11 - 2 - 2016 | 23:13
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM CỦA CÁC NƯỚC Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM CỦA CÁC NƯỚC Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

Email In PDF.
Ngày 2/2, Viện nghiên cứu Heritage Foundation của Mỹ công bố báo cáo tựa đề: "Submarine Arms Race in the Pacific: The Chinese Challenge to U.S. Undersea Supremacy", đánh giá về tương quan lực lượng tàu ngầm của các nước ở Thái Bình Dương và sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Sau đây là tóm lược nội dung chính của báo cáo:

1. Đánh giá về tương quan lực lượng tàu ngầm các nước ở Thái Bình Dương
Cán cân lực lượng tàu ngầm thay đổi một cách đáng kể từ Chiến tranh Lạnh đến nay, đặc biệt sau khi Nga giảm phần lớn hoạt động đội tàu ngầm của họ từ những năm 1990, số lượng tàu ngầm của Mỹ cũng đang giảm dần. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp hải quân một cách nhanh chóng, đặc biệt là trang bị thêm nhiều tàu ngầm chiến đấu cho đội tàu ngầm của họ trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay. Việc Mỹ giảm dần đội tàu ngầm chiến đấu của họ khiến lực lượng này trở nên mỏng manh hơn, làm cho Ôxtrâylia và Ấn Độ phải tăng gấp đôi số lượng tàu ngầm để đối phó với việc Trung Quốc tăng cường hải quân. Ngoài ra, các nước như Hàn Quốc, Inđônêxia và Malaixia đang phát triển đội tàu ngầm của họ.


- Lực lượng tàu ngầm của Mỹ:


Số lượng tàu ngầm tấn công của Mỹ đã giảm từ 102 chiếc năm 1987 xuống chỉ còn 53 trong năm 2009. Việc sụt giảm này bắt nguồn từ một số lần điều chỉnh cơ cấu lực lượng của Hải quân Mỹ kể từ thời Tổng thống Reagan kêu gọi sản xuất 100 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN). Kế hoạch năm 1991 của Tổng thống Bush cha kêu gọi duy trì 80 SSN. Báo cáo Quốc phòng bốn năm một lần (QDR) năm 1997 giảm mục tiêu này xuống chỉ còn 50 chiếc SSN. QDR 2001 nhắc lại mục tiêu duy trì 50 SSN. Trong khi đó, QDR 2006 đưa ra mục tiêu tăng việc sản xuất thêm 2 tàu ngầm mỗi năm vào năm 2012 và triển khai 60% lực lượng tàu ngầm tới khu vực Thái Bình Dương nhằm bảo vệ các lợi ích của Mỹ tại đây. Nghiên cứu cơ cấu lực lượng tàu ngầm của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân (JCS) năm 1999 kết luận rằng số lượng tối ưu các tàu ngầm tấn công nhằm đáp ứng tất cả các yêu cầu thu thập tin tức và tác chiến của cộng đồng tình báo và quân sự của Mỹ sẽ là 68 chiếc SSN vào năm 2015 và 76 chiếc SSN vào năm 2025. Một lực lượng bao gồm 55 chiếc SSN vào năm 2015 và 62 chiếc vào năm 2025 sẽ tạo ra nguy cơ tương đối về an ninh. Hiện nay, hạm đội tàu ngầm của Mỹ đang bị dàn trải. Trong khi đó, theo kế hoạch mua sắm dài hạn của Hải quân Mỹ, số lượng SSN sẽ giảm xuống chỉ còn 48 chiếc trong giai đoạn 2022 và 2033 và xuống mức thấp nhất chỉ còn 41 chiếc vào những năm 2028-2029.


Để giải quyết "lỗ hổng" này, Hải quân Mỹ đang cân nhắc giảm thời gian sản xuất tàu ngầm lớp Virginia xuống chỉ còn 60 tháng, kéo dài thời gian phục vụ của một số tàu ngầm lớp Los Angeles thêm 2 năm, và kéo dài việc triển khai một số tàu ngầm từ 6-7 tháng. Nếu như thành công, tất cả những biện pháp này sẽ giúp Hải quân Mỹ duy trì tối đa 44-45 chiếc SSN. Việc giảm sút lực lượng SSN không chỉ tạo ra thách thức đối với việc duy trì khả năng răn đe dưới nước của Hải quân Mỹ mà còn ảnh hưởng tới các nỗ lực tác chiến chống tàu ngầm (ASW). Hiện nay, Hải quân Mỹ có 173 máy bay tuần tiễu P-3C đã cũ kỹ và loại máy bay thay thế P-8A dự kiến sẽ chưa thể đưa vào hoạt động cho đến năm 2013. Hải quân Mỹ cũng đang cho "nghỉ hưu" loại máy bay săn tàu ngầm S-3B Viking và vẫn chưa có kế hoạch thay thế. Ngoài ra, Hải quân Mỹ cũng đang thiếu một hệ thống hiện đại giống như hệ thống định vị bằng âm thanh (SOSUS) để phát hiện các tàu ngầm đối phương. Nhiều hệ thống tương tự triển khai từ thời Chiến tranh Lạnh đã lỗi thời và không có tác dụng trong môi trường tác chiến hiện nay. Hơn nữa, nhiều quốc gia đang triển khai các loại tàu ngầm hiện đại có thể đe dọa các tàu sân bay của Mỹ.


- Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc:


Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, Hải quân Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là hạm đội tàu ngầm. Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc có lực lượng hải quân lớn nhất ở châu Á, bao gồm 6 chiếc SSN và 54 chiếc tàu ngầm tấn công chạy bằng điêzen (SS). Hơn một nửa các tàu ngầm chạy bằng điêzen là các loại tàu ngầm hiện đại lớp Kilo, lớp Tống và lớp Nguyên. Trung Quốc đang trên đường thực hiện mục tiêu xây dựng một lực lượng hải quân nước sâu, có thể tác chiến ngoài khơi xa nước này. Trong giai đoạn từ năm 1995-2005, Trung Quốc đã trang bị cho hải quân nước này 31 tàu ngầm mới. Ước tính hạm đội tàu ngầm tấn công của Trung Quốc trong tương lai sẽ có khoảng từ 58-88 chiếc, phụ thuộc vào việc các loại tàu ngầm cũ ngừng hoạt động sớm hay muộn. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã cho ra mắt bốn loại tàu ngầm mới được thiết kế và sản xuất trong nước là tàu ngầm lớp Tấn (tàu ngầm trang bị tên lửa đạn đạo - SSBN), lớp Thương (SSN), lớp Nguyên (SSP), và lớp Tống (tàu ngầm tấn công chạy bằng điện - SSK). Thế hệ tiếp theo của tàu ngầm lớp Thương cũng đang được chế tạo.


Hạm đội tàu ngầm tấn công của Trung Quốc đã tăng một cách đáng kể số lượng tàu tuần tiễu từ 2 chiếc năm 2006 lên 6 chiếc năm 2007 và 12 chiếc năm 2008. Điều này cho thấy Bắc Kinh đang có sự tập trung mới vào việc huấn luyện và chứng tỏ với các nước khác là Trung Quốc là một cường quốc hàng hải ở Thái Bình Dương. Một số vụ đụng độ với tàu của hải quân Mỹ trên vùng biển Thái Bình Dương trong những năm vừa qua cho thấy tầm hoạt động của tàu ngầm Trung Quốc đã vươn xa hơn và hoạt động có phần hiếu chiến hơn so với trước đây. Giới phân tích cho rằng sở dĩ Trung Quốc mở rộng nhanh chóng lực lượng tàu ngầm tấn công là do một số nguyên nhân như: nhằm đáp ứng nhu cầu phòng thủ, hạn chế khả năng can thiệp của Mỹ vào xung đột hai bờ giữa Đài Loan và Trung Quốc Đại lục, thách thức sự thống trị của Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương, bảo đảm khả năng đánh chặn hạt nhân cũng như tạo cho Trung Quốc vị thế lớn hơn trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Như là một phần của khả năng răn đe hạt nhân, Trung Quốc dự kiến sẽ chế tạo khoảng 5 chiếc tàu ngầm SSBN lớp Tấn, mỗi chiếc được trang bị 12 tên lửa đạn đạo được phóng từ tàu ngầm (SLBM) có khả năng vươn tới lãnh thổ Mỹ từ vị trí bắn ngoài khơi Trung Quốc. Bắc Kinh cũng muốn sử dụng một số tàu SSN để hộ tống việc tuần tra răn đe của SSBN. Rõ ràng Trung Quốc không hề e ngại bộc lộ ý định trở thành một cường quốc toàn cầu và một hạm đội tàu ngầm tấn công mạnh sẽ giúp bảo vệ việc vận chuyển đường biển của Trung Quốc trên toàn thế giới.


- Lực lượng tàu ngầm của các quốc gia khác trong khu vực:


+ Ôxtrâylia: có 6 tàu ngầm chạy bằng điện và điêzen (SSK và SS) và đã có kế hoạch thay thế những chiếc tàu ngầm này bằng 12 tàu hiện đại thông thường được trang bị tên lửa tuần tiễu. Động thái này của Ôxtrâylia rõ ràng là do sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc hải quân và sự suy yếu uy thế hải quân của Mỹ, mà Ôxtrâylia vốn cho rằng đóng một vai trò bình ổn ở trên toàn thế giới, đặc biệt ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.


+ Ấn Độ: Mặc dù về mặt địa lý không phải là quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương, nhưng Ấn Độ cũng đang tăng cường ảnh hưởng ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Ấn Độ có 16 tàu ngầm tấn công chạy bằng điêzen và gần đây đã hạ thủy chiếc SSN đầu tiên. Ấn Độ cũng đang chế tạo 6 tàu ngầm điêzen lớp Scorpene. Việc mở rộng và nâng cấp hạm đội tàu ngầm của Ấn Độ là một phần trong nỗ lực nhằm tăng thêm 100 tàu chiến cho hải quân nước này trong vòng 10 năm tới. Ấn Độ cho rằng chương trình chế tạo tàu chiến là một "nhu cầu chiến lược" của phòng thủ quốc gia, chủ yếu là nhằm đối chọi với việc Trung Quốc tăng cường lực lượng hải quân. Ấn Độ cũng có tham vọng trở thành một nước lớn và lực lượng tàu ngầm là một công cụ quan trọng để thực hiện tham vọng đó.


+ Nga: hạm đội tàu ngầm của Nga đã giảm khoảng 2/3 sau sự sụp đổ của Liên Xô cũ. Trong những năm gần đây, hải quân Nga đã từng bước phục hồi, nhưng vẫn cần thải hàng chục chiếc tàu ngầm hạt nhân tồn lại từ thời Chiến tranh Lạnh. Năm 2009, Nga có 17 chiếc SSN và 20 chiếc SS, trong đó 5 chiếc SSN và 9 chiếc SS thuộc biên chế hạm đội Thái Bình Dương. Tuy nhiên, khó khăn về ngân sách đã hạn chế khả năng của Nga trong việc đại tu thường xuyên các tàu ngầm tác chiến, thậm chí duy trì chúng ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu.


+ Hàn Quốc: có 12 tàu ngầm tấn công và có kế hoạch tăng lên 27 chiếc vào năm 2020.


+ Bắc Triều Tiên: có 22 tàu ngầm tấn công thông thường đã cũ (số lượng tàu còn hoạt động được chưa biết) và nhiều tàu ngầm mini. Về mặt lý thuyết, các tàu ngầm của Bắc Triều Tiên có thể đe dọa các tàu buôn hoặc các tàu chiến bình thường, nhưng không được coi là đối thủ nghiêm trọng trong các hoạt động kiểm soát trên biển.


+ Đài Loan: hiện có 2 chiếc tàu ngầm tấn công và đang có kế hoạch mở rộng và nâng cấp lực lượng này, bao gồm cả tàu chế tạo trong nước.


+ Các nước Đông Nam Á: trong bối cảnh Trung Quốc và Ấn Độ đang triển khai các loại SSN, hầu hết các nước ở Đông Nam Á đã mở rộng và nâng cấp hạm đội tàu ngầm hiện có của họ. Inđônêxia có 2 tàu ngầm và thông báo kế hoạch chế tạo 12 chiếc vào năm 2024. Việt Nam đặt mua 6 tàu ngầm lớp Kilo của Nga. Xinhgapo gần đây đã mua 2 tàu ngầm trang bị hệ thống AIP lớp Archer nhằm thay thế hai chiếc tàu trong tổng số 4 chiếc cũ kỹ. Tháng 10/2007, Malaixia đã nhận được chiếc tàu lớp Scorpene đầu tiên của Pháp và dự kiến sẽ nhận chiếc thứ hai vào năm 2010. Thái Lan chưa có tàu ngầm nhưng cũng bày tỏ tham vọng có một vài chiếc.

2. Một số khuyến nghị nhằm duy trì ưu thế vượt trội dưới biển của Hải quân Mỹ


Trong vòng 16 năm qua, Trung Quốc đã mở rộng nhanh chóng hạm đội tàu ngầm của họ, trong khi đó, Mỹ lại giảm bớt lực lượng này. Các nước bạn bè và đồng minh của Mỹ đã bày tỏ lo ngại về môi trường an ninh chuyển đổi ở Thái Bình Dương. Mỹ đã thừa nhận thực tế cán cân thăng bằng đang chuyển đổi này và đã bắt đầu tìm cách giải quyết. Nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ tại khu vực Đông Á, Thái Bình Dương và hỗ trợ việc trấn an các nước đồng minh trong khu vực, Mỹ cần đảo ngược xu thế giảm bớt đội tàu ngầm hiện nay và cần tăng khả năng chống tàu ngầm của họ. Cụ thể:


- Nhanh chóng đóng thêm các tàu ngầm tấn công. Quốc hội cần thông qua việc tăng mua các tàu ngầm lớp Virginia thêm ít nhất 2 chiếc mỗi năm nhằm mục đích nâng tổng số tàu ngầm tấn công nhanh lên 60 chiếc.


- Rà soát đại tu và hiện đại hóa các tàu ngầm lớp Los Angeles có lựa chọn để kéo dài thời gian phục vụ. Việc đại tu và hiện đại hóa các tàu ngầm sẽ đòi hỏi thêm ngân sách, vì vậy việc kéo dài thời gian phục vụ của các tàu ngầm cũ mà vẫn trong điều kiện hoạt động tốt, thay vì thải đi như kế hoạch đề ra, sẽ giúp thu hẹp "lỗ hổng tàu ngầm" về ngắn hạn với chi phí ít hơn thay vì chế tạo mới.


- Tăng cường thêm các căn cứ tàu ngầm. Bố trí thêm tàu ngầm ở các căn cứ Guam, Hawaii và có thể Nhật Bản - ngoài 3 chiếc SSN hiện có ở Guam - sẽ giúp hạm đội này tiếp cận gần hơn với khu vực Đông Á nơi có thể cần đến chúng nhiều nhất, đồng thời cho phép tối đa hóa thời gian neo đậu và giảm tối thiểu thời gian khởi hành. Hải quân Mỹ cũng cần phải xem xét mua thêm các tàu tiếp liệu cho tàu ngầm.


- Đánh giá lại việc sử dụng các tàu ngầm điêzen. Về ngắn hạn, khi năng lực sản xuất trong nước phát triển, Mỹ có thể mua các tàu ngầm của đồng minh. Phát triển năng lực tàu ngầm thông thường sẽ giúp thúc đẩy việc huấn luyện tác chiến chống ngầm mạnh mẽ hơn và cho phép Mỹ có thể bán các tàu ngầm chạy điêzen tiên tiến cho Đài Loan.


- Nghiên cứu, phát triển và triển khai các phương tiện đa chức năng hoạt động dưới biển. Trang bị các thiết bị không người điều khiển dưới biển (UUV) có thể giúp tăng cường phạm vi, năng lực và khả năng sát thương của các loại vũ khí dưới biển hiện nay. Tuy nhiên, không nên coi các UUV như một sự thay thế các loại tàu ngầm tấn công. Trong tương lai gần, Mỹ cần tiếp tục triển khai các tàu ngầm có người điều khiển, đồng thời nâng cấp và tăng cường năng lực nhằm đối phó với các mối đe dọa tiềm tàng.


- Tăng cường các năng lực tác chiến chống ngầm. Quốc hội cần phân bổ ngân sách đủ và ổn định để tăng cường các năng lực ASW cả về số lượng và chất lượng. Cụ thể có thể mở rộng và đẩy nhanh chương trình P-8 và chế tạo thêm các tàu chiến có khả năng ASW.


- Hợp tác với quân đội của các nước bạn bè và đồng minh nhằm cải thiện năng lực tàu ngầm và ASW của họ. Những nỗ lực này bao gồm tiến hành thường xuyên và mạnh mẽ các cuộc tập trận đa phương, chia sẻ công nghệ và lập kế hoạch chung. Tăng cường năng lực hải quân của các nước bạn bè và đồng minh sẽ cho phép Mỹ hạn chế triển khai các nguồn lực của họ trong các tình huống khẩn cấp và sứ mệnh nhất định nhằm đáp ứng các nhu cầu cấp bách hơn.


- Khuyến khích Trung Quốc minh bạch hơn trong các vấn đề an ninh thông qua các kênh quân sự. Sự minh bạch lớn hơn về quân sự của Trung Quốc sẽ giúp giải quyết hoặc xoa dịu những quan ngại về việc tăng cường sức mạnh hải quân của nước này. Sự hiểu biết lẫn nhau rõ hơn cũng có thể giúp ngăn chặn hoặc tránh các cuộc đụng độ trong tương lai giữa quân đội Mỹ và Trung Quốc./.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Hoàn Cầu Thời Báo: Đảo, đá ở Biển Đông cần những trang thiết bị phòng ngự nào?

Hoàn Cầu Thời Báo: Đảo, đá ở Biển Đông cần những trang thiết bị phòng ngự nào?

Với đặc điểm diện tích đảo, đá ở Biển Đông tương đối nhỏ, nguồn năng lượng có hạn, các trang bị có thể bố trí vô cùng giới hạn, bởi vậy bố trí những vũ khí phòng ngự nào thì cần phải lựa chọn và quy hoạch kỹ càng. Trong đó chủ yếu sẽ là trang thiết bị ra đa, phòng không và hậu cần.

Đọc tiếp...

Hoạt động tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông củng cố hay thách thức yêu sách của Trung Quốc?

Hoạt động tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông củng cố hay thách thức  yêu sách của Trung Quốc?

Có rất nhiều câu hỏi về bản chất và mức độ thành công trong hoạt động tự do hàng hải (FONOP) của tàu Lassen ở Biển Đông. Đối với các hoạt động FONOP tiếp theo ở Biển Đông, Mỹ phải đảm bảo cả việc đưa ra thông điệp lẫn việc tiến hành các hoạt động rõ ràng và dứt khoát.

Đọc tiếp...

Việt Nam tích cực củng cố năng lực biển

Việt Nam tích cực củng cố năng lực biển

Nhiều nhà quan sát cảm thấy hào hứng về triển vọng kinh tế của Việt Nam nhờ việc quốc gia này tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), song sức mạnh ngày càng tăng của Việt Nam còn được thể hiện rõ tại các vùng biển rộng lớn.

Đọc tiếp...

Sai lầm của Mỹ trong hoạt động tự do hàng hải ở Biển Đông?

Sai lầm của Mỹ trong hoạt động tự do hàng hải ở Biển Đông?

Dự kiến vào thời điểm cuối năm 2015, chính quyền của Tổng thống Obama sẽ tiến hành hoạt động tự do hàng hải (FONOP) lần thứ hai xung quanh các đảo nhân tạo của Trung Quốc trên Biển Đông. Mục đích nhằm cho thấy Mỹ không công nhận bất kỳ tuyên bố nếu có nào của Trung Quốc nhằm thiết lập các quyền lãnh hải xung quanh các đảo nhân tạo này

Đọc tiếp...

Tại sao các hoạt động Tự do Hàng hải của Mỹ ở Biển Đông lại có ý nghĩa?

Tại sao các hoạt động Tự do Hàng hải của Mỹ ở Biển Đông lại có ý nghĩa?

Sự mặc nhiên công nhận đối với các hành động của bất kỳ quốc gia nào có ý định làm suy yếu quyền tự do trên biển không phải là một lựa chọn có thể chấp nhận được.

Đọc tiếp...

Việt Nam tăng cường vũ trang để ngăn chặn Trung Quốc

Việt Nam tăng cường vũ trang để ngăn chặn Trung Quốc

Việt Nam không muốn tiến tới đối đầu với Trung Quốc trong một cuộc chiến tranh tốn kém tiền bạc và công nghệ. Tuy nhiên, quân đội Việt Nam được hiện đại hóa để sẵn sàng bắt Trung Quốc trả giá và để ngăn chặn chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Con đường Tơ lụa trên Biển - Thách thức và Cơ hội đối với Đông Nam Á

Con đường Tơ lụa trên Biển - Thách thức và Cơ hội đối với Đông Nam Á

Đông Nam Á có thể ca ngợi một số sáng kiến của Bắc Kinh nhưng các quốc gia khu vực vẫn luôn duy trì một thái độ thận trọng và ngờ vực về quỹ đạo dài hạn trong mối quan hệ với Trung Quốc. Vì vậy, để xây dựng thành công sáng kiến này, Trung Quốc cần phải xoa dịu những quan ngại về an ninh của các nước ASEAN, mà trước hết là ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Sức mạnh mềm của Trung Quốc không tác dụng trong vấn đề Biển Đông?

Sức mạnh mềm của Trung Quốc không tác dụng trong vấn đề Biển Đông?

Trung Quốc tăng cường các hoạt động đầu tư vào các quốc gia dù có hoặc không có tranh chấp biển đảo đồng thời khoét sâu những mâu thuẫn nội bộ giữa các nước ASEAN. Chiến lược này có thành công? 

Đọc tiếp...

Làm thế nào để các nước ASEAN có tranh chấp ở Biển Đông được lợi?

Làm thế nào để các nước ASEAN có tranh chấp ở Biển Đông được lợi?

Các nước nhỏ có tranh chấp ở Biển Đông không thiếu động lực, họ chỉ thiếu năng lực để sử dụng nó chừng nào họ còn bị cô lập và không nhận thức được về những lựa chọn của mình. Vậy các nước nhỏ cần phải làm gì đề bảo vệ được lợi ích sống còn của mình ở Biển Đông?

Đọc tiếp...

Hoạt động cải tạo đất của Trung Quốc: Nhân tố thay đổi cuộc chơi ở Biển Đông

Hoạt động cải tạo đất của Trung Quốc: Nhân tố thay đổi cuộc chơi ở Biển Đông

Mục đích chính của các đảo nhân tạo là mang tính chiến lược, bởi vì chúng sẽ cho phép lực lượng hải quân, cảnh sát biển và không quân của Trung Quốc duy trì một sự hiện diện liên tục ở quần đảo Trường Sa

Đọc tiếp...

Ý nghĩa chiến lược quân sự của Biển Đông

Ý nghĩa chiến lược quân sự của Biển Đông

Việc củng cố sự hiện diện của Trung Quốc trên các đảo tranh chấp có một lợi ích phòng thủ đối với Bắc Kinh

Đọc tiếp...

Thông cáo báo chí của Tòa Trọng tài Thường trực về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc

Thông cáo báo chí của Tòa Trọng tài Thường trực về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc

Ngày 29/10, Tòa Trọng tài đã luận rằng Tòa có thẩm quyền đối với các vấn đề được nêu ra trong bảy điểm mà Philippines đệ trình. Tuy nhiên, Tòa kết luận thẩm quyền đối với bảy điểm đệ trình còn lại của Philippines cần được xem xét thêm chung với các đánh giá về mặt nội dung của vụ kiện. Tòa cũng yêu cầu Philippines làm rõ và giới hạn lại một trong số các đệ trình của mình.

Đọc tiếp...

Tranh luận Mỹ-Trung về Biển Đông

Tranh luận Mỹ-Trung về Biển Đông

Tranh luận về các quan điểm của Trung Quốc và Mỹ về Biển Đông, vai trò của Mỹ và đánh giá tính nhất quán (hoặc thiếu) trong lập luận của cả hai bên.

Đọc tiếp...

Đối phó với Trung Quốc: Khủng hoảng hay cùng tồn tại hòa bình tại Biển Đông

Đối phó với Trung Quốc: Khủng hoảng hay cùng tồn tại hòa bình tại Biển Đông

Bài viết đề cập đến cuộc tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông thông qua hai mối quan hệ Malaysia – Trung Quốc và Philippin – Trung Quốc với hai cách tiếp cận trái ngược: cứng rắn với Philippines trong khi mềm mỏng với Malaysia. Trên cơ sở đó, tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị với các quốc gia tranh chấp và ASEAN.

Đọc tiếp...

Vấn đề Biển Đông đang được quân sự hóa và quốc tế hóa như thế nào?

Vấn đề Biển Đông đang được quân sự hóa và quốc tế hóa như thế nào?

Biển Đông như một con tàu đang bị chèo lái theo hai hướng. Hiện tại, hơn bao giờ hết, Biển Đông không những đã trở thành vấn đề quân sự mà còn là vấn đề mang tính quốc tế. Tất cả các bên đều tỏ rõ ý muốn khẳng định vị thế của mình, do vậy tình hình có lẽ không dễ thay đổi trong một sớm một chiều.

Đọc tiếp...

Tranh chấp Biển Đông - Những "điểm mù" và những nhận thức sai lầm

Tranh chấp Biển Đông - Những

Những tranh chấp về Biển Đông được kích động bởi giọng điệu nóng nảy, sự không tin tưởng lẫn nhau, những nhận thức sai và chủ nghĩa dân tộc. Đây là chính là những nhân tố làm phức tạp giải pháp cho các tranh chấp.

Đọc tiếp...

Tại sao thực thi tự do hàng hải là chuyện thường lệ ở Biển Đông

Tại sao thực thi tự do hàng hải là chuyện thường lệ ở Biển Đông

Với tất cả những biểu hiện hiện có, Hải quân Mỹ đã sẵn sàng bắt đầu các Hoạt động Tự do Hàng hải ở Biển Đông. Với Hội nghị thượng đỉnh giữa Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã hoàn tất, các hoạt động dường như sắp xảy ra.

Đọc tiếp...

Ván cờ lớn mới: Cuộc chiến Trung-Ấn, Mỹ tranh giành ảnh hưởng ở Ấn - Thái Dương

Ván cờ lớn mới: Cuộc chiến Trung-Ấn, Mỹ tranh giành ảnh hưởng ở Ấn - Thái Dương

Một ván cờ lớn nhằm tranh giành ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, bắt nguồn từ sự hội tụ của ba chiến lược: Con đường Tơ lụa trên Biển của Trung Quốc, Hành động phía Đông của Ấn Độ và Tái cân bằng Châu Á của Mỹ.

Đọc tiếp...

Đương đầu với những thách thức ở Biển Đông

Đương đầu với những thách thức ở Biển Đông

Thành công hay thất bại của chính sách Biển Đông của Washington, hoặc của Canberra, Manila, Hà Nội hay Tokyo trong vấn đề này, không thể được đánh giá một cách hiệu quả theo tuần hoặc theo tháng, mà trong cả một quá trình kéo dài nhiều năm. Việc duy trì sự tập trung cao độ trong khoảng thời gian đó sẽ là một thách thức quan trọng cho cả những nước đang hoạch định lẫn những nước đang công bố chính sách.

Đọc tiếp...

Trung Quốc mặc nhiên giành chiến thắng trước Mỹ trong “vùng xám”

Trung Quốc mặc nhiên giành chiến thắng trước Mỹ trong “vùng xám”

Trung Quốc đang đánh bại Mỹ trong “vùng xám”, những lĩnh vực mà một quốc gia đạt được lợi thế trước đối thủ chiến lược bằng cách sử dụng các thủ thuật dù rất hung hăng nhưng vẫn giữ dưới ngưỡng có thể gây ra sự trả đũa quân sự thông thường.

Đọc tiếp...

Những nghịch lý trong tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông của Trung Quốc

Những nghịch lý trong tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông của Trung Quốc

Chính sách về Biển Đông của Trung Quốc đã tạo ra hàng loạt những mối nguy hiểm và những điều nghịch lý và mâu thuẫn trong tuyên bố chủ quyền của mình.

Đọc tiếp...

Các tín hiệu mâu thuẫn của Trung Quốc ở Biển Đông

Các tín hiệu mâu thuẫn của Trung Quốc ở Biển Đông

Lập trường của Trung Quốc trong các tranh chấp Biển Đông đang mâu thuẫn nhau, nếu không muốn nói là gây khó hiểu. Thái độ hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông có thể làm suy yếu đại chiến lược của nước này nhằm mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia theo sáng kiến “Một vành đai, một con đường”.

Đọc tiếp...

Tác động của căng thẳng Biển Đông đối với ASEAN

Tác động của căng thẳng Biển Đông đối với ASEAN

Dựa trên đánh giá những tranh luận về ASEAN, bài viết cho rằng chúng ta nên tránh hiểu sai những mục tiêu của ASEAN. Tác giả cũng đặt câu hỏi tại sao những tranh chấp Biển Đông nên được cho là trung tâm đối với ASEAN.

Đọc tiếp...

"Mối quan hệ đặc biệt" của Malaysia với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông đã chấm dứt?

Malaysia vốn kín tiếng trong vấn đề Biển Đông, biểu trưng cho một “mối quan hệ đặc biệt” với Trung Quốc. Tuy nhiên, ẩn sau sự bình lặng đó là một cuộc chiến dai dẳng và liên tục về sự hiện diện từ lâu và liên tục của Cảnh sát biển Trung Quốc ở Cụm bãi cạn Luconia. Liệu có tồn tại nguy cơ Malaysia phải chịu số phận tương tự như của Philippines ở Bãi cạn Scarborough?

Đọc tiếp...

Loạt bài về mối quan hệ ASEAN và Biển Đông

Loạt bài về mối quan hệ ASEAN và Biển Đông

Vừa qua, trang Diễn đàn Asan, thuộc Viện Nghiên cứu Chính sách Asan đã đăng loạt bài viết về vai trò của ASEAN trong vấn đề Biển Đông. Trọng tâm các bài viết xoay quanh câu hỏi về vao trò trung tâm của ASEAN trong mối quan hệ Mỹ - Trung và vấn đề Biển Đông; mức độ phản ứng và cách tiếp cận trong vấn đề Biển Đông của ASEAN. Bài viết này sẽ đánh giá tổng quan các quan điểm của các học giả về các chủ đề này.

Đọc tiếp...

Sự yếu kém của ASEAN ở Biển Đông

Sự yếu kém của ASEAN ở Biển Đông

Bằng việc thúc đẩy Trung Quốc về vấn đề COC, phản đối ADIZ của Trung Quốc trên Biển Đông và ủng hộ những quyết định của Toà trọng ta, ASEAN chắc chắn sẽ chọc tức Trung Quốc. Nhưng nếu tổ chức này không làm vậy, sự tín nhiệm của nó sẽ giảm dần. Sau 20 năm lãng phí cơ hội, tổ chức này nên nắm lấy cơ hội này.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về các tranh chấp ở biển Hoa Đông và Biển Đông

Câu chuyện về các tranh chấp ở biển Hoa Đông và Biển Đông

Nếu khả năng quân sự của Nhật Bản là điều khiến Trung Quốc thận trọng hơn so với Việt Nam hay Philippines, thì trên lý thuyết, giải pháp duy nhất để ngăn chặn một cuộc xung đột lớn là một quân đội chất lượng cao

 

Đọc tiếp...

Phát biểu của Patrick M. Cronin về vai trò an ninh của Mỹ ở Biển Đông

Phát biểu của Patrick M. Cronin về vai trò an ninh của Mỹ ở Biển Đông

Bản điều trần này đưa ra một vài đề xuất chính sách toàn diện và thực tế mà Mỹ có thể hành động để bảo vệ các lợi ích của Mỹ cũng như của các nước đồng minh và đối tác trong các thập kỷ tới.

Đọc tiếp...

Phát biểu của Andrew S. Erickson về vai trò an ninh của Mỹ ở Biển Đông

Phát biểu của Andrew S. Erickson về vai trò an ninh của Mỹ ở Biển Đông

“…Chúng ta sẽ phải chấp nhận một mức độ căng thẳng nhất định trong quan hệ Mỹ-Trung, nhưng chúng ta có thể kiểm soát nó - trong khi vẫn tiếp tục hợp tác với Trung Quốc và các quốc gia khác trong các lĩnh vực có lợi ích chung….”

Đọc tiếp...

Phát biểu của Mira Rapp Hooper về vai trò an ninh của Mỹ tại Biển Đông

Phát biểu của Mira Rapp Hooper về vai trò an ninh của Mỹ tại Biển Đông

Mỹ có thừa cơ hội để thúc đẩy các lợi ích của mình ở Biển Đông cùng với các nước khu vực. Với định hướng đó, bài điều trần của Tiến sĩ Mira Rapp Hooper đưa ra một số gợi ý về cách thức mà Mỹ có thể dùng các thể chế đa phương để tăng cường an ninh ở vùng biển quan trọng này.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 13601 khách Trực tuyến

Đăng nhập