9 - 7 - 2020 | 22:27
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu Quốc Tế Nghiên cứu Quốc Tế Hệ lụy của giá dầu thấp trong thời gian dài

Hệ lụy của giá dầu thấp trong thời gian dài

Email In PDF.

Tình trạng giá dầu giảm, nếu kéo dài, có thể là dấu hiệu khởi đầu của một giai đoạn suy giảm đầu tư ngược.

 

oil war.jpg

Giá dầu phản ánh cán cân giữa cung và cầu: giá dầu tăng thể hiện rằng thị trường đang cần một nguồn cung lớn, nguồn cung lớn lại đòi hỏi sự tăng cường đầu tư vào các hoạt động khai thác và xuất khẩu. Vì vậy, giá dầu giảm sẽ khiến các hoạt động đầu tư cũng suy giảm.

Các số liệu thống kê cho thấy đầu tư ngược chịu ảnh hưởng nhiều bởi sự thay đổi giá dầu. Căn cứ vào tình trạng giá dầu giảm bắt đầu từ giữa năm 2014 và mối quan hệ giữa giá dầu với đầu tư ngược, khả năng mức độ đầu tư trong các năm tới đây sẽ giảm rõ rệt so với mức trung bình hàng năm của 10 năm trước.

Sản xuất dầu là một ngành công nghiệp cần nhiều vốn, đòi hỏi sự kiểm soát các tài sản có sẵn và để đánh giá được những dự án triển vọng thường đòi hỏi nhiều năm đầu tư ngược cho việc khai thác, xem xét, trước khi các nguồn dự trữ được phát triển và sản xuất.

Những chu kỳ đầu tư trước đây đã cho thấy việc thay đổi giá dầu thô tác động như thế nào tới đầu tư. Năm 1981 và 1982, sau khi giá dầu thô tăng đáng kể, đầu tư đã lên tới hơn 100 tỷ USD (tính theo tỷ giá USD năm 2014), và sau đó giữ ở mức trung bình 30 đến 40 tỷ USD mỗi năm cho đến đầu những năm 2000 khi giá dầu giảm và duy trì ở mức 20-30 USD/thùng. Từ năm 2003 đến năm 2014, đầu tư tăng từ 56 tỉ USD lên tới mức rất cao là 158 tỷ USD khi giá dầu thô tăng từ 34,53 USD/thùng lên 87,39 USD/thùng, thậm chí có những tháng lên tới trên 100 USD/thùng. Theo dự báo năm 2015 về viễn cảnh năng lượng hàng năm của Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ (EIA), giá dầu thô trung bình năm 2020 sẽ rơi vào khoảng 70 USD/thùng. Điều này có thể dẫn đến việc đầu tư vào dầu và khí đốt sẽ giảm đáng kể trong khoảng thời gian từ năm 2015-2020 so với mức trung bình hàng năm là 122 tỉ USD ở giai đoạn đỉnh điểm của chu kỳ 2004-2014.

Năm 2014, đầu tư vào dầu và khí đốt chiếm 1% GDP của Mỹ. Tổng tài sản cố định trong lĩnh vực này đạt 1,5 nghìn tỷ USD, tương đương 3,8% tổng tài sản cố định trong khu vực tư nhân của Mỹ, và mức đầu tư 158 tỷ USD chi trong lĩnh vực này trong năm 2014 chiếm khoảng 5,7% tổng đầu tư vào tài sản cố định trong lĩnh vực tư nhân.

Trong giai đoạn cao điểm của giá dầu năm 2012-2014, khi giá dầu ở Mỹ đạt trung bình 94,2 USD/thùng, tổng đầu tư vào các tài sản cố định trong lĩnh vực dầu và khí đốt đạt 458 tỉ USD, chiếm 5,8% tổng đầu tư vào các tài khoản thuộc lĩnh vực tư nhân của Mỹ trong 3 năm. So sánh với giai đoạn giá dầu cao trong những năm 1980-1982, đầu tư vào tài sản cố định trong lĩnh vực dầu và khí đốt chỉ là 314 tỉ USD, chiếm 8,1% tổng đầu tư vào tài sản cố định của khu vực tư nhân Mỹ.

Giá dầu thô là một nhân tố quan trọng chi phối đầu tư ngược, song một số nhân tố có tính bền vững khác cũng có những ảnh hưởng mang tính quyết định. Bên cạnh việc quản lý các tài sản có sẵn và duy trì, thay thế tài sản và trang thiết bị, các công ty đầu tư vào hoạt động khai thác và sản xuất có một danh mục vốn đầu tư vào các dự án tương lai, dành cho biến động giá, rủi ro và những rắc rối về kỹ thuật. Việc xem xét danh mục vốn đầu tư được thực hiện khi những đề xuất về các kế hoạch được hoàn thành ở nhiều mốc thời gian khác nhau và sau đó được ban quản lý thông qua. Trong số nhiều nhân tố khác, việc cân nhắc trong quản lý được hình thành từ các số liệu tài chính của dự án, cùng với đó là các ưu tiên của công ty, dự án phải phù hợp với những cân nhắc chi tiêu định kỳ, với việc định giá hàng hóa, sản phẩm và đánh giá xu hướng tiêu thụ trong ngắn và dài hạn.

Trong khi các công ty khai thác và xuất khẩu có những tính toán riêng của mình, đầu tư ngược lại thường không được áp dụng riêng lẻ theo giá hiện hành, mà thay vào đó được cơ cấu để tạo lợi nhuận bất chấp sự biến động giá cả trên thị trường. Thêm vào đó, các chu kỳ đầu tư của các công ty này không thể dễ dàng tách rời thành từng giai đoạn riêng, mà phải phụ thuộc vào từng dự án riêng biệt. Tổng chi phí được dự báo cho các dự án được phê chuẩn này sẽ hình thành nên kế hoạch đầu tư trong từng năm cụ thể.

Theo “Eurasia Review

Mỹ Anh (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU và Trung Quốc mối quan hệ từ đối tác chiến lược chuyển thành đối thủ hệ thống. Điều gì đã đẩy hai bên đi đến bước đường này?

Đọc tiếp...
More:

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Dịch COVID-19 có lẽ là cơ hội để các nước Đông Nam Á hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào thị trường Trung Quốc và đa dạng hóa, tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm đạt được vị thế tốt hơn .

Đọc tiếp...
More:

Quan hệ Nhật - Hàn liệu có thể cải thiện?

Quan hệ Nhật - Hàn liệu có thể cải thiện?

Ngày 28/8, tranh chấp Nhật-Hàn lại tiếp tục rơi vào bế tắc khi Nhật Bản chính thức loại Hàn Quốc ra khỏi “Danh sách trắng” về thương mại. Kể từ đầu tháng 7 đến nay, sau những đòn tấn công “ăn miếng trả miếng” quyết liệt, mâu thuẫn Nhật-Hàn đã leo thang, căng thẳng và phức tạp hơn. Cuộc khủng hoảng này sẽ ngày càng quyết liệt, hay vẫn còn cơ hội để vãn hồi?

Đọc tiếp...
More:

COVID-19 và bầu cử Mỹ: Donald Trump "trong họa được phúc"?

COVID-19 và bầu cử Mỹ: Donald Trump

Với sự lây lan nhanh chóng cùng sự gia tăng tỷ lệ tử vong bởi đại dịch COVID-19, liệu cơ hội giành chiến thắng của Trump trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra vào tháng 11 tới đây bắt đầu bị đe dọa?

Đọc tiếp...
More:

Ứng phó của châu Âu với cuộc khủng hoảng COVID-19

Ứng phó của châu Âu với cuộc khủng hoảng COVID-19

Với sự xuất hiện của đại dịch COVID-19, Liên minh châu Âu (EU), cũng như phần còn lại của thế giới, đang trải qua một cuộc khủng hoảng chưa từng có, trong đó sự tổn thất về người, sự thiệt hại về kinh tế và chính trị hết sức nặng nề.

Đọc tiếp...
More:

Tác động của COVID-19 đối với Hàn Quốc

Tác động của COVID-19 đối với Hàn Quốc

Tháng 1 năm 2020, sau khi biết tin về bệnh “viêm phổi không rõ nguyên nhân” ở Vũ Hán, Trung Quốc, chính phủ và dư luận Hàn Quốc đã bắt đầu chú ý đến sự phát triển và tác động của dịch bệnh này.

Đọc tiếp...
More:

Xu thế tập hợp lực lượng ở châu châu Á - Thái Bình Dương 5-10 năm tới: tác động và đối sách của Việt Nam

Xu thế tập hợp lực lượng ở châu châu Á - Thái Bình Dương 5-10 năm tới: tác động và đối sách của Việt Nam

Sự dịch chuyển tập hợp lực lượng hiện nay tác động đến tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương trên nhiều cấp độ và vấn đề khác nhau. Việt Nam đứng trước nhiều thuận lợi và thách thức trong bối cảnh mới. Để có thể ứng xử phù hợp, Việt Nam cần nhận thức rõ các xu hướng tập hợp lực lượng, phương châm và từ đó đề ra các biện pháp thích hợp.

Đọc tiếp...
More:

Hệ lụy của Đại dịch đối với Đông Nam Á

Hệ lụy của Đại dịch đối với Đông Nam Á

Mọi thứ cuối cùng cũng phải kết thúc. Nhưng bây giờ chúng ta đang ở giai đoạn khởi đầu của kết thúc, hay chỉ là kết thúc của bắt đầu? Không ai thực sự biết. Trong lịch sử, đại dịch đã gây ra những hệ lụy đáng kể về kinh tế, chính trị và địa chính trị.

Đọc tiếp...
More:

Lý do Ấn Độ không nên cản trở đầu tư từ Trung Quốc

Lý do Ấn Độ không nên cản trở đầu tư từ Trung Quốc

Trong cuộc khủng hoảng do đại dịch gây ra, và trong thời kỳ suy thoái kinh tế kéo dài vốn sẽ tác động đến nền kinh tế của cả hai nước, Trung Quốc và Ấn Độ cần hợp tác chặt chẽ hơn thay vì dựng lên những rào cản mới đối với can dự kinh tế.

Đọc tiếp...
More:

Dự báo về các nguy cơ toàn cầu năm 2016

Dự báo về các nguy cơ toàn cầu năm 2016

Ba nguy cơ hàng đầu có khả năng xảy ra nhất ở Bắc Mỹ là tấn công mạng, hiện tượng thời tiết khắc nghiệt và đánh cắp dữ liệu, trong khi ở Mỹ Latinh và Caribbean là nguy cơ thất bại của chính phủ quốc gia, thất nghiệp và bất ổn xã hội.

Đọc tiếp...
More:

Quan điểm của Đông Nam Á về những xu hướng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Quan điểm của Đông Nam Á về những xu hướng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Bài bình luận này lập luận rằng môi trường bên ngoài ngày càng phức tạp sẽ khiến các nước trong khu vực hướng tới các quy trình hoạch định chiến lược nhiều sắc thái hơn, trong đó có cả xu hướng giảm sự phụ thuộc vào các cường quốc lớn cũng như xây dựng các năng lực nội tại để thích ứng với sự thay đổi.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5673 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin