20 - 10 - 2020 | 11:04
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu Quốc Tế Nghiên cứu Quốc Tế Quyền lực mềm trong quan hệ quốc tế

Quyền lực mềm trong quan hệ quốc tế

Email In PDF.

Bài viết của TS. Phạm Quốc Trụ, Học viện Ngoại giao (gửi riêng cho NCBĐ) đề cập và phân tích về “Quyền lực mềm” trong quan hệ quốc tế hiện nay, cùng với đó là những đánh giá của tác giả về việc triển khai Quyền lực mềm của Mỹ và Trung Quốc trong bối cảnh quốc tế đang thay đổi mạnh mẽ.

 

 

Trong những năm gần đây, thuật ngữ "quyền lực mềm" được sử dụng khá phổ biến và ngày càng được nhiều người quan tâm.


Trước hết, đây là một khái niệm trong chính trị học, được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1973 trong cuốn Quyền lực và thịnh vượng của học giả Klaus Knorr; sau đó, được Giáo sư Joseph Nye, nguyên Hiệu trưởng  Trường Quản trị công J.F. Kennedy thuộc Đại học Harvard (Mỹ), định nghĩa và phát triển thành một luận thuyết trong cuốn “Quyền lực mềm: Phương tiện để đạt được thành công trong chính trị quốc tế”

 

Theo giáo sư J. Nye, "quyền lực mềm" là khả năng tác động thông qua sự hấp dẫn và sức thuyết phục để người khác làm theo những gì mình muốn. “Quyền lực mềm” của một quốc gia được xây dựng trên nền tảng nền văn hóa, các giá trị và chính sách của quốc gia. Nó được thể hiện thông qua các yếu tố như hình ảnh, uy tín của đất nước và lãnh đạo, năng lực giao tiếp, nhất là khả năng thuyết phục của những người thực thi quyền lực, mức độ cởi mở của xã hội, sức hấp dẫn, quyến rũ, đặc biệt là của nền văn hóa, v.v.. Có hai kênh chủ yếu để triển khai “quyền lực mềm” trong quan hệ quốc tế. Kênh thứ nhất là trực tiếp thông qua hoạt động ngoại giao của chính phủ. Kênh thứ hai là thông qua hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (bao gồm cả các doanh nghiệp) và sự giao lưu giữa  cộng đồng dân cư của các quốc gia.

 

Như vây, quyền lực mềm khác cơ bản với “quyền lực cứng” - loại quyền lực dựa trên đe dọa và mua chuộc, kiểu "cây gậy và củ cà rốt", nhờ vào sức mạnh quân sự, kinh tế và khoa học công nghệ. Sức mạnh của quốc gia là tổng hợp của “quyền lực cứng” và “quyền lực mềm” được tạo nên từ cả bên trong lẫn bên ngoài mỗi quốc gia. Việc kết hợp và sử dụng khéo léo hai loại quyền lực này sẽ tạo ra một sức mạnh lớn (Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton gọi là “sức mạnh thông minh”) giúp quốc gia có vị thế quốc tế tốt hơn và có khả năng thực hiện mục tiêu theo đuổi một cách hiệu quả hơn.

 

Từ xa xưa, trong quan hệ quốc tế, bên cạnh việc sử dụng “quyền lực cứng” được xem là biện pháp chính yếu và truyền thống, các nước cũng đã biết sử dụng “quyền lực mềm”. Đặc biệt, các cường quốc thường sử dụng “quyền lực mềm” để   thực hiện mục tiêu nô dịch, trói buộc các nước khác trong vòng ảnh hưởng của mình. Ngày nay, trong bối cảnh xu thế hòa bình hợp tác và xu thế toàn cầu hóa trở thành những dòng chảy chính của quan hệ quốc tế, việc sử dụng “quyền lực cứng” ngày càng không còn là lựa chọn tối ưu của các quốc gia, “quyền lực mềm” được quan tâm và nhấn mạnh nhiều hơn, không những bởi nó phù hợp với xu thế thời đại, mà còn bởi tính chất “lạt mềm buộc chặt” và ít tốn kém hơn để đạt đến mục đích thông qua sử dụng công cụ này.

 

Những năm gần đây, Mỹ và Trung quốc đặc biệt quan tâm phát huy và sử dụng “quyền lực mềm”. Theo một số nhà phân tích, hai cường quốc này đang tiến hành một cuộc chạy đua về phát triển và sử dụng “quyền lực mềm” trên phạm vi toàn cầu.

 

Vươn lên trở thành siêu cường duy nhất từ sau chiến Thế giới lần thứ hai, Mỹ đã từng bước thiết lập và củng cố một trật tự thế giới mới do Mỹ chi phối. Đặc biệt, từ sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, với sự sụp đổ của Liên xô và khối các nước XHCN ở Đông Âu, Mỹ càng mạnh hơn và gần như không còn đối thủ cạnh tranh xứng tầm trong một thời gian dài. Sức mạnh toàn diện và vượt trội của Mỹ đã tạo cho họ một vị thế “bá chủ” có ảnh hưởng sâu rộng đến trật tự quốc tế và nhiều nước trên thế giới. Nhìn ở góc độ “quyền lực mềm”, Mỹ đã tạo dựng và sử dụng khá thành công quyền lực này trong thực hiện mục tiêu duy trì vị thế siêu cường thế giới của mình và đặc biệt là trong quan hệ với các nước. Mỹ có những lợi thế lớn về “quyền lực mềm”. Trước hết, nước Mỹ là một nơi mà nhiều giá trị tiến bộ về tư tưởng và những giá trị mang tính phổ quát được nảy nở và hiện thực hóa, đồng thời Mỹ cũng luôn thể hiện mình là nước đấu tranh cho sự thực hiện và phổ quát hoá những giá trị đó trên thế giới. Thứ hai, văn hóa Mỹ kết hợp được nhiều tinh hoa của thế giới, được hiện đại hóa, có sức sống lớn và lan tỏa mạnh; bên cạnh đó là một nền giáo dục phát triển bậc nhất thế giới. Thứ ba, nhìn chung các chính quyền ở Mỹ đều chủ trương và triển khai ở mức độ khác nhau chính sách phát huy “quyền lực mềm” trong quan hệ quốc tế. Thứ tư, tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự và khoa học công nghệ vượt trội so với các quốc gia khác hỗ trợ tối đa cho việc phát huy và triển khai “quyền lực mềm” của Mỹ trên toàn thế giới.

 

Những yếu tố “quyền lực mềm” chủ yếu được Mỹ đặc biệt phát huy gồm: thứ nhất, các giá trị Mỹ về tư tưởng chính trị và kinh tế (tự do, dân chủ, đa nguyên, nhân quyền, nhà nước pháp quyền, thị trường tự do, kinh tế mới…), thứ hai, các giá trị của nền văn hóa và giáo dục tiên tiến, hiện đại có tính phổ quát của Mỹ (lối sống tự do, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, văn hóa ẩm thực nhanh như McDonal, KFC với humberger, gà chiên Kentucky, khoai tây chiên giòn và Coca Cola, quần bò Levis, điện ảnh Hollywood, nhà hộp chọc trời…). Những yếu tố “quyền lực mềm” này đã lan tỏa trên thế giới, góp phần tạo dựng hình ảnh một nước Mỹ hùng cường, hiện đại, tiên tiến, và, cùng với các yếu tố của “quyền lực cứng”, góp phần củng cố,  duy trì vị thế số một của Mỹ trong trật tự thế giới mà Mỹ đang tiếp tục chi phối. Tuy nhiên, Mỹ không phải lúc nào cũng thành công trong sử dụng “quyền lực mềm” cũng như trong việc kết hợp nó với “quyền lực cứng”. Tám năm cầm quyền của Tổng thống G. Bush với chính sách “diều hâu”, chủ yếu dựa vào “quyền lực cứng” để tiến hành chiến tranh và áp đặt, đã làm cho nước Mỹ suy yếu, giảm uy tín quốc tế, thậm chí còn làm dấy lên tình cảm chống Mỹ trong thế giới hồi giáo, quan hệ giữa Mỹ với một số nước, kể cả đồng minh, gặp khó khăn và rắc rối. Điều này cũng đồng nghĩa với “quyền lực mềm” của Mỹ bị suy giảm đáng kể.

 

Nhận thức rõ thực tế đó, Tổng thống Barack Obama, ngay từ khi bước vào Nhà Trắng, đã thể hiện quyết tâm cải biến nhằm khôi phục lại sức mạnh, uy tín và vị thế của nước Mỹ. Ngay trong bài diễn văn nhậm chức vào ngày 20/1/2009, Tổng thống Barack Obama đã nêu rõ chính sách của chính quyền mới là: “Nước Mỹ sẽ chú trọng hơn đến chủ nghĩa đa phương, tính nhân văn và sự kiềm chế”. Ông nhấn mạnh: "đối với thế giới Hồi giáo, chúng tôi tìm kiếm một cách thức mới hướng về phía trước, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau" và ông hứa hẹn "nước Mỹ sẽ tìm kiếm sự hợp tác và hiểu biết lớn hơn giữa các dân tộc".

 

Trong Chiến lược An ninh quốc gia công bố gần đây, Nhà Trắng nêu rõ ưu tiên sử dụng các biện pháp ngoại giao, đặc biệt là ngoại giao đa phương để giải quyết các vấn đề về an ninh, kể cả đối với các cuộc chiến tranh ở Irak và Afghanistan hiện nay. Chiến lược này đã loại cuộc chiến chống khủng bố khỏi chương trình nghị sự và đặt mục tiêu phục hồi và thịnh vượng kinh tế là một ưu tiên hàng đầu. Chiến lược cũng khẳng định “bốn lợi ích quốc gia vĩnh viễn có sự liên kết chặt chẽ” của Mỹ là an ninh, thịnh vượng, giá trị và trật tự quốc tế. Điều này cho thấy chính quyền Obama quan tâm và chú trọng đặc biệt tới sử dụng và phát huy “quyền lực mềm” để bảo đảm an ninh quốc gia và thúc đẩy quan hệ đối ngoại. 

 

Trung Quốc trong những năm gần đây cũng đặc biệt tăng cường công cụ “quyền lực mềm” trong quan hệ quốc tế. Họ tuyên bố công khai và tích cực triển khai chính sách “trỗi dậy hoà bình”. Nhờ sự phát triển ngoạn mục về kinh tế trong ba thập kỷ qua, Trung Quốc đang vươn lên thành nền kinh tế thứ hai thế giới sau Mỹ và hiện là nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu và dự trữ ngoại tệ. Trung Quốc ra sức thể hiện mình là một dân tộc hoà bình, có nền văn hoá lâu đời giàu bản sắc và là một cường quốc đang lên, cố gắng hành xử có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Họ đặc biệt chú trọng dùng các biện pháp kinh tế (thông qua viện trợ, đầu tư, mở mang thương mại), văn hoá, giáo dục và khoa học công nghệ để xây dựng và mở rộng ảnh hưởng của mình ở nhiều nơi trên thế giới. Với những công cụ này, trong những năm qua, lợi dụng Mỹ tập trung sức lực chống khủng bố, bị sa lầy ở Afghanistan và Irak, bị suy yếu tương đối về kinh tế và uy tín chính trị, Trung Quốc đã tranh thủ xâm nhập mạnh và tạo dựng được những vị trí đứng chân vững chắc ở châu Phi, Mỹ La-tinh, Đông Nam Á, và do vậy, cũng đã có được một thế chiến lược tốt hơn so với trước đây.

 

Đông Nam Á là địa bàn Trung Quốc đặc biệt quan tâm. Từ hơn một thập kỷ trở lại đây, Trung Quốc tích cực tranh thủ và lôi kéo các nước trong khu vực này thông qua các biện pháp ngoại giao, kinh tế, văn hoá và kể cả quân sự nữa. Tuy nhiên, công cụ “quyền lực mềm” vẫn được Trung Quốc sử dụng là chính. Trung Quốc cố gắng thể hiện mình như là một người bạn, một láng giềng và một đối tác tốt của các nước trong khu vực. Họ chủ động tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hữu nghị của ASEAN,  lập quan hệ đối tác chiến lược với ASEAN, đề cao các giá trị và nguyên tắc lớn như tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tương trợ và hợp tác khu vực; ủng hộ vai trò dẫn dắt của ASEAN trong nhiều cơ chế hợp tác khu vực; ký Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do với ASEAN; tăng cường giao lưu kinh tế và viện trợ cho một số nước ASEAN; đẩy mạnh kết nối hạ tầng và phát triển du lịch với ASEAN. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng hết sức quan tâm khai thác ngoại giao văn hoá để tăng cường ảnh hưởng của mình ở khu vực. Số liệu thống kê cho thấy, trong những năm gần đây, Trung Quốc gia tăng mạnh việc trao đổi sinh viên với các nước trong khu vực, nhận và tài trợ cho một số lượng đông đảo sinh viên từ các nước này sang học ở Trung Quốc, tích cực tham gia các hoạt động giao lưu văn hoá nghệ thuật trong khu vực. Trung Quốc triển khai mạnh chủ trương thành lập các viện Khổng tử học tại các nước. Theo Tân Hoa xã, tính tới tháng 11.2009, Trung Quốc có cả thảy 282 viện Khổng Tử học và khoảng 272 trường dạy Hán ngữ ở 88 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo kế hoạch đến cuối năm 2010, Trung Quốc sẽ mở tổng cộng 500 viện Khổng Tử học, và đến năm 2020 con số đó sẽ là 1.000. Các viện Khổng Tử học thực chất là các trung tâm giới thiệu và quảng bá văn hoá và các giá trị của Trung Quốc.

 

Những nỗ lực nói trên để xác lập ảnh hưởng “mềm” của Trung Quốc ở Đông Nam Á cùng với việc tăng cường “quyền lực cứng” của nước này trong bối cảnh tranh chấp ở Biển Đông lại càng khiến các nước ASEAN bối rối và có phần chia rẽ. Mỹ và một số cường quốc khác cũng tỏ ra “không yên tâm”. Bởi vậy, gần đây, nhất là từ khi Tổng thống Barack Obama lên nắm quyền, Mỹ đã bày tỏ quyết tâm “quay trở lại Đông Nam Á”. Nhật, Ấn Độ, EU và Nga cũng quan tâm và tích cực tìm cách tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực này thông qua công cụ “quyền lực mềm”.

 

Nhân loại sẽ tiếp tục chứng kiến nhiều diễn biến lớn trong quan hệ quốc tế, trong đó có cuộc cạnh tranh quyền lực quyết liệt giữa các nước, đặc biệt là giữa các cường quốc để tồn tại và có một vị trí thuận lợi trong một trật tự thế giới không ngừng thay đổi. Cả “quyền lực cứng” và “quyền lực mềm” sẽ tiếp tục được các quốc gia sử dụng. Tuỳ từng đối tượng, bối cảnh cụ thể và mục tiêu cần đạt được mà mỗi nước dùng “cứng” hay “mềm” hoặc cả hai được kết hợp cùng một lúc với liều lượng khác nhau. Tuy nhiên, với xu thế phát triển chung và trình độ văn minh ngày càng cao, “quyền lực mềm” sẽ ngày càng trở thành sự lựa chọn trước hết của mỗi quốc gia./

TS. Phạm Quốc Trụ, Học viện Ngoại giao

(Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không cắt đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập Website)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU - Trung Quốc: Từ đối tác chiến lược thành đối thủ hệ thống

EU và Trung Quốc mối quan hệ từ đối tác chiến lược chuyển thành đối thủ hệ thống. Điều gì đã đẩy hai bên đi đến bước đường này?

Đọc tiếp...
More:

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Dịch COVID-19 có lẽ là cơ hội để các nước Đông Nam Á hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào thị trường Trung Quốc và đa dạng hóa, tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm đạt được vị thế tốt hơn .

Đọc tiếp...
More:

Quan hệ Nhật - Hàn liệu có thể cải thiện?

Quan hệ Nhật - Hàn liệu có thể cải thiện?

Ngày 28/8, tranh chấp Nhật-Hàn lại tiếp tục rơi vào bế tắc khi Nhật Bản chính thức loại Hàn Quốc ra khỏi “Danh sách trắng” về thương mại. Kể từ đầu tháng 7 đến nay, sau những đòn tấn công “ăn miếng trả miếng” quyết liệt, mâu thuẫn Nhật-Hàn đã leo thang, căng thẳng và phức tạp hơn. Cuộc khủng hoảng này sẽ ngày càng quyết liệt, hay vẫn còn cơ hội để vãn hồi?

Đọc tiếp...
More:

COVID-19 và bầu cử Mỹ: Donald Trump "trong họa được phúc"?

COVID-19 và bầu cử Mỹ: Donald Trump

Với sự lây lan nhanh chóng cùng sự gia tăng tỷ lệ tử vong bởi đại dịch COVID-19, liệu cơ hội giành chiến thắng của Trump trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra vào tháng 11 tới đây bắt đầu bị đe dọa?

Đọc tiếp...
More:

Ứng phó của châu Âu với cuộc khủng hoảng COVID-19

Ứng phó của châu Âu với cuộc khủng hoảng COVID-19

Với sự xuất hiện của đại dịch COVID-19, Liên minh châu Âu (EU), cũng như phần còn lại của thế giới, đang trải qua một cuộc khủng hoảng chưa từng có, trong đó sự tổn thất về người, sự thiệt hại về kinh tế và chính trị hết sức nặng nề.

Đọc tiếp...
More:

Tác động của COVID-19 đối với Hàn Quốc

Tác động của COVID-19 đối với Hàn Quốc

Tháng 1 năm 2020, sau khi biết tin về bệnh “viêm phổi không rõ nguyên nhân” ở Vũ Hán, Trung Quốc, chính phủ và dư luận Hàn Quốc đã bắt đầu chú ý đến sự phát triển và tác động của dịch bệnh này.

Đọc tiếp...
More:

Xu thế tập hợp lực lượng ở châu châu Á - Thái Bình Dương 5-10 năm tới: tác động và đối sách của Việt Nam

Xu thế tập hợp lực lượng ở châu châu Á - Thái Bình Dương 5-10 năm tới: tác động và đối sách của Việt Nam

Sự dịch chuyển tập hợp lực lượng hiện nay tác động đến tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương trên nhiều cấp độ và vấn đề khác nhau. Việt Nam đứng trước nhiều thuận lợi và thách thức trong bối cảnh mới. Để có thể ứng xử phù hợp, Việt Nam cần nhận thức rõ các xu hướng tập hợp lực lượng, phương châm và từ đó đề ra các biện pháp thích hợp.

Đọc tiếp...
More:

Hệ lụy của Đại dịch đối với Đông Nam Á

Hệ lụy của Đại dịch đối với Đông Nam Á

Mọi thứ cuối cùng cũng phải kết thúc. Nhưng bây giờ chúng ta đang ở giai đoạn khởi đầu của kết thúc, hay chỉ là kết thúc của bắt đầu? Không ai thực sự biết. Trong lịch sử, đại dịch đã gây ra những hệ lụy đáng kể về kinh tế, chính trị và địa chính trị.

Đọc tiếp...
More:

Lý do Ấn Độ không nên cản trở đầu tư từ Trung Quốc

Lý do Ấn Độ không nên cản trở đầu tư từ Trung Quốc

Trong cuộc khủng hoảng do đại dịch gây ra, và trong thời kỳ suy thoái kinh tế kéo dài vốn sẽ tác động đến nền kinh tế của cả hai nước, Trung Quốc và Ấn Độ cần hợp tác chặt chẽ hơn thay vì dựng lên những rào cản mới đối với can dự kinh tế.

Đọc tiếp...
More:

Dự báo về các nguy cơ toàn cầu năm 2016

Dự báo về các nguy cơ toàn cầu năm 2016

Ba nguy cơ hàng đầu có khả năng xảy ra nhất ở Bắc Mỹ là tấn công mạng, hiện tượng thời tiết khắc nghiệt và đánh cắp dữ liệu, trong khi ở Mỹ Latinh và Caribbean là nguy cơ thất bại của chính phủ quốc gia, thất nghiệp và bất ổn xã hội.

Đọc tiếp...
More:

Quan điểm của Đông Nam Á về những xu hướng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Quan điểm của Đông Nam Á về những xu hướng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Bài bình luận này lập luận rằng môi trường bên ngoài ngày càng phức tạp sẽ khiến các nước trong khu vực hướng tới các quy trình hoạch định chiến lược nhiều sắc thái hơn, trong đó có cả xu hướng giảm sự phụ thuộc vào các cường quốc lớn cũng như xây dựng các năng lực nội tại để thích ứng với sự thay đổi.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4576 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin