1 - 6 - 2020 | 2:43
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu Quốc Tế Nghiên cứu Quốc Tế Chiến lược phòng thủ biển hẹp ở Đông Nam Á

Chiến lược phòng thủ biển hẹp ở Đông Nam Á

Email In PDF.

Đông Nam Á đang nỗ lực hiện đại hóa hải quân ở mức cao chưa từng thấy trong khi bối cảnh căng thẳng tại Biển Đông đang khiến khả năng tìm kiếm giải pháp ngoại giao cho tranh chấp này ngày càng khó khăn.

 

Theo nghiên cứu của công ty tư vấn hàng hải có trụ sở tại Mỹ AMI International, các nước trong khu vực Đông Nam Á dự kiến chi hơn 25 tỷ USD từ nay đến năm 2030 cho lực lượng hải quân mua sắm vũ khí và trang thiết bị, trong đó chủ yếu là các tàu tấn công cao tốc và tàu ngầm. Tuy nhiên, cấu tạo của các vùng biển Đông Nam Á là biển "đóng" và "nửa đóng" (còn gọi là biển hẹp) có thể tác động tới hoạt động phòng thủ tại đây. Các loại biển này được Công ước Quốc tế về Luật biển của Liên hợp quốc (UNCLOS) định nghĩa là "một vịnh, lưu vực hoặc biển được bao quanh bởi hai hoặc nhiều quốc gia, nối với một biển hoặc đại dương khác thông qua một cửa biển hẹp hoặc bao gồm toàn bộ hay phần lớn lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của hai hay nhiều quốc gia ven biển". 

Lực lượng hải quân hoạt động tại các khu vực biển hẹp thường dễ hứng chịu sự tấn công từ các loại vũ khí trên bờ hơn. Đặc điểm này khiến hoạt động phòng thủ tại đây khác biệt so với ngoài khơi. Thành công của hoạt động phòng thủ tại biển hẹp phụ thuộc vào hai yếu tố: không gian vật lý hạn chế và khoảng cách gần so với đất liền. Điều này ảnh hưởng tới hải quân nếu xét về tính linh hoạt, cường độ tác chiến, không gian tác chiến và sử dụng hỏa lực không quân. Tại các vùng biển hẹp, các tàu mặt nước lớn gặp nhiều khó khăn trong di chuyển do các yếu tố độ sâu, chiều rộng và hạn chế tiếp cận. 

Các hoạt động tác chiến trên biển cũng có cường độ lớn do đa phần các vùng biển hẹp nằm trong tầm bắn hiệu quả của các hệ thống vũ khí trên bộ. Tác chiến tại đây cũng mang tính chất đa chiều, từ trên không, mặt nước và ngầm dưới nước, trên bờ… Hơn nữa, các vùng biển hẹp còn nằm trong phạm vi tác chiến của không quân, giúp các quốc gia ven biển có ưu thế trong kiểm soát và ngăn chặn hoạt động trên biển mà không cần duy trì lực lượng hải quân mạnh. Kiểm soát biển là nhằm một mặt sử dụng biển vì lợi ích của chính mình, mặt khác khi cần có thể ngăn đối phương sử dụng vùng biển đó. 

Các biển hẹp thường bao gồm toàn bộ lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển. Điều này khiến việc kiểm soát biển hẹp có tính chất quan trọng về kinh tế, xã hội. Hơn nữa, ngay cả một nước yếu tại biển hẹp có thể thách thức lực lượng hải quân mạnh hơn nhờ sử dụng nhiều công cụ như thủy lôi, tên lửa trên bộ và tàu ngầm. 

Trong bối cảnh sự cạnh tranh ngày càng tăng tại khu vực Biển Đông, các quốc gia ven biển đang có xu hướng nâng cấp nhằm đối phó với thách thức này. Hải quân một số nước như Inđônêxia, Xinhgapo và Malaixia đã được trang bị tàu ngầm. Đây cũng là mặt hàng ưu tiên trong danh sách mua sắm của Việt Nam. Thái Lan và Philíppin đang xúc tiến mua tàu ngầm. Ngoài ra, các loại máy bay tấn công trên biển như Sukhoi Su-30 cũng đã được trang bị tại Inđônêxia, Malaixia và Việt Nam. Quan trọng hơn là các nước ven biển cũng tận dụng các đảo trong khu vực với việc xây dựng cơ sở hạ tầng hỗ trợ kiểm soát biển. Việc kiểm soát những vị trí then chốt và tuyến đường biển hết sức quan trọng do chúng quyết định khả năng tiếp cận của hải quân tới các khu vực biển hẹp trong khu vực. Ngoài ra, các cường quốc hải quân cũng phải điều chỉnh theo hướng sử dụng tàu linh hoạt và đa dụng như tàu hộ tống, tàu khu trục và tàu tấn công ven biển. Nếu không có các loại tàu này hộ tống, việc triển khai các tàu cỡ lớn như tàu tấn công lưỡng dụng hoặc tàu sân bay tại vùng biển hẹp sẽ gặp rủi ro rất lớn. 

Việc tăng cường đầu tư theo hướng này có thể dẫn tới bất ổn hơn do chúng chỉ có thể sử dụng cho mục đích tác chiến. Điều này dễ gây hiểu lầm và những tính toán sai lệch, đặc biệt là khi được triển khai tại các vùng biển hẹp có tranh chấp như Biển Đông. Tất nhiên, cũng không nên coi xu hướng phát triển này là một dấu hiệu cảnh báo. Các lực lượng hải quân trong khu vực vẫn cần nhiều thời gian để xây dựng tiềm lực thực tế. Ngoài ra, vấn đề sử dụng hiệu quả tiềm lực, đảm bảo an toàn cũng như duy tu, bảo dưỡng cũng rất quan trọng. Nếu các vấn đề này không được giải quyết thỏa đáng thì việc sử dụng tiềm lực chỉ mang tính chất kiềm chế về tâm lý. 

Ristian Atriandi Supriyanto là nhà phân tích cấp cao tại Chương trình An ninh Hàng Hải, Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore.

Tạp chí "Diễn đàn Đông Á" (ngày 17/10)

Hương Trà (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Tác động của COVID-19 đến quan hệ Trung-Mỹ

Tác động của COVID-19 đến quan hệ Trung-Mỹ

Dịch COVID-19 đã đẩy mối quan hệ Trung-Mỹ vào một giai đoạn tồi tệ mới. Quan hệ thương mại song phương trên đà suy thoái, rơi vào trạng thái dường như đóng băng; sự thiếu hụt lòng tin chiến lược ngày càng nghiêm trọng; bầu không khí giữa hai bên ngột ngạt chưa từng có.

Đọc tiếp...
More:

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Dịch COVID-19 có lẽ là cơ hội để các nước Đông Nam Á hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào thị trường Trung Quốc và đa dạng hóa, tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm đạt được vị thế tốt hơn .

Đọc tiếp...
More:

Hành vi chính sách đối ngoại của Trung Quốc: Nhận biết qua lăng kính địa tâm lý học

Hành vi chính sách đối ngoại của Trung Quốc: Nhận biết qua lăng kính địa tâm lý học

Bài viết này xem xét chính sách đối ngoại và ngoại giao của Trung Quốc trong khuôn khổ lý thuyết địa tâm lý học, một loại lý thuyết có thể được định nghĩa là lăng kính địa lý về mô hình hành vi và thái độ của một dân tộc đối với các dân tộc khác, bắt nguồn từ những kinh nghiệm trong quá khứ, quá trình lịch sử, cấu trúc văn hóa và cấu trúc xã hội.

Đọc tiếp...
More:

Quan hệ Nhật - Hàn liệu có thể cải thiện?

Quan hệ Nhật - Hàn liệu có thể cải thiện?

Ngày 28/8, tranh chấp Nhật-Hàn lại tiếp tục rơi vào bế tắc khi Nhật Bản chính thức loại Hàn Quốc ra khỏi “Danh sách trắng” về thương mại. Kể từ đầu tháng 7 đến nay, sau những đòn tấn công “ăn miếng trả miếng” quyết liệt, mâu thuẫn Nhật-Hàn đã leo thang, căng thẳng và phức tạp hơn. Cuộc khủng hoảng này sẽ ngày càng quyết liệt, hay vẫn còn cơ hội để vãn hồi?

Đọc tiếp...
More:

COVID-19 và bầu cử Mỹ: Donald Trump "trong họa được phúc"?

COVID-19 và bầu cử Mỹ: Donald Trump

Với sự lây lan nhanh chóng cùng sự gia tăng tỷ lệ tử vong bởi đại dịch COVID-19, liệu cơ hội giành chiến thắng của Trump trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra vào tháng 11 tới đây bắt đầu bị đe dọa?

Đọc tiếp...
More:

Ứng phó của châu Âu với cuộc khủng hoảng COVID-19

Ứng phó của châu Âu với cuộc khủng hoảng COVID-19

Với sự xuất hiện của đại dịch COVID-19, Liên minh châu Âu (EU), cũng như phần còn lại của thế giới, đang trải qua một cuộc khủng hoảng chưa từng có, trong đó sự tổn thất về người, sự thiệt hại về kinh tế và chính trị hết sức nặng nề.

Đọc tiếp...
More:

Tác động của COVID-19 đối với Hàn Quốc

Tác động của COVID-19 đối với Hàn Quốc

Tháng 1 năm 2020, sau khi biết tin về bệnh “viêm phổi không rõ nguyên nhân” ở Vũ Hán, Trung Quốc, chính phủ và dư luận Hàn Quốc đã bắt đầu chú ý đến sự phát triển và tác động của dịch bệnh này.

Đọc tiếp...
More:

Mục tiêu cường quốc tầm trung và viễn cảnh ngoại giao Việt Nam sau năm 2030

Mục tiêu cường quốc tầm trung và viễn cảnh ngoại giao Việt Nam sau năm 2030

Một trong những bí quyết thành công của sự nghiệp Đổi mới và của ngoại giao Việt Nam kể từ năm 1986 đến nay là không ngừng tìm tòi cái mới, tạo đột phá. Bài viết này cố gắng làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn xoay quanh ý tưởng cường quốc tầm trung cho Việt Nam sau năm 2030.

Đọc tiếp...
More:

Hệ lụy của Đại dịch đối với Đông Nam Á

Hệ lụy của Đại dịch đối với Đông Nam Á

Mọi thứ cuối cùng cũng phải kết thúc. Nhưng bây giờ chúng ta đang ở giai đoạn khởi đầu của kết thúc, hay chỉ là kết thúc của bắt đầu? Không ai thực sự biết. Trong lịch sử, đại dịch đã gây ra những hệ lụy đáng kể về kinh tế, chính trị và địa chính trị.

Đọc tiếp...
More:

Đánh giá chính sách tiền tệ của ECB và FED nhằm đối phó với COVID-19

Đánh giá chính sách tiền tệ của ECB và FED nhằm đối phó với COVID-19

Các ngân hàng trung ương đã thực hiện các biện pháp chính sách tiền tệ sâu rộng để bù đắp cho những tổn thất mà cuộc khủng hoảng dịch COVID-19 đã gây ra. Câu hỏi đặt ra là liệu các biện pháp này có mang lại hiệu quả, trấn an thị trường và hỗ trợ nền kinh tế thực sự như mong muốn hay không.

Đọc tiếp...
More:

Dự báo về các nguy cơ toàn cầu năm 2016

Dự báo về các nguy cơ toàn cầu năm 2016

Ba nguy cơ hàng đầu có khả năng xảy ra nhất ở Bắc Mỹ là tấn công mạng, hiện tượng thời tiết khắc nghiệt và đánh cắp dữ liệu, trong khi ở Mỹ Latinh và Caribbean là nguy cơ thất bại của chính phủ quốc gia, thất nghiệp và bất ổn xã hội.

Đọc tiếp...
More:

Quan điểm của Đông Nam Á về những xu hướng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Quan điểm của Đông Nam Á về những xu hướng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Bài bình luận này lập luận rằng môi trường bên ngoài ngày càng phức tạp sẽ khiến các nước trong khu vực hướng tới các quy trình hoạch định chiến lược nhiều sắc thái hơn, trong đó có cả xu hướng giảm sự phụ thuộc vào các cường quốc lớn cũng như xây dựng các năng lực nội tại để thích ứng với sự thay đổi.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7241 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin