9 - 7 - 2020 | 20:45
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu Quốc Tế Nghiên cứu Quốc Tế Sức mạnh tiềm ẩn của chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Sức mạnh tiềm ẩn của chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Email In PDF.

Trong bối cảnh chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi dường như đang lan khắp thế giới, một trong những thách thức địa chính trị lớn nhất đối với châu Á là cách thức đối phó sự trỗi dậy của Trung Quốc. Một trong những câu trả lời chính là chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở mà Tokyo đang thúc đẩy.  

 

australia_scs.jpg

 

Song nhiều người nói về ý tưởng này đang cảm thấy bất an khi nghĩ về Ấn Độ, một trong những thành phần chủ chốt của chiến lược này. Tháng trước, tại Đối thoại An ninh Shangri-La ở Singapore, các chuyên gia an ninh tỏ ra lúng túng khi Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, Chủ tịch Diễn đàn năm nay, đã có bài phát biểu không như kỳ vòng và thậm chí cảm thấy không thoải mái khi nhắc đến Đối thoại An ninh Tứ giác hay Nhóm Bộ tứ bao gồm các cường quốc dân chủ như Mỹ, Nhật Bản, Úc và Ấn Độ.

Điều mỉa mai là khái niệm Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở lại xuất phát từ sĩ quan hải quân Ấn Độ, Thuyền trưởng Gurpreet Khurana, người đầu tiên đư ra khái niệm địa chính trị hồi đầu năm 2007 trong một bài báo với tiêu đề “An ninh của Các tuyến đường Biển: Triển vọng cho sự hợp tác Ấn Độ-Nhật Bản”. Trước đây, Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở chủ yếu là khái niệm về địa lý mô tả không gian biển trải dài từ các vùng duyên hải ở Đông Phi và Tây Á qua Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương cho tới các vùng duyên hải ở Đông Á. Thuật ngữ này đã đặt Ấn Độ làm trung tâm nằm giữa các nền kinh tế phát triển của châu Á-Thái Bình Dương và các nền kinh tế đang nổi ở Đông Nam Á, Nam Á và Đông Phi.

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình tháng 8/2007, đã ví đây như “Ngã tư của Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương” và “điểm kết nối năng động của các vùng biển tự do và thịnh vượng” ở một khu vực châu Á rộng lớn hơn. Đáng chú ý, việc Thủ tướng Abe tập trung thúc đẩy các mối quan hệ mạnh mẽ hơn ở các khu vực duyên hải phía Đông, Tây Nam và Nam Á nhằm cân bằng với một Trung Quốc ngày càng quyết đoán là động lực rất quan trọng của sáng kiến này. Thật không may, sự lãnh đạo của Nhật Bản thúc đẩy khái niệm Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đã bị gián đoạn khi ông Abe từ chức thủ tướng vào cuối năm đó. Khái niệm này đã xuất hiện trở lại trong Sách trắng Quốc phòng Australia năm 2013. Sách trắng phản ánh “tầm nhìn xa trông rộng” của Canberra nhằm bảo đảm các lợi ích địa chính trị của mình, nước này cũng sẽ cần những khái niệm chiến lược hoạt động ở khu vực Ấn Độ Dương, bao gồm với các đối tác khu vực có cùng lợi ích chiến lược.

Tháng 11/2017, khái niệm Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở đã được đề cập nhiều hơn và bị Trung Quốc kịch liệt chỉ trích khi Tổng thống Mỹ Donald Trump nhắc tới ý tưởng này trong các bài phát biểu của ông trước các nhà lãnh đạo khu vực tại một số sự kiện. Nhật Bản, Úc, Mỹ và Ấn Độ, tất cả đã bắt đầu nhắc tới thuật ngữ này trong các văn bản và tuyên bố chính thức. Cùng với khái nhiệm Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, ý tưởng Nhóm Bộ tứ được “hồi sinh” năm 2017 khi có đến 7 chủ đề tập trung vào việc thúc đẩy trật tự tự do quốc tế: trật tự dựa trên luật trị ở châu Á, tự do hàng hải và hàng không trong các vùng biển chung, tôn trọng luật pháp quốc tế, thúc đẩy kết nối, an ninh hàng hải, không phổ biến vũ khí hạt nhân và chủ nghĩa khủng bố.

Rõ ràng, đây là những phản ứng trước sự quyết đoán gia tăng của Trung Quốc ở khu vực. Việc Trung Quốc quân sự hóa các đảo nhân tạo ở Biển Đông, tuyên bố vùng nhận dạng phòng không ở Biển Hoa Đông, thực hiện chiến thuật “chiến tranh pháp lý” xung quanh quần đảo Senkaku của Nhật Bản hay kế hoạch bao vây Ấn Độ là những lý do để Nhóm Bộ tứ xuất hiện trở lại và các quốc gia có liên quan tập hợp xung quanh khái niệm Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, tuyên bố của 4 nước trên về thuật ngữ này cho thấy sự khác nhau trong việc đánh giá tầm quan trọng cũng như nét đặc trưng liên quan đến các chủ đề cốt lõi. Mỹ và Úc là những thành viên duy nhất sử dụng thuật ngữ “Tứ giác”, trong khi Nhật Bản cố gắng không nhấn mạnh sự liên kết này để tránh hiểu nghĩa rộng hơn của chính sách ngăn chặn. Đáng chú ý hơn cả là việc Ấn Độ tỏ ra do dự khi sử dụng thuật ngữ tự do hàng hải và hàng không ở các vùng biển chung và tôn trọng luật pháp quốc tế. Việc Ấn Độ thiếu cam kết đối với những vấn đề cốt lõi đã làm dấy lên hoài nghi về tương lai của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở cũng như Nhóm Bộ tứ.

Và điều này sẽ tác động như nào đến sự cân bằng vốn mong manh để quản lý sự nổi lên của Trung Quốc mà không dẫn đến xung đột? Việc Ấn Độ do dự cho thấy năng lực của nước này còn hạn chế so với đối thủ địa chính trị Trung Quốc. Về khả năng quân sự, Ấn Độ đứng sau Nhật Bản, Úc và Mỹ, những nước tham gia tập trận chung với những công nghệ quân sự tối tân trong nhiều năm qua. Với mức độ phát triển quân sự, trang thiết bị và huấn luyện như hiện nay, Ấn Độ sẽ khó có thể tạo ra một lực lượng quân đội chính quy, tinh nhuệ đủ khả năng bảo đảm cho một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương dựa trên luật lệ.

Người Ấn Độ rất thực tế về khả năng hiện nay của họ để tham gia vào một cuộc cạnh tranh địa chính trị trực tiếp với Trung Quốc. Dù đang phát triển mạnh mẽ nhưng sự giàu có, cơ sở công nghiệp và sức mạnh quân sự của Ấn Độ vẫn đứng sau Trung Quốc. Việc Ấn Độ cam kết chống lại sự quyết đoán của Trung Quốc một cách thiếu thận trọng và không đúng lúc có thể phản tác dụng, gây tổn hại cho lợi ích quốc gia, chẳng hạn như ở khu vực biên giới Ấn Độ-Pakistan, các vùng lãnh thổ tranh chấp giữa Trung Quốc và Ấn Độ, hay ảnh hưởng gia tăng của Trung Quốc ở sân sau của Ấn Độ như Nepal, Sri Lanka và Bangladesh.

Tuy nhiên, tất cả những điều này không có nghĩa Nhóm Bộ tứ và khái niệm Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở bị “thất bại”. Cho dù Ấn Độ ít lên tiếng nhưng vẫn có không gian để mở rộng và làm sâu sắc cho cả hai khái niệm này trong khi tối đa hóa vai trò của Ấn Độ. Thứ nhất, chúng ta cần phải lưu ý rằng đây vẫn là khuôn khổ mới hình thành trong bối cảnh biến động không ngừng. Hãy nhìn vào Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Sức mạnh của tổ chức này dựa trên cam kết phòng thủ tập thể. Do có sự khác nhau về quy mô, năng lực và tầm với toàn cầu, các quốc gia thành viên NATO có vai trò và năng lực khác nhau cho phép điều phối tổ chức và duy trì gắn kết thể chế.

Giống như NATO, khuôn khổ Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và Nhóm Bộ tứ nên tập trung vào những thế mạnh của mỗi quốc gia thành viên trong khi củng cố các giá trị, đáp ứng toàn bộ “chủ đề” thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Vị trí trung tâm của Ấn Độ trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương cùng với dân số và nguồn tài nguyên phong phú cho thấy vai trò của Ấn Độ có thể là hỗ trợ dưới hình thức là một đầu tàu kinh tế năng động, một người truyền bá các quy tắc hay một nhà lãnh đạo thúc đẩy khuôn khổ Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở cho những quốc gia còn lưỡng lự ở khu vực này, hoặc cũng có thể là mô hình cho các quốc gia đang phát triển đóng góp vào các khuôn khổ an ninh đa phương bằng nhiều cách cả quân sự và phi quân sự. Vài trò của Ấn Độ vẫn sẽ là hỗ trợ. Ấn Độ sẽ tiếp tục đi lên với các khả năng quân sự, chính trị và kinh tế ngày càng phát triển của mình và những điều kiện địa chính trị thay đổi bất thường ở khu vực mà chúng ta chứng kiến là một sự leo thang hoặc giảm bớt căng thẳng trong cạnh tranh quyền bá chủ khu vực của hai đối thủ Mỹ-Trung.

Theo “Japan Times

Vũ Hiền (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU và Trung Quốc mối quan hệ từ đối tác chiến lược chuyển thành đối thủ hệ thống. Điều gì đã đẩy hai bên đi đến bước đường này?

Đọc tiếp...
More:

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Dịch COVID-19 có lẽ là cơ hội để các nước Đông Nam Á hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào thị trường Trung Quốc và đa dạng hóa, tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm đạt được vị thế tốt hơn .

Đọc tiếp...
More:

Quan hệ Nhật - Hàn liệu có thể cải thiện?

Quan hệ Nhật - Hàn liệu có thể cải thiện?

Ngày 28/8, tranh chấp Nhật-Hàn lại tiếp tục rơi vào bế tắc khi Nhật Bản chính thức loại Hàn Quốc ra khỏi “Danh sách trắng” về thương mại. Kể từ đầu tháng 7 đến nay, sau những đòn tấn công “ăn miếng trả miếng” quyết liệt, mâu thuẫn Nhật-Hàn đã leo thang, căng thẳng và phức tạp hơn. Cuộc khủng hoảng này sẽ ngày càng quyết liệt, hay vẫn còn cơ hội để vãn hồi?

Đọc tiếp...
More:

COVID-19 và bầu cử Mỹ: Donald Trump "trong họa được phúc"?

COVID-19 và bầu cử Mỹ: Donald Trump

Với sự lây lan nhanh chóng cùng sự gia tăng tỷ lệ tử vong bởi đại dịch COVID-19, liệu cơ hội giành chiến thắng của Trump trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra vào tháng 11 tới đây bắt đầu bị đe dọa?

Đọc tiếp...
More:

Ứng phó của châu Âu với cuộc khủng hoảng COVID-19

Ứng phó của châu Âu với cuộc khủng hoảng COVID-19

Với sự xuất hiện của đại dịch COVID-19, Liên minh châu Âu (EU), cũng như phần còn lại của thế giới, đang trải qua một cuộc khủng hoảng chưa từng có, trong đó sự tổn thất về người, sự thiệt hại về kinh tế và chính trị hết sức nặng nề.

Đọc tiếp...
More:

Tác động của COVID-19 đối với Hàn Quốc

Tác động của COVID-19 đối với Hàn Quốc

Tháng 1 năm 2020, sau khi biết tin về bệnh “viêm phổi không rõ nguyên nhân” ở Vũ Hán, Trung Quốc, chính phủ và dư luận Hàn Quốc đã bắt đầu chú ý đến sự phát triển và tác động của dịch bệnh này.

Đọc tiếp...
More:

Xu thế tập hợp lực lượng ở châu châu Á - Thái Bình Dương 5-10 năm tới: tác động và đối sách của Việt Nam

Xu thế tập hợp lực lượng ở châu châu Á - Thái Bình Dương 5-10 năm tới: tác động và đối sách của Việt Nam

Sự dịch chuyển tập hợp lực lượng hiện nay tác động đến tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương trên nhiều cấp độ và vấn đề khác nhau. Việt Nam đứng trước nhiều thuận lợi và thách thức trong bối cảnh mới. Để có thể ứng xử phù hợp, Việt Nam cần nhận thức rõ các xu hướng tập hợp lực lượng, phương châm và từ đó đề ra các biện pháp thích hợp.

Đọc tiếp...
More:

Hệ lụy của Đại dịch đối với Đông Nam Á

Hệ lụy của Đại dịch đối với Đông Nam Á

Mọi thứ cuối cùng cũng phải kết thúc. Nhưng bây giờ chúng ta đang ở giai đoạn khởi đầu của kết thúc, hay chỉ là kết thúc của bắt đầu? Không ai thực sự biết. Trong lịch sử, đại dịch đã gây ra những hệ lụy đáng kể về kinh tế, chính trị và địa chính trị.

Đọc tiếp...
More:

Lý do Ấn Độ không nên cản trở đầu tư từ Trung Quốc

Lý do Ấn Độ không nên cản trở đầu tư từ Trung Quốc

Trong cuộc khủng hoảng do đại dịch gây ra, và trong thời kỳ suy thoái kinh tế kéo dài vốn sẽ tác động đến nền kinh tế của cả hai nước, Trung Quốc và Ấn Độ cần hợp tác chặt chẽ hơn thay vì dựng lên những rào cản mới đối với can dự kinh tế.

Đọc tiếp...
More:

Dự báo về các nguy cơ toàn cầu năm 2016

Dự báo về các nguy cơ toàn cầu năm 2016

Ba nguy cơ hàng đầu có khả năng xảy ra nhất ở Bắc Mỹ là tấn công mạng, hiện tượng thời tiết khắc nghiệt và đánh cắp dữ liệu, trong khi ở Mỹ Latinh và Caribbean là nguy cơ thất bại của chính phủ quốc gia, thất nghiệp và bất ổn xã hội.

Đọc tiếp...
More:

Quan điểm của Đông Nam Á về những xu hướng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Quan điểm của Đông Nam Á về những xu hướng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Bài bình luận này lập luận rằng môi trường bên ngoài ngày càng phức tạp sẽ khiến các nước trong khu vực hướng tới các quy trình hoạch định chiến lược nhiều sắc thái hơn, trong đó có cả xu hướng giảm sự phụ thuộc vào các cường quốc lớn cũng như xây dựng các năng lực nội tại để thích ứng với sự thay đổi.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 6215 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin