ lực trong tranh chấp Đài Loan của Trung Quốc đã thay đổi theo thời gian, bắt đầu bằng việc Trung Quốc gây ra các cuộc khủng hoảng lớn vào tháng 9 năm 1954, tháng 8 năm 1958, và tháng 7 năm 1995. Các nhân tố như tầm quan trọng của Đài Loan, các biện pháp gây sức ép, và thể chế chính trị của Trung Quốc chỉ giải thích một phần câu chuyện này, và các nhân tố này không thể lý giải được nguyên nhân tại sao Trung Quốc lại sử dụng vũ lực ở ba thời điểm nêu trên, chứ không phải là những thời điểm khác.

Để giải thích tại sao và khi nào các quốc gia sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ, tôi chuyển trọng tâm phân tích từ kết quả giải quyết tranh chấp sang quyết định của từng quốc gia. Kết hợp các hiểu biết từ lý thuyết chiến tranh phòng ngừa, tôi cho rằng sự suy giảm sức mạnh của quốc gia nêu yêu sách, tạm gọi là sự suy giảm ưu thế thương lượng của quốc gia đó trong cuộc tranh chấp, là nguyên nhân chính giải thích cho việc quốc gia đó sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ. Ưu thế thương lượng này bao gồm hai thành tố: phần lãnh thổ tranh chấp mà quốc gia đó chiếm hữu và khả năng sử dụng sức mạnh quân sự chống lại đối thủ trong khu vực tranh chấp. Khi nhận thấy đối phương đang tăng cường vị thế trong cuộc tranh chấp, thì nhiều khả năng quốc gia kia sẽ sử dụng vũ lực để ngăn chặn hoặc đảo ngược sự suy giảm sức mạnh của mình, hoặc chiếm luôn lãnh thổ tranh chấp nếu họ thấy cần thiết.

Việc suy giảm ưu thế thương lượng lý giải chính xác nhất việc Trung Quốc sẵn sàng sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ. Trung Quốc đã từng sử dụng vũ lực để chống lại những địch thủ có đủ sức mạnh quân sự thách thức sự kiểm soát của Trung Quốc đối với lãnh thổ tranh chấp. Trung Quốc cũng từng sử dụng vũ lực trong các tranh chấp mà Trung Quốc chỉ chiếm rất ít hoặc không chiếm các vùng lãnh thổ mà họ có yêu sách. Khi Trung Quốc phải đương đầu với một đối thủ đang tìm cách mở rộng phần lãnh thổ tranh chấp mà nước đó chiếm giữ hoặc tìm cách thay đổi cán cân quân sự khu vực có lợi cho họ, thì Trung Quốc thường đáp trả bằng vũ lực để thể hiện quyết tâm duy trì các yêu sách của mình, hoặc cũng có lúc Trung Quốc chiếm luôn một phần lãnh thổ đó.

Các mô thức sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc có một số tác động đối với lý thuyết quan hệ quốc tế. Trước hết, việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc củng cố thêm lý thuyết chiến tranh phòng ngừa và chứng minh tính hữu dụng của lý thuyết này trong việc lý giải các xung đột lợi ích cụ thể, chẳng hạn như tranh chấp lãnh thổ. Thứ hai, hành vi của Trung Quốc thách thức các lý thuyết về dịch chuyển quyền lực trong thời kỳ quá độ, trong đó khẳng định rằng một quốc gia đang lên có nhiều khả năng sử dụng vũ lực hơn một quốc gia đang trên đà suy yếu.[8] Tuy nhiên, trong các tranh chấp lãnh thổ, Trung Quốc thường sử dụng vũ lực khi sức mạnh của mình yếu đi chứ không phải mạnh lên.

Bài viết này bắt đầu bằng lập luận cho rằng sự suy giảm ưu thế thương lượng khích lệ các quốc gia sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Sau đó bài viết phân tích các biến số về việc Trung Quốc sử dụng vũ lực sáu, trong tổng số hai mươi ba tranh chấp lãnh thổ và nhận thấy các biến số này cho kết quả giống nhau, đó là Trung Quốc chỉ sử dụng sức mạnh quân sự trong tranh chấp lãnh thổ khi họ yếu đi. Ba phần tiếp theo của bài viết xem xét vai trò của sự suy giảm sức mạnh đối với quyết định sử dụng vũ lực trong tranh chấp Đài Loan, biên giới Trung - Ấn, và quần đảo Hoàng Sa khi Trung Quốc suy yếu đi. Bài viết kết thúc bằng cách xem xét các tác động từ những kết quả của nghiên cứu này đối với sự ổn định ở Đông Á sau khi nghiên cứu một số trường hợp Trung Quốc sử dụng vũ lực, cũng như các cách giải thích khác về hành vi của Trung Quốc.

Suy giảm quyền lực và Sử dụng Vũ lực Trong Các Tranh chấp Lãnh thổ

Các nghiên cứu về tranh chấp lãnh thổ thường coi sức mạnh quân sự là một biến số quan trọng khi giải thích sự leo thang xung đột lên cấp độ bạo lực cao nhất là chiến tranh. Ở mức độ nào đó, phát hiện này không có gì mới vì một trong những mục đích của quân sự là để chiếm và bảo vệ lãnh thổ trước lực lượng đối phương. Chỉ các quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh mới có thể sử dụng vũ lực để chiếm lãnh thổ tranh chấp. Đồng thời, phát hiện này vẫn còn nhiều khúc mắc chưa lý giải được về nguyên nhân sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ. Mặc dù các quốc gia mạnh hơn có thể dễ dàng sử dụng vũ lực để đạt được các mục tiêu về lãnh thổ, nhưng cũng chưa rõ tại sao và khi nào họ lại làm điều đó và liệu có phải lòng tham hay mối bất an thôi thúc họ làm điều đó không.

Áp dụng kiên thức có được từ lý thuyết chiến tranh phòng ngừa, tôi cho rằng sự suy giảm sức mạnh của quốc gia nêu yêu sách, tạm gọi là sự suy giảm ưu thế thương lượng của họ trong tranh chấp, là nguyên nhân chính dẫn đến việc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ. Chiến tranh phòng ngừa được định nghĩa là “cuộc chiến hiện tại nhằm tránh nguy cơ buộc phải tham chiến trong môi trường xấu hơn trong tương lai.”[9] Khi sức mạnh tổng thể của một quốc gia suy giảm, các nhà lãnh đạo quốc gia đó bắt đầu lo lắng về hậu quả lâu dài khi vị thế quốc gia họ bị suy yếu trong hệ thống quốc tế, ưu thế thương lượng trong tương lai suy giảm, và khả năng là họ buộc phải tham chiến trong những tình huống xấu hơn. Như Jack Levy đã chỉ rõ, những lo ngại này tạo ra “động lực phòng ngừa” bằng cách sử dụng vũ lực, tiến hành chiến tranh sớm còn hơn là muộn đã trở thành một giải pháp ngày càng hấp dẫn nhằm giảm bớt tác động của việc quốc gia đó yếu đi hoặc chỉ để duy trì ảnh hưởng của mình[10]. Quan trọng hơn, chiến tranh có thể xảy ra ngay cả khi không tồn tại bất cứ sự xung đột lợi ích cụ thể hoặc biến cố khai mào nào, mà có khi chỉ là sự bất an về tương lai. Trong nghiên cứu thực nghiệm, suy giảm sức mạnh khiến một bên dễ gây chiến trước thường được gọi là “lỗ hổng dễ tổn thương”.[11]

Để lý giải việc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ, tôi chuyển trọng tâm từ sự mơ hồ chung chung về vị thế tương lai của một quốc gia trong hệ thống quốc tế sang mối quan tâm cụ thể về ưu thế thương lượng của một quốc gia khi xảy ra sự xung đột lợi ích. Ưu thế thương lượng này được cấu thành bởi hai yếu tố. Yếu tố thứ nhất là phần lãnh thổ tranh chấp mà một quốc gia chiếm hữu được. Phần lãnh thổ tranh chấp mà quốc gia đó chiếm được càng lớn thì quốc gia đó càng có vị thế mạnh hơn, nếu tính đến cái giá mà đối phương phải trả để thay đổi hiện trạng lãnh thổ bằng vũ lực. Yếu tố thứ hai là khả năng mở rộng sức mạnh quân sự để chống lại đối phương trong các khu vực tranh chấp, gồm cả những khu vực mà quốc gia đó có yêu sách nhưng không cai trị. Ngay cả khi quốc gia đó chỉ nắm giữ một phần nhỏ của vùng lãnh thổ tranh chấp, thì họ vẫn có thể mở rộng sức mạnh ra toàn bộ khu vực tranh chấp và cả ngoài khu vực đó. Trong bối cảnh đó, việc mở rộng sức mạnh liên quan đến cân bằng quân sự khu vực, chứ không phải do vị thế tổng thể của quốc gia đó trong hệ thống quốc tế. Các quốc gia có rất nhiều mục tiêu an ninh khác nhau nên mỗi thành tố quân sự được gắn với một nhiệm vụ cụ thể, chẳng hạn như bảo vệ các yêu sách về lãnh thổ.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Fravel, M. Taylor

Quách Huyền, Trần Quang (dịch)

Thái Giang (hiệu đính)

Bản gốc: Power Shifts and Escalation Explaining China’s Use of Force in Territorial Disputes, đăng trên Project Muse



[1] Ví dụ, xem Robert Gilpin, War and Change in Politics (New York: Cambridge University Press, 1981); và AFK Organski, Worl Politics (New York: Alfred A. Knopf, 1958).

[2] 2006 Báo cáo Quốc hội của Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ – Trung (USCC), số 109, mục 2d, tháng 11 năm 2006, tr.130, http://www.uscc.gov/annual_report/2006/annual_report_full_06.pdf.

[3] Tranh chấp lãnh thổ được định nghĩa là một tuyên bố đối lập bởi hai hoặc nhiều quốc gia về quyền sở hữu và kiểm soát lãnh thổ, bao gồm cả đảo nhưng không bao gồm các tranh chấp phân giới đối với vùng đặc quyền kinh tế. Xem Paul K. Huth và Todd L. Allee, The Democratic Peace and Territorial Conflict in the Twentieth Century (Cambridge: Cambridge University Press, 2002), tr. 298.

[4] M. Taylor Fravel, “Regime Insecurity and International Cooperation: Explaining China’s Compromises in Territorial Disputes, Tạp chí An ninh Quốc tế, Tập 30, số 2 (Mùa Thu 2005), tr. 46-83.

[5] Ví dụ, xem Kalevi J. Holsti, Peace and War: Armed Conficts  and International Order, 1648–1989 (Cambridge: Cambridge University Press, 1991); và John A. Vasquez, The War Puzzle (New York: Cambridge University Press, 1993).

[6] Về vai trò của các tranh chấp lãnh thổ trong hành vi của Trung Quốc, xem Alastair Iain  Johnston, “China’s Militarized Interstate Dispute Behaviour, 1949–1992: A First Cut at the Data,” China Quarterly,  Số 153  (Tháng 3  1998), tr. 1–30. Những nghiên cứu về việc Trung Quốc sử dụng vũ lực bao gồm Thomas  J. Christensen,  “Windows and War: Trend Analysis and Beijing’s Use of Force,” Alastair Iain Johnston và Robert S. Ross biên tập, New Directions in the Study of China’s Foreign Policy (Stanford, Calif.: Stanford University Press, 2006), tr. 50–85; Melvin Gurtov và Byung-Moo Hwang, China under  Threat: The Politics of Strategy and Diplomacy (Baltimore, Md.: Johns  Hopkins University Press, 1980); Andrew Scobell, China’s Use of Military Force: Beyond the Great Wall and the Long March (New  York: Cambridge University Press, 2003); Gerald Segal, Defending China  (Oxford: Oxford University  Press, 1985); Allen S. Whiting, The Chinese Calculus of Deterrence:  India and Indochina (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1975); và Allen S. Whiting, “China’s Use of Force, 1950–96, and Taiwan,” International Security, Tập 26, Số 2 (Mùa thu 2001), tr. 103–131.

[7] Ví dụ, xem Giacomo Chiozza and Ajin Choi, “Guess Who Did What: Political Leaders and the Management of Territorial Disputes,  1950–1990,” Journal of Conflict  Resolution, tập 47, Số  3 (Tháng 6 2003), tr. 251–278; Gary Goertz and Paul F. Diehl, Territorial Changes and International Conflict (New York: Routledge, 1992); Paul R. Hensel, “Contentious Issues and World Politics: The Management of Territorial Claims in the Americas,  1816–1992,” International Studies Quarterly, tập  45, Số 1 (Tháng 3 2001), tr. 81–109; Paul R. Hensel và Sara McLaughlin Mitchell, “Issue Indi- visibility and Territorial Claims,” GeoJournal, Tập. 64, Số 6 (Tháng 12 2005), tr. 275–285; Paul K. Huth, Standing Your Ground: Territorial Disputes and International Conflict (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1996); và Huth and Allee, The Democratic Peace and Territorial Conflict in the Twen- tieth Century.

[8] Ví dụ, xem Organski, World Politics.

[9]Jack S. Levy, “Declining Power and the Preventive Motivation for War,” World Politics, Tập 40, Số 1 (Tháng 10 1987), tr. 82 (nhấn mạnh trong bản gốc). Xem thêm Dale C. Copeland, Origins of Major War (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 2000); và Stephen Van Evera, Causes of War: Power and the Roots of Conflict (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1999), tr. 73–104.

[10] Levy, “Declining Power and the Preventive Movation for War.”

[11] Van Evera, Causes of War, tr. 74. Đối với các ứng dụng, xem Copeland, Origins of Major War, tr. 56–117; và Stephen Van Evera, “The Cult of the Offensive and the Origins of the First World War,”

International Security, tập. 9, số 1 (Mùa hè 1984), tr. 58–107. Xem thêm Victor D. Cha, “Hawk En-

gagement and Preventive Defense on the Korean Peninsula,” International Security, Tập. 27, Số 1 (Mùa hè 2002), tr. 40–78; và Jack S. Levy and Joseph R. Gochal, “Democracy and Preventive War: Israel and the 1956 Sinai Campaign,” Security Studies, Tập 11, số 2 (Mùa đông 2001/02),  tr. 1–49. Về Trung Quốc, xem Christensen, "Windows and War", tr. 50-85. Bài viết của Christensen đã tác động đến suy nghĩ của tôi về hành vi của Trung Quốc trong tranh chấp lãnh thổ, mặc dù các nguyên nhân của tư duy phòng ngừa  mà tôi mô tả như leo thang trong tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc tập trung vào khả năng thương lượng trong xung đột, chứ không phải vào vị trí tổng thể của Trung Quốc trong hệ thống quốc tế.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Trịnh Vĩnh Niên: Lựa chọn khó khăn nhất trong tiến trình trỗi dậy của Trung Quốc

Trịnh Vĩnh Niên: Lựa chọn khó khăn nhất trong tiến trình trỗi dậy của Trung Quốc

Về phương thức lựa chọn con đường phát triển của Trung Quốc, Trịnh Vĩnh Niên - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Singapore cho rằng: “Đối với Trung Quốc, “giấu mình chờ thời” có thể là nguyên tắc căn bản nhất trong sự trỗi dậy hòa bình và bền vững của họ. Vênh vang với vũ lực và uy hiếp ắt sẽ rơi vào cảnh thất bại".

Đọc tiếp...

Vai trò đang thay đổi của Trung Quốc ở Châu Á

Vai trò đang thay đổi của Trung Quốc ở Châu Á

Khi mà sức mạnh kinh tế của Trung Quốc đang thay đổi vị thế của nước này ở Châu Á, thì tranh chấp lãnh thổ và các vấn đề gây tranh cãi khác cũng đang quyết định mối quan hệ của Bắc Kinh với các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Vị thế và vai trò của Trung Quốc trong tái thiết cục diện châu Á-Thái Bình Dương

Vị thế và vai trò của Trung Quốc trong tái thiết cục diện châu Á-Thái Bình Dương

Tình hình khu vực châu Á-Thái Bình Dương là một trật tự quốc tế tương đối ổn định, mang tính khu vực được hình thành trong quá trình tồn tại và phát triển của các nước ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Trật tự này được đa số các nước trong khu vực công nhận.

Đọc tiếp...

Quân đội: Công cụ hiện thực hóa “giấc mộng Trung Hoa” của Trung Quốc?

Quân đội: Công cụ hiện thực hóa “giấc mộng Trung Hoa” của Trung Quốc?

Ngay sau khi trở thành người đứng đầu Đảng Cộng sản, quân đội và nhà nước Trung Quốc, Tân lãnh đạo Tập Cận Bình đã có một loạt các phát biểu liên quan đến “giấc mộng Trung Hoa” và “giấc mơ quân đội mạnh”.

Đọc tiếp...

Trung Quốc - Bá quyền nguồn nước đập đang đe dọa châu Á

Trung Quốc - Bá quyền nguồn nước đập đang đe dọa châu Á

Những dự án xây dựng một loạt đập nước với quy mô lớn cho thấy một lối suy nghĩ hẹp hòi đặc trưng cho những tính toán trong chính sách về nguồn nước của Trung Quốc. Với việc triển khai một loạt các đập nước lớn ở những vùng biên chỉ có người dân tộc thiểu số sinh sống, Trung Quốc đang tìm cách chiếm đoạt nguồn nước sông trước khi chảy ra ngoài biên giới.

Đọc tiếp...

Thành công và thất bại trong hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc

Thành công và thất bại trong hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc

Trung Quốc đang có những bước tiến mạnh mẽ trong lĩnh vực chế tạo vũ khí. Tuy nhiên vấn đề gốc rễ, nhân tố quan trọng nhất mà Trung Quốc vẫn chưa thể giải quyết được triệt để là chế tạo động cơ. Nhưng đó cũng có thể là lý do để Trung Quốc quyết tâm đầu tư và đẩy mạnh làm chủ lĩnh vực này, nhất là trong bối cảnh Mỹ đang tích cực trở lại châu Á.

Đọc tiếp...

Những thách thức đối với chiến lược biển của Trung Quốc

Những thách thức đối với chiến lược biển của Trung Quốc

Thời gian gần đây, liên tục xảy ra tranh chấp biển giữa Trung Quốc với một số quốc gia, dẫn đến tình trạng “cùng gặp vấn đề ở 3 vùng biển” - Hoàng Hải, Đông Hải và Biển Đông. Bài viết đi từ các vấn đề biển Trung Quốc hiện phải đối mặt, phân tích bối cảnh tầng sâu nảy sinh vấn đề và thông qua đó đề ra biện pháp đối phó của Trung Quốc. 

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh láng giềng xung quanh Trung Quốc năm 2012

Tình hình an ninh láng giềng xung quanh Trung Quốc năm 2012

Năm 2013, cuộc chơi Trung - Mỹ vẫn sẽ là nhân tố chính ảnh hưởng đến cục diện Châu Á - Thái Bình Dương. Trung Quốc sẽ tiếp tục dùng thái độ cứng rắn để duy trì bảo vệ chủ quyền, tăng cường quản lý thực chất đối với Biển Đông và biển Hoa Đông.

Đọc tiếp...

Trung Quốc đẩy nhanh các dự án phát triển "Con đường Tơ lụa Mới" ở Trung Á

Trung Quốc đẩy nhanh các dự án phát triển

Trong khi Bộ Ngoại giao Mỹ mới chính thức công nhận khái niệm "Con đường Tơ lụa Mới" kết nối thương mại, giao thông vận tải và viễn thông khắp khu vực Á-Âu, thì Bắc Kinh và các công ty Trung Quốc đã nhanh chóng triển khai hàng loạt dự án xây dựng cơ sở hạ tầng liên kết các khu vực của hai lục địa với nhau. 

Đọc tiếp...

Trung Quốc đối mặt với 3 thách thức an ninh lớn trong năm 2013

Trung Quốc đối mặt với 3 thách thức an ninh lớn trong năm 2013

Các biện pháp tăng cường hiện diện chiến lược của Mỹ ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nhằm ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc và phản ứng của Bắc Kinh trước động thái đó sẽ xác định môi trường an ninh khu vực năm 2013. Trong năm 2013 Trung Quốc phải đối mặt với 3 thách thức an ninh lớn

Đọc tiếp...

Các ưu tiên đối ngoại của ông Tập Cận Bình

Các ưu tiên đối ngoại của ông Tập Cận Bình

Các lãnh đạo mới của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã nhậm chức nhưng những chính sách mới vẫn chưa được triển khai. Họ cần phải chú tâm giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại ngay lập tức, nếu không những khó khăn do các thế hệ lãnh đạo trước để lại ngày càng xấu thêm.

Đọc tiếp...

Triển vọng về chính sách đối ngoại của Trung Quốc: Một cách nhìn thực tiễn

Triển vọng về chính sách đối ngoại của Trung Quốc: Một cách nhìn thực tiễn

Với các cuộc bầu cử quan trọng đã kết thúc ở Mỹ và Nhật Bản, câu hỏi trung tâm được đặt ra là ban lãnh đạo mới của Bắc Kinh sẽ xử lý thế nào với hai đối thủ chính của họ và cũng là đối tác tiềm năng trong những năm tới?

Đọc tiếp...

Tinh thần Đặng Tiểu Bình tiếp tục duy trì mạnh mẽ ở Bắc Kinh

Tinh thần Đặng Tiểu Bình tiếp tục duy trì mạnh mẽ ở Bắc Kinh

Ban lãnh đạo mới của Trung Quốc đã đề ra những mục tiêu của họ trong những năm tới, nhưng đằng sau sự thể hiện đoàn kết để thúc đẩy Cộng Hòa Xã Hội mang màu sắc Trung Quốc, sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc và thịnh vượng cho người dân, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về con đường đi đến những mục tiêu đó tại Trung Quốc. 

Đọc tiếp...

Các xu thế đáng chú ý của Trung Quốc năm 2013

Các xu thế đáng chú ý của Trung Quốc năm 2013

Môi trường bên ngoài Trung Quốc đang ngày càng trở nên phức tạp. Tập Cận Bình rất có thể sẽ tiếp tục nỗ lực để duy trì quan hệ ổn định với Mỹ, đồng thời tích cực mở rộng sức mạnh quân sự và tăng cường bảo vệ các lợi ích của Trung Quốc ở khu vực.

Đọc tiếp...

Lãnh đạo mới của Trung Quốc: Thay đổi thế hệ bị trì hoãn

Lãnh đạo mới của Trung Quốc: Thay đổi thế hệ bị trì hoãn

Ban lãnh đạo mới của Trung Quốc đã hình thành. Liệu Ban lãnh đạo này có thực sự phản ánh những thay đổi về nhân sự và chính sách đối nội, đối ngoại của Trung Quốc? Và những tác động về đối ngoại đối với các quốc gia láng giềng, những đối tác chủ chốt cũng như đối tượng cạnh tranh sẽ diễn ra theo chiều hướng như thế nào?

Đọc tiếp...

Liệu có tồn tại “Mùa xuân Trung Quốc”?

Liệu có tồn tại “Mùa xuân Trung Quốc”?

Những thông báo gần đây từ ban lãnh đạo mới của Trung Quốc cho thấy sự nhận thức rõ ràng về những vấn đề kinh tế và chính trị nghiêm trọng của nước này.

Đọc tiếp...

Những ngôi sao đang lên trong Bộ Chính trị Trung Quốc

Những ngôi sao đang lên trong Bộ Chính trị Trung Quốc

Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chính thức kết thúc. 15 gương mặt mới đã xuất hiện trong Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa mới, hiện gồm 25 thành viên. Theo "Bưu điện Hoa Nam buổi Sáng", trong số các Ủy viên Bộ Chính trị khóa 18, có một số nhân vật được coi là những “ngôi sao đang lên.”

Đọc tiếp...

Bắc Kinh sẽ điều chỉnh chính sách đối ngoại

Bắc Kinh sẽ điều chỉnh chính sách đối ngoại

Thay đổi trong chính sách đối ngoại được dự đoán sẽ diễn ra với dàn lãnh đạo mới của Bắc Kinh những chắc chắn sẽ không thay đổi cấp tiến mà chỉ điều chỉnh dần dần một số cách tiếp cận, chiến thuật và đặc điểm. Bắc Kinh nhiều khả năng sẽ cố gắng giữ cân bằng giữa hai chiến lược “giấu mình chờ thời” và “chủ động tích cực”.

Đọc tiếp...

Một vài nhận xét về chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Một vài nhận xét về chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Khác với thời của Đặng, quyền lực và ảnh hưởng trong đối nội và đối ngoại của PLA thời của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào đã tăng cường một cách mạnh mẽ. Chân dung một Trung Quốc ngày một quyết đoán, thậm chí thách thức trực diện với Mỹ đã không còn là sự suy đoán.

Đọc tiếp...

Trung Quốc đã đánh mất sức hấp dẫn ở Đông Nam Á như thế nào?

Trung Quốc đã đánh mất sức hấp dẫn ở Đông Nam Á như thế nào?

Trung Quốc đầu tư vài tỷ USD mỗi năm vào khu vực Đông Nam Á để tăng cường ảnh hưởng và thúc đẩy các lợi ích chiến lược tại khu vực này. Tuy nhiên, cuộc “tấn công hấp dẫn” của người Trung Quốc lại đang tỏ ra kém hiệu quả hơn người ta vẫn nghĩ.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG