12 - 7 - 2020 | 16:26
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu Quốc Tế Nghiên cứu Quốc Tế Ấn Độ “hướng Đông” thông qua ngoại giao quân sự

Ấn Độ “hướng Đông” thông qua ngoại giao quân sự

Email In PDF.

Đây không phải là một cách tiếp cận mới lạ: trong quá khứ, Ấn Độ đã nỗ lực sử dụng ngoại giao quốc phòng như một công cụ để đẩy mạnh các mục tiêu của chính sách đối ngoại và thúc đẩy các lợi ích chiến lược của mình.

 

Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, trong nhiệm kỳ đầu tiên nhậm chức, đã đưa phong cách quản lý chủ động của mình vào Bộ Ngoại giao. Hãy nhớ lại lễ nhậm chức của Thủ tướng khi ông Modi khiến nhiều nhà bình luận chính trị bất ngờ bằng cách mời các nhà lãnh đạo của Hiệp hội Nam Á vì Hợp tác Khu vực (SAARC) đến tham dự buổi tuyên thệ của mình. Kể từ đó, các quan chức tại South Block – trụ sở của Bộ Ngoại giao Ấn Độ - đã luôn bận rộn với một loạt các cam kết ngoại giao, cả tại sân sau của Ấn Độ cũng như ở nước ngoài. Khi chương trình nghị sự về chính sách đối ngoại của chính phủ mới kết tinh lại, có vẻ như ngoại giao quân sự đã tìm được chỗ đứng mới trong công tác đối ngoại. New Delhi cũng quan tâm đến việc tăng cường quan hệ quốc phòng với “các nước bên ngoài thân thiện”.

Đây không phải là một cách tiếp cận mới lạ: trong quá khứ, Ấn Độ đã nỗ lực sử dụng ngoại giao quốc phòng như một công cụ để đẩy mạnh các mục tiêu của chính sách đối ngoại và thúc đẩy các lợi ích chiến lược của mình. Bất chấp thành tích không liên kết của mình, Ấn Độ đã duy trì đối thoại về các thách thức an ninh, huấn luyện nhân viên quân sự nước ngoài, đưa ra “những lời kêu gọi thiện chí” cũng như tiến hành các cuộc diễn tập chung và trao đổi huấn luyện. Về mặt khái niệm, ngoại giao quốc phòng hay quân sự chính là áp dụng hòa bình các nguồn lực quân sự của một quốc gia để đẩy mạnh các mục tiêu chính sách đối ngoại của mình. Quốc gia này sử dụng hợp tác (quân sự) để thay đổi quan điểm và thiết lập quan hệ chiến lược với các nước bên ngoài. Như vậy cho tới nay, ngoại giao quốc phòng của Ấn Độ đã tập trung vào việc huấn luyện, tập trận chung, hỗ trợ sửa chữa và bảo dưỡng, thăm tàu và trao đổi sinh viên. Tuy nhiên, chính phủ mới muốn tăng cường ma trận hợp tác quốc phòng của Ấn Độ. New Delhi đã thể hiện sự sẵn sàng để bắt đầu xuất khẩu thiết bị quốc phòng được sản xuất trong nước sang các nước “thân thiện” tại Đông Nam Á và Nam Mỹ. Chiến lược thúc đẩy xuất khẩu này đã được Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng xác định là tương thích với các mục tiêu chính sách đối ngoại của Ấn Độ; nó cũng phù hợp với kế hoạch mới của chính phủ nhằm công nghiệp hóa sản xuất quốc phòng.

Một chiến lược thúc đẩy xuất khẩu quốc phòng như vậy khá mới mẻ đối với Ấn Độ và có một sự nhận thức trong giới ngoại giao rằng chính sách này cần được kiểm soát cẩn thận/theo quy định. Bộ Quốc phòng gần đây mới công bố “Chiến lược Xuất khẩu Quốc phòng” (SDE) – một tài liệu dài 5 trang – để chuẩn hóa các quy trình hoạt động cho việc xuất khẩu quốc phòng. Theo SDE, chính phủ sẽ thành lập một Ban Chỉ đạo Xuất khẩu Quốc phòng (DESC) và một Cơ quan Xúc tiến Xuất khẩu (EPB) để khai thác tiềm năng thương mại và ngoại giao đối với hàng xuất khẩu quân sự. Sáng kiến này cũng sẽ tận dụng dịch vụ cho vay tín dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán hàng hóa quân sự ra nước ngoài.

Điều thú vị là, chuyển giao quân sự được thiết lập để trở thành một phần quan trọng trong “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ. Sushma Swaraj, chính trị gia kỳ cựu và là Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ, đã được ghi nhận với câu nói rằng chính phủ của bà muốn biến “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ thành “hành động hướng Đông”; xuất khẩu quốc phòng gia tăng sang các nước đối tác ASEAN của Ấn Độ chắc chắn sẽ giúp khuyến khích “Chính sách hướng Đông”. Ấn Độ dường như đã xác định Việt Nam là nước thụ hưởng đầu tiên của chính sách thúc đẩy xuất khẩu quốc phòng của mình. Trao đổi song phương nổi bật giữa hai quốc gia đã gia tăng. Chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee tới Việt Nam từ 14 – 17/9/2014 diễn ra ngay sau chuyến thăm của bà Swaraj vào cuối tháng 8. Trong suốt chuyến đi tới thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, Tổng thống Mukherjee tuyên bố một khoản vay tín dụng trị giá 100 triệu USD cho Việt Nam để mua sắm quốc phòng, và cả hai nước đều nhất trí củng cố hợp tác năng lượng. Đối thoại hơn nữa giữa hai nước đã diễn ra trong chuyến viếng thăm cấp nhà nước của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tới Ấn Độ ngày 27 và 28/10. Đằng sau hậu trường và cách xa khỏi những nghi lễ long trọng và mang tính biểu trưng dành cho phái đoàn thủ tướng, hợp tác vẫn tiếp tục thông qua các kênh ngoại giao; Cố vấn Bộ Ngoại giao (FCO) và Đối thoại Chiến lược ở cấp bộ trưởng đã sẵn sàng hỗ trợ cho thứ hiện đang là một quan hệ song phương chính trị và thiết thực về chiến lược.

New Delhi vẫn hăng hái tăng cường quan hệ quốc phòng với Hà Nội. Thông cáo chung trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mukherjee đã thảo ra hợp tác an ninh và can dự quốc phòng như một khía cạnh quan trọng của quan hệ đối tác chiến lược này. Giữa Ấn Độ và Việt Nam đã tồn tại một khuôn khổ hợp tác chiến lược và quân sự; quả thực, nó có trước chính sách “hướng Đông” của Ấn Độ. Gần đây hơn, Ấn Độ đã ký kết một Nghị định thư về Hợp tác Quốc phòng với Việt Nam trong năm 2000 và theo sau đó là một tuyên bố chung năm 2007. Bản tuyên bố chung này kêu gọi “phát triển quan hệ quốc phòng và an ninh song phương” và cam kết “tăng cường hợp tác trong cung cấp quốc phòng, các dự án chung, hợp tác đào tạo và trao đổi thông tin tình báo”. Người ta đã chứng kiến sự hiện diện hải quân của Ấn Độ trong khu vực này gia tăng trong những năm qua. Sau khi mở rộng tầm hoạt động, các tàu chiến từ Hạm đội phía Đông của Hải quân Ấn Độ đã hoạt động ngoài khơi bờ biển Việt Nam trong vùng Biển Đông. Hải quân Ấn Độ cũng đã cử các tàu lớn của mình tới các cảng Việt Nam để thực hiện “các chuyến thăm thiện chí” cũng như để cải thiện khả năng hợp tác hoạt động giữa lực lượng hải quân hai nước. Tàu khu trục thăm dò INS Satpura của Ấn Độ và tàu chở dầu INS Shakti đã tới Đà Nẵng từ 6-10/6/2013 – những tàu này chở theo 1.200 nhân viên và thủy thủ, và INS Shivalik thực hiện chuyến ghé cảng ba ngày tại Hải Phòng từ 5-8/8/2014.

Cho đến nay, ngoại giao quốc phòng của Ấn Độ với Việt Nam vẫn chưa vượt ra ngoài việc huấn luyện, các cuộc tập trận chung, thăm tàu và trao đổi nhân viên. Tuy nhiên, việc chính phủ mới nhấn mạnh vào hành động hoặc “hành động hướng Đông” đã dẫn đến những nhân tố mới được đưa ra trong hợp tác quốc phòng Việt Nam-Ấn Độ, cụ thể là xuất khẩu quốc phòng. Khoản vay tín dụng trị giá 100 triệu USD, khoản vay đầu tiên được Ấn Độ cung cấp cho một nước bên ngoài Nam Á, sẽ tài trợ cho việc mua 4 tàu tuần tra ngoài khơi cho Hải quân Việt Nam. Theo Bộ Ngoại giao Ấn Độ (MEA), khoản tín dụng này sẽ “mở ra những hướng mới cho hợp tác” giữa hai nước. Tuyên bố của MEA cho thấy rằng chính phủ đã sẵn sàng mở rộng việc chuyển giao quân sự cho Việt Nam. Tiếp theo trong chương trình nghị sự là việc bán tên lửa hành trình siêu thanh Brahmos, một dự án liên doanh giữa DRDO của Ấn Độ và NPO Mashinostroyeniya của Nga. Hệ thống tên lửa này, vốn là một công nghệ hàng đầu và là tên lửa hành trình siêu thanh duy nhất đang được sản xuất hiện nay, đã có trong danh sách nguyện vọng của Việt Nam từ năm 2011. Mặc dù Nga vẫn chưa công khai xác nhận thỏa thuận này, hầu như không có khả năng Điện Kremlin sẽ phủ quyết một thỏa thuận như vậy. Quan hệ ba bên giữa Nga, Ấn Độ và Việt Nam về hợp tác quốc phòng, mặc dù vẫn còn trong giai đoạn trứng nước, đã được thiết lập. Xu hướng hiện nay là để Ấn Độ huấn luyện các lực lượng Việt Nam trong khi Nga hỗ trợ về vũ khí cho họ. Một quan hệ đối tác như vậy sẽ có hiệu quả bởi nó khai thác kinh nghiệm của Ấn Độ và những vũ khí xuất xứ từ Nga – di sản của điều mà có thể có từ những năm 1960.

Trong tương lai, chính sách mới của Ấn Độ nhằm khuyến khích xuất khẩu quốc phòng sẽ phải đối mặt với các áp lực quốc tế. Việc cung cấp các công nghệ hàng đầu cho Việt Nam sẽ tăng thêm sức mạnh răn đe cho Việt Nam; điều này sẽ có khả năng gây thù địch với Trung Quốc, nước mà Việt Nam có tranh chấp kéo dài trên Biển Đông. Sự can dự của Ấn Độ ở đây có thể làm phức tạp thêm môi trường địa chính trị. New Delhi sẽ phải rất cẩn trọng về ngoại giao và đảm bảo rằng “hướng Đông thông qua ngoại giao quân sự” không gây nguy hiểm cho quan hệ song phương của nước này với Trung Quốc./.

Theo “ISAS – NUS

Mỹ Anh (gt)

 

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU và Trung Quốc mối quan hệ từ đối tác chiến lược chuyển thành đối thủ hệ thống. Điều gì đã đẩy hai bên đi đến bước đường này?

Đọc tiếp...
More:

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Dịch COVID-19 có lẽ là cơ hội để các nước Đông Nam Á hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào thị trường Trung Quốc và đa dạng hóa, tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm đạt được vị thế tốt hơn .

Đọc tiếp...
More:

Quan hệ Nhật - Hàn liệu có thể cải thiện?

Quan hệ Nhật - Hàn liệu có thể cải thiện?

Ngày 28/8, tranh chấp Nhật-Hàn lại tiếp tục rơi vào bế tắc khi Nhật Bản chính thức loại Hàn Quốc ra khỏi “Danh sách trắng” về thương mại. Kể từ đầu tháng 7 đến nay, sau những đòn tấn công “ăn miếng trả miếng” quyết liệt, mâu thuẫn Nhật-Hàn đã leo thang, căng thẳng và phức tạp hơn. Cuộc khủng hoảng này sẽ ngày càng quyết liệt, hay vẫn còn cơ hội để vãn hồi?

Đọc tiếp...
More:

COVID-19 và bầu cử Mỹ: Donald Trump "trong họa được phúc"?

COVID-19 và bầu cử Mỹ: Donald Trump

Với sự lây lan nhanh chóng cùng sự gia tăng tỷ lệ tử vong bởi đại dịch COVID-19, liệu cơ hội giành chiến thắng của Trump trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra vào tháng 11 tới đây bắt đầu bị đe dọa?

Đọc tiếp...
More:

Ứng phó của châu Âu với cuộc khủng hoảng COVID-19

Ứng phó của châu Âu với cuộc khủng hoảng COVID-19

Với sự xuất hiện của đại dịch COVID-19, Liên minh châu Âu (EU), cũng như phần còn lại của thế giới, đang trải qua một cuộc khủng hoảng chưa từng có, trong đó sự tổn thất về người, sự thiệt hại về kinh tế và chính trị hết sức nặng nề.

Đọc tiếp...
More:

Tác động của COVID-19 đối với Hàn Quốc

Tác động của COVID-19 đối với Hàn Quốc

Tháng 1 năm 2020, sau khi biết tin về bệnh “viêm phổi không rõ nguyên nhân” ở Vũ Hán, Trung Quốc, chính phủ và dư luận Hàn Quốc đã bắt đầu chú ý đến sự phát triển và tác động của dịch bệnh này.

Đọc tiếp...
More:

Xu thế tập hợp lực lượng ở châu châu Á - Thái Bình Dương 5-10 năm tới: tác động và đối sách của Việt Nam

Xu thế tập hợp lực lượng ở châu châu Á - Thái Bình Dương 5-10 năm tới: tác động và đối sách của Việt Nam

Sự dịch chuyển tập hợp lực lượng hiện nay tác động đến tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương trên nhiều cấp độ và vấn đề khác nhau. Việt Nam đứng trước nhiều thuận lợi và thách thức trong bối cảnh mới. Để có thể ứng xử phù hợp, Việt Nam cần nhận thức rõ các xu hướng tập hợp lực lượng, phương châm và từ đó đề ra các biện pháp thích hợp.

Đọc tiếp...
More:

Hệ lụy của Đại dịch đối với Đông Nam Á

Hệ lụy của Đại dịch đối với Đông Nam Á

Mọi thứ cuối cùng cũng phải kết thúc. Nhưng bây giờ chúng ta đang ở giai đoạn khởi đầu của kết thúc, hay chỉ là kết thúc của bắt đầu? Không ai thực sự biết. Trong lịch sử, đại dịch đã gây ra những hệ lụy đáng kể về kinh tế, chính trị và địa chính trị.

Đọc tiếp...
More:

Lý do Ấn Độ không nên cản trở đầu tư từ Trung Quốc

Lý do Ấn Độ không nên cản trở đầu tư từ Trung Quốc

Trong cuộc khủng hoảng do đại dịch gây ra, và trong thời kỳ suy thoái kinh tế kéo dài vốn sẽ tác động đến nền kinh tế của cả hai nước, Trung Quốc và Ấn Độ cần hợp tác chặt chẽ hơn thay vì dựng lên những rào cản mới đối với can dự kinh tế.

Đọc tiếp...
More:

Dự báo về các nguy cơ toàn cầu năm 2016

Dự báo về các nguy cơ toàn cầu năm 2016

Ba nguy cơ hàng đầu có khả năng xảy ra nhất ở Bắc Mỹ là tấn công mạng, hiện tượng thời tiết khắc nghiệt và đánh cắp dữ liệu, trong khi ở Mỹ Latinh và Caribbean là nguy cơ thất bại của chính phủ quốc gia, thất nghiệp và bất ổn xã hội.

Đọc tiếp...
More:

Quan điểm của Đông Nam Á về những xu hướng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Quan điểm của Đông Nam Á về những xu hướng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Bài bình luận này lập luận rằng môi trường bên ngoài ngày càng phức tạp sẽ khiến các nước trong khu vực hướng tới các quy trình hoạch định chiến lược nhiều sắc thái hơn, trong đó có cả xu hướng giảm sự phụ thuộc vào các cường quốc lớn cũng như xây dựng các năng lực nội tại để thích ứng với sự thay đổi.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4988 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin