22 - 11 - 2019 | 7:51
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Email In PDF.

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

 

Gregory J. Moore trưởng khoa Nghiên cứu Quốc tế tại Đại học Nottingham, Ninh Ba.

Hiện nay, Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck - dường như là mục tiêu Bắc Kinh tuyên bố - hoặc đi theo mô hình (chủ đích hoặc không chủ đích) của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ và/hoặc yêu sách biển, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng. Biển Đông là phép thử quan trọng, bởi những lựa chọn của Trung Quốc ở khu vực sẽ tác động tới quan hệ của nước này với các nước láng giềng và những cường quốc khác như Mỹ.

Từ khóa: Trung Quốc, Mỹ, Biển Đông, sự trỗi dậy hòa bình, các cường quốc.

Câu hỏi đặt ra với Washington và các nước láng giềng của Trung Quốc khá đơn giản: Liệu Trung Quốc trỗi dậy sẽ đi theo mô hình của Otto von Bismarck hay của Kaiser Wilhelm II? Hai nhà lãnh đạo này chịu trách nhiệm xây dựng nước Đức phát triển nhanh chóng nhưng lựa chọn con đường rất khác nhau trong chính sách đối ngoại quốc gia. Sau khi thống nhất các bang tách rời theo thể chế liên bang thành một quốc gia dân tộc mạnh mẽ và hùng cường vào năm 1871, Bismarck quản lý sự trỗi dậy của Đức, quan trọng không tạo cớ để các nước xung quanh thành lập một liên minh chống đối, hoặc khơi mào cho một cuộc chiến. Mặc dù các nhà hiện thực hiện đại cho rằng một cường quốc trỗi dậy sẽ dẫn tới việc hình thành một liên minh đối trọng (ở mức tối thiểu) và/ hoặc khơi mào một cuộc chiến (trong trường hợp xấu nhất), chiến lược tổng thể của Bismarck đã không dẫn đến hai kịch bản trên (Allison 2015). Eric Hobsbawm (1987, 312) từng nhận xét rằng Otto von Bismarck "thực sự là nhà vô địch thế giới trong bàn cờ ngoại giao đa phương suốt hai mươi năm kể từ sau năm 1871, [và] cống hiến hết mình, và thành công trong việc duy trì môi trường hòa bình giữa các cường quốc." Ngược lại, sau khi Kaiser Wilhelm II miễn nhiệm vai trò chính khách cấp cao của Bismarck và chỉ đạo chính sách đối ngoại của Đức vào năm 1890, ông chèo lái Đức theo hướng mở rộng sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự. Điều này đã không xoa dịu các nước láng giềng, các đối thủ cạnh tranh của Đức hoặc giúp quản lý hiệu quả hệ thống đồng minh khu vực mà người tiền nhiệm Otto von Bismarck cố gắng giữ sự cân bằng. Ông Kaiser Wilhelm II dường như cũng không cân nhắc nghiêm túc về những bất an của các các nước láng giềng trước tự sự trỗi dậy nhanh chóng của Đức. Kết quả tất yếu là một cuộc chạy đua vũ trang nổ ra, đặc biệt là các nước Nga, Pháp, và Vương quốc Anh, để đối phó với chủ nghĩa đơn phương mới việc Đức tập trung xây dựng sức mạnh quân sự và phát triển kinh tế vào đầu thế kỷ XX. Tất cả điều này, cùng với vai trò quan trọng của các cường quốc nhỏ hơn như Serbia và những cá nhân như Princip cùng vụ ám sát Arch Duke Francis Ferdinand, làm bùng nổ Thế chiến thứ nhất vào năm 1914. Người ta có thể tự hỏi Đức, Châu Âu sẽ ra sao nếu ông Kaiser Wilhelm không điều hành chính sách đối ngoại của Đức, thay vào đó trao quyền cho một người có quan điểm giống với nhà chính khách dày dạn kinh nghiệm, Otto von Bismarck, để tiếp tục định hướng chính sách đối ngoại của Đức vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ XX.

Giống với nước Đức thời Bismarck và Wilhelm, Trung Quốc là một cường quốc đang trỗi dậy nhanh chóng, gây xáo trộn cán cân quyền lực khu vực. Như nước Đức thời kỳ đó, Trung Quốc phải đứng trước những lựa chọn về triển khai chính sách đối ngoại hiện tại và tương lai - những lựa chọn này có ảnh hưởng lớn đến hòa bình và an ninh khu vực. Biển Đông đang và sẽ là một trong những vũ đài chiến lược quan trọng nhất Trung Quốc phải quyết định triển khai sức mạnh trong những năm tới. Trên thực tế, giới truyền thông, và ngày càng nhiều người trong giới học giả, thảo luận về tầm quan trọng của Biển Đông trong quan hệ khu vực (Đông Á và Đông Nam Á) mối quan hệ quốc tế. Phán quyết gần đây của Tòa Trọng tài ở The Hague trong vụ kiện của Philippines[1] chỉ rõ đây là vấn đề có tầm quan trọng quốc tế. Học giả Robert Kaplan nhận định Biển Đông đối với Trung Quốc hiện nay giống như Biển Caribê đối với Mỹ vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ XX, và Biển Đông đặt trong bối cảnh chiến lược Đông Á giống như Địa Trung Hải trong bối cảnh khu vực Cận Đông, Châu Phi, Châu Âu từ thời kỳ các thành bang Hy Lạp cho tới ngày nay, và “Biển Đông đóng vai trò quan trọng đối với tương lai địa chính trị của Trung Quốc” (2015, 20). những so sánh này có điểm phù hợp nhất định, Biển Đông và bối cảnh khu vực rất khác biệt về bản chất và thời điểm thế kỷ 21, như vậy trong khi học hỏi từ quá khứ, chúng ta cần nhìn nhận đúng về Biển Đông như một hiện tượng chiến lược của thế kỷ 21. Hàm ý ở đây là các nhân tố quan trọng như Chiến lược Chống Tiếp cận, Chống Xâm nhập của Trung Quốc (theo quan điểm của Mỹ) và chiến lược Không-Hải Chiến của Mỹ, đối chọi với nhau tạo ra nguy cơ leo thang rất đáng lo ngại (Moore 2014).

Về khía cạnh chiến lược, Biển Đông rất quan trọng bởi "người ta ước tính hơn một nửa hoạt động thương mại biển của thế giới, một nửa lượng khí đốt hóa lỏng và một phần ba lượng dầu thô toàn cầu vận chuyển qua Eo biển Malacca" (Hayton 2014, 101). Biển Đông cũng là khu vực Trung Quốc và Mỹ có lợi ích song trùng và trong một số trường hợp mang tính đối lập. Thực tế, Hải quân Mỹ cung cấp "dịch vụ công" ở Biển Đông kể từ Thế chiến II, giúp duy trì các tuyến đường biển và giao thương biển thông suốt, không bị cản trở. Việc Mỹ can dự vào khu vực được tất cả các quốc gia tiếp giáp Biển Đông, ngoại trừ Trung Quốc, hoan nghênh bởi họ coi Mỹ đóng vai trò đối trọng ngăn cản các hành động quyết đoán của Trung Quốc ở khu vực.[2] Trong khi cạnh tranh chiến lược Trung-Mỹ có thể tương đối mới nhưng tầm quan trọng Eo biển Malacca và Biển Đông trong thế kỷ 21 không phải là điều mới mẻ, vì khu vực này là tuyến đường biển chiến lược và cơ sở cho hoạt động thương mại nội khối và liên khu vực trong hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm.

Tuy nhiên điều khiến các nhà nghiên cứu chính sách đối ngoại và các chuyên gia về quan hệ quốc tế (IR) đặc biệt quan tâm đến Biển Đông giai đoạn đầu thế kỷ 21 có lẽ bối cảnh chiến lược Biển Đông là trường hợp điển hình phù hợp nhất để kiểm nghiệm “sự trỗi dậy hòa bình (hoặc không hòa bình) của Trung Quốc”, đây là điều Bắc Kinh tuyên bố trong những năm qua. Phán quyết của Tòa Trọng tài Hague khiến điều này rõ ràng hơn. Vụ kiện nhấn mạnh tầm quan trọng cách thức Trung Quốc triển khai chính sách đối ngoại và chiến lược cũng như tác động đối với các nước láng giềng trước thực tế Trung Quốc một lần nữa trở nên hùng mạnh. Ở đây, vấn đề chiến lược và lãnh thổ rất quan trọng nhưng các quyết định của Tòa không rõ ràng như chúng ta kỳ vọng, Trung Quốc có khả năng thể hiện cách hành xử tích cực (cho thấy nước này có điều chỉnh) hoặc lối hành xử mà các nước láng giềng đánh giá quyết đoán và thực dụng thay vì dựa trên nguyên tắc. Diễn biến của tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước láng giềng có ý nghĩa quan trọng đối với khu vực và thế giới vì liên quan đến khả năng Trung Quốc trỗi dậy hòa bình, và sự trỗi dậy này có ý nghĩa lớn đối với khu vực và thế giới. Cuối cùng, chúng ta sẽ thảo luận một vấn đề lớn hơn đó là sự trỗi dậy toàn cầu của Trung Quốc.

Tuyên bố Trỗi dậy Hòa bình

Đối với các nhà hoạch định chính sách quốc tế và sinh viên ngành quan hệ quốc tế, một trong những sự kiện có nhiều ảnh hưởng vào những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI là sự trỗi dậy của Trung Quốc. Việc Trung Quốc nổi lên là cường quốc kinh tế toàn cầu thật đáng kinh ngạc ở nhiều phương diện, đặc biệt xét đến tình trạng kiệt quệ về kinh tế sau khi kết thúc Cuộc Cách mạng Văn hóa vào giữa thập niên 1970, từ đó nước này đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Cách thức các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc lựa chọn để thể hiện sự trỗi dậy là gì?

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã thúc đẩy chính sách “thế giới hài hòa” dựa trên chính sách “láng giềng thân thiện” của người tiền nhiệm, hướng tới củng cố và ổn định quan hệ với các nước láng giềng, từ đó Trung Quốc tập trung vào công cuộc phát triển đất nước. Trên thực tế, Trung Quốc chung biên giới với 14 quốc gia, và dưới thời Hồ Cẩm Đào, quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng có nền tảng khá vững chắc, theo một chuyên gia Trung Quốc đánh giá vào năm 2008 là “tốt nhất trong lịch sử”.[3] Chính sách “thế giới hài hòa” của Trung Quốc hướng tới xây dựng mối quan hệ hòa hợp, không chỉ với các nước láng giềng, mà với mọi quốc gia trên thế giới. Ông Hồ Cẩm Đào (năm 2008) tuyên bố như sau:

Trong một thế giới mà xu hướng đa cực là không thể đảo ngược, toàn cầu hoá kinh tế diễn ra sâu rộng cùng với cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật đang phát triển mạnh mẽ, tương lai của Trung Quốc gắn kết với tương lai của thế giới lớn hơn bao giờ hếtTrung Quốc sẽ kiên định đi theo con đường phát triển hòa bìnhTrung Quốc cam kết giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tếTrung Quốc không bao giờ muốn trở thành bá quyền hoặc bành trướng.

Những tuyên bố của chủ tịch Trung Quốc khi đó rất quan trọng, và chúng ta sẽ thảo luận về điều này sau.

Với sự nổi lên của ông Tập Cận Bình trong vai trò lãnh đạo Trung Quốc, các tuyên bố chính sách đối ngoại của nước này thay đổi không đáng kể, nhưng chính sách đối ngoại thực sự thay đổi. Ông Tập mang đến câu chuyện về “Giấc mơ Trung Hoa” mà chúng ta có thể coi là một phiên bản của chủ nghĩa tập thể về Giấc mơ Mỹ. Ông Tập (2014, 37–39) nhấn mạnh đây cơ bản là "quá trình phục hưng dân tộc Trung Hoa". Cùng với đó, ông Tập thúc đẩy “mối quan hệ cường quốc kiểu mới” (NTGPR) dựa trên ba tiền đề: “không xung đột hay đối đầu, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi” (Tập 2013, 306). Trong khi trước đó Chủ tịch Hồ Cẩm Đào chưa chú trọng, ông Tập đã nắm lấy “câu thần chú” này và đề xuất với tổng thống Mỹ Barack Obama tại thượng đỉnh Sunnylands giữa hai nhà lãnh đạo vào năm 2013. Tuy nhiên đề xuất này có vẻ không được Mỹ đón nhận. Trong “Sách trắng về Hợp tác An ninh ở châu Á-Thái Bình Dương” của Trung Quốc năm 2017, dường như các khái niệm chung (và ba tiền đề trên) của NTGPR vẫn là một phần trong hệ thống chính sách đối ngoại mặc dù khái niệm NTGPR không được đề cập. Thay vào đó, sách trắng kêu gọi “một mô hình quan hệ quốc tế kiểu mới, trong đó tập trung vào hợp tác cùng có lợi” (mặc dù báo cáo không nêu chi tiết về điều kiện yêu cầu), và trong báo cáo này, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tiếp tục khẳng định ý muốn đi theo con đường "phát triển hòa bình" như nguyên tắc định hướng, một khái niệm được ông Tập nêu trong báo cáo tại Đại hội Đảng lần thứ XIX (Xi 2017).

Trung Quốc sử dụng cụm từ "Phát triển hòa bình" để thay thế cụm từ "Trỗi dậy hòa bình" (heping jueqi) trước đó. Năm 2002, Chủ tịch Diễn đàn Cải cách Trung Quốc Trịnh Tất Kiên (1995) đã đưa ra khái niệm "Trỗi dậy hòa bình", nhưng Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và giới lãnh đạo Trung Quốc năm 2004 và sau này chủ yếu sử dụng cụm từ "phát triển hòa bình". Đây là kết quả của “khái niệm an ninh mới” (xin anquan guan) mà Trung Quốc xây dựng từ nhiều năm trước, trong đó khẳng định muốn tránh những sai lầm chính trị và quân sự mang tính bất ổn và bạo lực của các cường quốc trỗi dậy trước đó. Học giả Bonnie Glaser và Evan Medeiros cho rằng chính phủ Trung Quốc sau đó đã không sử dụng cụm từ “trỗi dậy hòa bình”, thay vào là khái niệm phổ biến hiện nay “phát triển hòa bình” (một cụm từ ông Tập sử dụng trong bài phát biểu tại Đại hội Đảng lần thứ XIX) bởi khái niệm Trung Quốc trỗi dậy có thể khiến những người theo chủ nghĩa hiện thực lo ngại về một cường quốc mới trỗi dậy (Glaser Medeiros 2007). Dĩ nhiên, tất cả các tuyên bố về trỗi dậy hay phát triển được hiểu trong bối cảnh câu nói của Đặng Tiểu Bình, kiến trúc sư trưởng đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, rằng Trung Quốc nên thao quang, dưỡng hối” (taoguang, yanghui), hay nghĩa đen là giấu mình chờ thời.” Điều này có thể được hiểu Trung Quốc muốn phát triển hòa bình và không tìm kiếm một vị thế trên vũ đài chính trị toàn cầu (nghĩa là muốn tránh trở thành tâm điểm chú ý) hoặc Trung Quốc thực sự có tham vọng trở thành cường quốc toàn cầu nhưng phải giấu mình chờ thời (nghĩa là tới thời điểm nước này đạt sức mạnh "tối đa"). Dĩ nhiên, sự khác biệt giữa hai cách giải thích này rất lớn, và trong trường hợp đó, liên quan đến câu hỏi Trung Quốc cuối cùng sẽ đóng vai trò gì khu vực và quy mô toàn cầu.

Trong khi Trung Quốc dưới thời ông Tập tiếp tục tuyên bố về phát triển hòa bình (câu thần chú ông Tập đề cập trong báo báo tại Đại hội Đảng Trung Quốc lần thứ XIX), rõ ràng những lựa chọn chính sách đối ngoại hiện nay cho thấy ông Tập tạm gác lại phương châm cũ của Đặng Tiểu Bình về “taoguang, yanghui”. Các nhà phân tích Trung Quốc dường như thống nhất rằng ông Tập nhận định thời cơ của Trung Quốc đã tới, sức mạnh quốc gia hiện tại đủ mạnh, trong khi thận trọng nhưng không cần phải giấu mình chờ thời nữa. Thực tế những năm gần đây, ngày càng có nhiều tiếng nói trong giới truyền thông, học giả, các nhà phân tích chính sách kêu gọi chính phủ thực thi chính sách đối ngoại quyết đoán hơn. Dường như ông Tập đã không làm họ thất vọng. Chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông đã thể hiện rõ điều này.

Trung Quốc, Mỹ, và Biển Đông

Trong bối cảnh hiện nay, việc xem xét chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông là cách thức phù hợp để đánh giá các tuyên bố chính sách và thực tế triển khai của nước này. Theo quan điểm của một số nước láng giềng Trung Quốc và nhiều nhân vật ở Washington, chính sách cứng rắn hơn của Bắc Kinh ở Biển Hoa Đông và Biển Đông những năm gần đây cho thấy những đồn đoán của các nhà hiện thực đã thành sự thật. Nói cách khác, như Thucydides đề cập trong nghiên cứu của ông về Cuộc chiến Peloponnesian, "kẻ mạnh làm những điều họ có thể, trong khi kẻ yếu phải chấp nhận thực tế của họ," có nghĩa Trung Quốc càng lớn mạnh, nước này ngày càng quyết đoán hơn (Moore 2017, 98). Nói cách khác, khi kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng, nước này sẽ phân bổ nhiều nguồn lực hơn cho chi tiêu quân sự. Đặc biệt, Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân (PLAN) đã tiếp nhận nhiều nguồn lực, phát triển năng lực trên biển và khả năng triển khai lực lượng từ Đông Bắc Á đến Biển Hoa Đông, Biển Đông và cái gọi là chuỗi ngọc trai gồm các cơ sở hải quân của Trung Quốc nằm rải rác từ Biển Đông qua Eo biển Malacca, Nam Á và đến tận Vịnh Ba Tư, khu vực Trung Quốc có nhiều hoạt động vận tải biển từ xuất khẩu hàng hóa sản xuất sang châu Âu, nhập khẩu dầu từ Trung Đông, và nhiều hoạt động trao đổi hàng hóa và thương mại khác. Những năm gần đây,  nhiệm vụ của PLAN được mở rộng và Trung Quốc tăng cường thúc đẩy đối với các yêu sách biển và chính sách biển của mình (Lee 2012).

….

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Gregory J. Moore là trưởng khoa Nghiên cứu Quốc tế tại Đại học Nottingham, Ninh Ba, Trung Quốc, giảng dạy các khóa học đại học và sau đại học về quan hệ quốc tế. Lĩnh vực nghiên cứu ông quan tâm bao gồm quan hệ quốc tế, lý thuyết IR, an ninh quốc tế, các phương pháp, chính sách đối ngoại của Trung Quốc, chính sách đối ngoại của Mỹ, quan hệ Trung-Mỹ, IR/ an ninh Đông Á, phân tích chính sách đối ngoại và vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên. Ông có nhiều bài báo trên các tạp chí như Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, An ninh Châu Á, Phân tích Chính sách Đối ngoại, Quan hệ quốc tế ở Châu Á - Thái Bình Dương, Quan điểm châu Á, Tạp chí Trung Quốc đương đạiTạp chí Khoa học Chính trị Trung Quốc. Ông hiện đang viết một cuốn sách về quan hệ Trung-Mỹ và đã hoàn thành một cuốn sách có tựa đề Hoạt động hạt nhân của Bắc Triều Tiên: An ninh khu vực và việc không phổ biến vũ khí (2014) và một cuốn sách về tư duy quan hệ quốc tế của Reinhold Niebuhr (đang chờ duyệt). Ông Gregory J. Moore hiện là thành viên của Ủy ban Quốc gia Mỹ (US) về Quan hệ Mỹ-Trung và là thành viên cao cấp của Viện Chính sách Trung Quốc, Đại học Nottingham. Liên lạc với tác giả qua địa chỉ Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. .

Bài viết được đăng trên Góc nhìn Châu Á số 42 (2018), 265–283

Tuấn Đinh (dịch)

Trần Quang (hiệu đính)



[1] Bên cạnh những điều khác, Philippines cáo buộc Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp Bãi cạn Scarborough (Panatag, hay đảo Hoàng Nham), nằm trong vùng đặc quyết kinh tế của Philippines và cách Trung Quốc tới 500 dặm.

[2] Tôi cho rằng các nước bao gồm cả Philippines, thậm chí dưới chính quyền Duterte, một nhà lãnh đạo thường hay chỉ trích Mỹ. Ông Duterte không yêu cầu người Mỹ rời đi, hoặc các vị tướng quân đội của Philippines hiện nay không có xu hướng chống Mỹ như ông Duterte.

[3] Các thảo luận tại Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc, Bắc Kinh (tháng 6 năm 2008)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Chừng nào sức mạnh của Trung Quốc vẫn đang phát triển, ngay cả khi nước này tiếp tục hạn chế sử dụng sức mạnh, quân đội Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường bố trí lực lượng và hiện diện quân sự, tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” khiến Biển Đông trở thành “chiến trường”. Trong tương lai, lực lượng quân đội Mỹ sẽ không ngừng tập trung ở Biển Đông, gia tăng cường độ hành động hơn nữa.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Bầu không khí của chuyến thăm thứ 5 của Duterte đến Trung Quốc đã trở nên u ám sau các hành động của Trung Quốc như phái hàng trăm tàu cá đến đảo Thị Tứ và đâm chìm một tàu cá Philippines gần bãi Cỏ Rong trong nửa đầu năm 2019.

Đọc tiếp...

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng "họng súng" và "vỏ bọc hòa bình"

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng

"Người dân Trung Quốc đã học được giá trị của hòa bình"..."Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ cuộc chiến tranh hay xung đột nào" hay "Trung Quốc luôn đi đầu trong việc hướng tới hòa bình và ổn định khu vực"... Đây là những "Khẩu hiệu" mà Trung Quốc thường rêu rao để đánh bóng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc làm hoàn toàn trái ngược với điều đó.

Đọc tiếp...

"Hàng xóm bắt nạt": Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phản tác dụng

Mọi hành động đều có phản ứng khác nhau; các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như các quốc gia có lợi ích ở khu vực này chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Trên thực tế, Bắc Kinh đang “mời gọi" các nước chống lại họ, và điều này không mang lại lợi ích cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Mỹ và đồng minh phải sử dụng sức mạnh của họ trên mọi lĩnh vực quân sự và phi quân sự. Theo đó, các hoạt động hộ tống bảo vệ hàng hải sẽ đi kèm với các nỗ lực đồng thời nhằm giúp các chính phủ và nền kinh tế ở Đông Nam Á vững vàng hơn trước ảnh hưởng xấu của Trung Quốc, cũng như việc phát triển và triển khai các lực lượng chiến đấu tinh nhuệ với nhiệm vụ ngăn chặn hành vi gây hấn quy mô lớn của Trung Quốc

Đọc tiếp...

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển sầm uất nhất trên thế giới, không chỉ đáng báo động mà còn nhiều khả năng biến thành một cuộc chiến tranh thực sự. Nếu điều đó xảy ra, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á sẽ tiêu tan.

Đọc tiếp...

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Vụ việc ở Bãi Tư Chính là một phần trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp ở Biển Đông của các quốc gia ven biển và hợp tác giữa họ với các nước ngoài khu vực. Những hành động này có thể mang lại lợi ích trước mắt cho Trung Quốc, nhưng về lâu dài sẽ dẫn đến bất lợi cho quốc gia này.

Đọc tiếp...

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines đã đúng khi mong muốn có mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này mong muốn mở cửa để phát triển kinh tế hơn nữa. Manila cũng phải nhớ rằng hòa bình và thịnh vượng lâu dài phụ thuộc vào quyền tự do và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nước có chủ quyền, cũng như trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc. Trong lời nói và hành động, Philippines cần phải giữ vững lập trường để bảo vệ những nguyên tắc quan trọng này.

 

Đọc tiếp...

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Tính tới giờ, việc Trung Quốc tiến hành quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông được cho là động thái ở mức cao nhất của nước này đối với các vấn đề ở khu vực. Thực chất hành động cũng như mục đích đằng sau của Trung Quốc đe dọa tới không chỉ các nước trong khu vực mà còn tới cả nước lớn như Mỹ.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Tại sao Trung Quốc lại tập trung vào Biển Đông đến như vậy và tại sao lại vào thời điểm này? Nghiên cứu cho thấy, một phần Trung Quốc được thúc đẩy bởi nhận thức về cơ hội, một phần vì nhận thức về sự suy yếu của Mỹ và một phần bởi nhu cầu lên tiếng về những tuyên bố pháp lý của nhà nước.

Đọc tiếp...

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Người ta thường cho rằng cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại phần XV Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) được áp dụng rất hạn chế, phản ánh ý đồ của những người soạn thảo UNCLOS. Vì vậy, các tòa trọng tài cần diễn giải phần XV một cách thận trọng, lưu ý đến những giới hạn về thẩm quyền của toà. Tuy nhiên, Phán quyết Vụ kiện Biển Đông đã đi ngược lại với cách tiếp cận này.

Đọc tiếp...

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Bài viết lập luận rằng các bất ổn cường độ thấp sẽ xảy ra trong tranh chấp biển hoặc cạnh tranh sức mạnh trên biển; tuy nhiên, ít có khả năng tạo ra chu kỳ leo thang kéo dài bởi đặc điểm của môi trường chiến lược biển khu vực.

Đọc tiếp...

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Thời điểm hiện tại, tình hình Biển Đông đang đi vào thời điểm quan trọng khi những bước tiến của Trung Quốc đang tích tụ dần còn dư địa cho Mỹ hành động đang giảm đi, và các nhà quan sát tại khu vực thì đang tự hỏi liệu Mỹ đã sẵn sàng đối mặt với thách thức này hay chưa. Và Mỹ vẫn đang loay hoay đi tìm một chiến lược.

Đọc tiếp...

"Không độc chiếm" Biển Đông?

Dù có sự khác biệt giữa Vương quốc Trung Hoa và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng Simon nhận thấy Trung Quốc vẫn giữ khuynh hướng sơ khởi đó là thưởng cho "những quốc gia sẵn sàng thừa nhận vị thế bá chủ khu vực của mình" trong khi phạt "những quốc gia từ chối tuân phục". Để thấy rõ nhất cách tiếp cận này của Trung Quốc, ta có thể nhìn ngay vào quan hệ của nước này tại Đông Nam Á trong năm 2018.

Đọc tiếp...

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Bài viết phân tích 3 trường hợp nghiên cứu trong lĩnh vực - du lịch, khai thác năng lượng và cơ sở hạ tầng - từ đó nêu bật vai trò các chủ thể doanh nghiệp Trung Quốc đã làm thay đổi chính sách Biển Đông của Trung Quốc như thế nào.

Đọc tiếp...

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Bài phân tích đánh giá việc Bắc Kinh xác định chiến lược biển của mình trong các tuyên bố công khai của lãnh đạo. Mục đích là nhằm hiểu được nhiều hơn về ý đồ và ưu tiên chiến lược của Trung Quốc trong lĩnh vực biển; đồng thời cung cấp cho giới hoạch định chính sách và các chuyên gia an ninh quốc gia vốn kiến thức cụ thể và đầy đủ nhất để đối trọng với Trung Quốc trong các vấn đề trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông khiến các nước trong khu vực cảnh giác. Thực tế này thúc đẩy Philippines kiện Trung Quốc. Vào năm 2016, tòa đã đưa ra phán quyết. Hành động và phản ứng của các bên liên quan tới phán quyết và các sự kiện chính trị khác đã khiến năm 2016 trở thành một năm đáng chú ý. Cuộc bầu cử Tổng thống ở Philippines và Mỹ cũng bổ sung những động lực khác khiến tình hình khu vực thay đổi.

 

Đọc tiếp...

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Bài viết so sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Mỹ, cụ thể là các hình thức hội nhập kinh tế và cách tiếp cận địa chính trị tại Đông Nam Á. Các tác giả so sánh động cơ và lý do các cường quốc lớn và hạng hai trong khu vực chấp nhận hoặc tranh cãi về các chính sách của Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Các ghi chép của Trung Quốc cho thấy chuyến thám hiểm chính thức đầu tiên của Trung Quốc tới Hoàng Sa vào năm 1902 chưa từng diễn ra. Thay vào đó, một cuộc thám hiểm bí mật được tiến hành nhiều thập kỷ sau đó để ngụy tạo bằng chứng khảo cổ học trên quần đảo Hoàng Sa nhằm củng cố yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông dường như đang được cải thiện. Trong khu vực, người ta nói đến hợp tác kinh tế và khoa học, khai thác chung tài nguyên biển, bộ quy tắc ứng xử. Nhưng thực tế hoàn toàn khác và chúng ta không thể quên một điều cốt yếu: Sự mất cân xứng về công nghệ và quân sự, những cơ hội và nguy hiểm của việc khai thác chung... có lợi cho Bắc Kinh!

Đọc tiếp...

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Một liên minh hiệu quả ở Biển Đông sẽ là thứ giúp bảo vệ các quyền lợi mà các nước Đông Nam Á được hưởng trong vùng biển của chính họ, đồng thời khiến Bắc Kinh phải đưa ra những nhượng bộ dài hạn hoặc phải trả một cái giá cắt cổ về ngoại giao và kinh tế. Nhưng để làm được điều đó, Washington cần đưa chính sự sáng tạo và tham vọng mà họ đã thể hiện ở biển Hoa Đông đến Biển Đông.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5206 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin