6 - 5 - 2016 | 22:18
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM CỦA CÁC NƯỚC Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM CỦA CÁC NƯỚC Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

Email In PDF.
Ngày 2/2, Viện nghiên cứu Heritage Foundation của Mỹ công bố báo cáo tựa đề: "Submarine Arms Race in the Pacific: The Chinese Challenge to U.S. Undersea Supremacy", đánh giá về tương quan lực lượng tàu ngầm của các nước ở Thái Bình Dương và sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Sau đây là tóm lược nội dung chính của báo cáo:

1. Đánh giá về tương quan lực lượng tàu ngầm các nước ở Thái Bình Dương
Cán cân lực lượng tàu ngầm thay đổi một cách đáng kể từ Chiến tranh Lạnh đến nay, đặc biệt sau khi Nga giảm phần lớn hoạt động đội tàu ngầm của họ từ những năm 1990, số lượng tàu ngầm của Mỹ cũng đang giảm dần. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp hải quân một cách nhanh chóng, đặc biệt là trang bị thêm nhiều tàu ngầm chiến đấu cho đội tàu ngầm của họ trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay. Việc Mỹ giảm dần đội tàu ngầm chiến đấu của họ khiến lực lượng này trở nên mỏng manh hơn, làm cho Ôxtrâylia và Ấn Độ phải tăng gấp đôi số lượng tàu ngầm để đối phó với việc Trung Quốc tăng cường hải quân. Ngoài ra, các nước như Hàn Quốc, Inđônêxia và Malaixia đang phát triển đội tàu ngầm của họ.


- Lực lượng tàu ngầm của Mỹ:


Số lượng tàu ngầm tấn công của Mỹ đã giảm từ 102 chiếc năm 1987 xuống chỉ còn 53 trong năm 2009. Việc sụt giảm này bắt nguồn từ một số lần điều chỉnh cơ cấu lực lượng của Hải quân Mỹ kể từ thời Tổng thống Reagan kêu gọi sản xuất 100 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN). Kế hoạch năm 1991 của Tổng thống Bush cha kêu gọi duy trì 80 SSN. Báo cáo Quốc phòng bốn năm một lần (QDR) năm 1997 giảm mục tiêu này xuống chỉ còn 50 chiếc SSN. QDR 2001 nhắc lại mục tiêu duy trì 50 SSN. Trong khi đó, QDR 2006 đưa ra mục tiêu tăng việc sản xuất thêm 2 tàu ngầm mỗi năm vào năm 2012 và triển khai 60% lực lượng tàu ngầm tới khu vực Thái Bình Dương nhằm bảo vệ các lợi ích của Mỹ tại đây. Nghiên cứu cơ cấu lực lượng tàu ngầm của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân (JCS) năm 1999 kết luận rằng số lượng tối ưu các tàu ngầm tấn công nhằm đáp ứng tất cả các yêu cầu thu thập tin tức và tác chiến của cộng đồng tình báo và quân sự của Mỹ sẽ là 68 chiếc SSN vào năm 2015 và 76 chiếc SSN vào năm 2025. Một lực lượng bao gồm 55 chiếc SSN vào năm 2015 và 62 chiếc vào năm 2025 sẽ tạo ra nguy cơ tương đối về an ninh. Hiện nay, hạm đội tàu ngầm của Mỹ đang bị dàn trải. Trong khi đó, theo kế hoạch mua sắm dài hạn của Hải quân Mỹ, số lượng SSN sẽ giảm xuống chỉ còn 48 chiếc trong giai đoạn 2022 và 2033 và xuống mức thấp nhất chỉ còn 41 chiếc vào những năm 2028-2029.


Để giải quyết "lỗ hổng" này, Hải quân Mỹ đang cân nhắc giảm thời gian sản xuất tàu ngầm lớp Virginia xuống chỉ còn 60 tháng, kéo dài thời gian phục vụ của một số tàu ngầm lớp Los Angeles thêm 2 năm, và kéo dài việc triển khai một số tàu ngầm từ 6-7 tháng. Nếu như thành công, tất cả những biện pháp này sẽ giúp Hải quân Mỹ duy trì tối đa 44-45 chiếc SSN. Việc giảm sút lực lượng SSN không chỉ tạo ra thách thức đối với việc duy trì khả năng răn đe dưới nước của Hải quân Mỹ mà còn ảnh hưởng tới các nỗ lực tác chiến chống tàu ngầm (ASW). Hiện nay, Hải quân Mỹ có 173 máy bay tuần tiễu P-3C đã cũ kỹ và loại máy bay thay thế P-8A dự kiến sẽ chưa thể đưa vào hoạt động cho đến năm 2013. Hải quân Mỹ cũng đang cho "nghỉ hưu" loại máy bay săn tàu ngầm S-3B Viking và vẫn chưa có kế hoạch thay thế. Ngoài ra, Hải quân Mỹ cũng đang thiếu một hệ thống hiện đại giống như hệ thống định vị bằng âm thanh (SOSUS) để phát hiện các tàu ngầm đối phương. Nhiều hệ thống tương tự triển khai từ thời Chiến tranh Lạnh đã lỗi thời và không có tác dụng trong môi trường tác chiến hiện nay. Hơn nữa, nhiều quốc gia đang triển khai các loại tàu ngầm hiện đại có thể đe dọa các tàu sân bay của Mỹ.


- Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc:


Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, Hải quân Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là hạm đội tàu ngầm. Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc có lực lượng hải quân lớn nhất ở châu Á, bao gồm 6 chiếc SSN và 54 chiếc tàu ngầm tấn công chạy bằng điêzen (SS). Hơn một nửa các tàu ngầm chạy bằng điêzen là các loại tàu ngầm hiện đại lớp Kilo, lớp Tống và lớp Nguyên. Trung Quốc đang trên đường thực hiện mục tiêu xây dựng một lực lượng hải quân nước sâu, có thể tác chiến ngoài khơi xa nước này. Trong giai đoạn từ năm 1995-2005, Trung Quốc đã trang bị cho hải quân nước này 31 tàu ngầm mới. Ước tính hạm đội tàu ngầm tấn công của Trung Quốc trong tương lai sẽ có khoảng từ 58-88 chiếc, phụ thuộc vào việc các loại tàu ngầm cũ ngừng hoạt động sớm hay muộn. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã cho ra mắt bốn loại tàu ngầm mới được thiết kế và sản xuất trong nước là tàu ngầm lớp Tấn (tàu ngầm trang bị tên lửa đạn đạo - SSBN), lớp Thương (SSN), lớp Nguyên (SSP), và lớp Tống (tàu ngầm tấn công chạy bằng điện - SSK). Thế hệ tiếp theo của tàu ngầm lớp Thương cũng đang được chế tạo.


Hạm đội tàu ngầm tấn công của Trung Quốc đã tăng một cách đáng kể số lượng tàu tuần tiễu từ 2 chiếc năm 2006 lên 6 chiếc năm 2007 và 12 chiếc năm 2008. Điều này cho thấy Bắc Kinh đang có sự tập trung mới vào việc huấn luyện và chứng tỏ với các nước khác là Trung Quốc là một cường quốc hàng hải ở Thái Bình Dương. Một số vụ đụng độ với tàu của hải quân Mỹ trên vùng biển Thái Bình Dương trong những năm vừa qua cho thấy tầm hoạt động của tàu ngầm Trung Quốc đã vươn xa hơn và hoạt động có phần hiếu chiến hơn so với trước đây. Giới phân tích cho rằng sở dĩ Trung Quốc mở rộng nhanh chóng lực lượng tàu ngầm tấn công là do một số nguyên nhân như: nhằm đáp ứng nhu cầu phòng thủ, hạn chế khả năng can thiệp của Mỹ vào xung đột hai bờ giữa Đài Loan và Trung Quốc Đại lục, thách thức sự thống trị của Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương, bảo đảm khả năng đánh chặn hạt nhân cũng như tạo cho Trung Quốc vị thế lớn hơn trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Như là một phần của khả năng răn đe hạt nhân, Trung Quốc dự kiến sẽ chế tạo khoảng 5 chiếc tàu ngầm SSBN lớp Tấn, mỗi chiếc được trang bị 12 tên lửa đạn đạo được phóng từ tàu ngầm (SLBM) có khả năng vươn tới lãnh thổ Mỹ từ vị trí bắn ngoài khơi Trung Quốc. Bắc Kinh cũng muốn sử dụng một số tàu SSN để hộ tống việc tuần tra răn đe của SSBN. Rõ ràng Trung Quốc không hề e ngại bộc lộ ý định trở thành một cường quốc toàn cầu và một hạm đội tàu ngầm tấn công mạnh sẽ giúp bảo vệ việc vận chuyển đường biển của Trung Quốc trên toàn thế giới.


- Lực lượng tàu ngầm của các quốc gia khác trong khu vực:


+ Ôxtrâylia: có 6 tàu ngầm chạy bằng điện và điêzen (SSK và SS) và đã có kế hoạch thay thế những chiếc tàu ngầm này bằng 12 tàu hiện đại thông thường được trang bị tên lửa tuần tiễu. Động thái này của Ôxtrâylia rõ ràng là do sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc hải quân và sự suy yếu uy thế hải quân của Mỹ, mà Ôxtrâylia vốn cho rằng đóng một vai trò bình ổn ở trên toàn thế giới, đặc biệt ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.


+ Ấn Độ: Mặc dù về mặt địa lý không phải là quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương, nhưng Ấn Độ cũng đang tăng cường ảnh hưởng ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Ấn Độ có 16 tàu ngầm tấn công chạy bằng điêzen và gần đây đã hạ thủy chiếc SSN đầu tiên. Ấn Độ cũng đang chế tạo 6 tàu ngầm điêzen lớp Scorpene. Việc mở rộng và nâng cấp hạm đội tàu ngầm của Ấn Độ là một phần trong nỗ lực nhằm tăng thêm 100 tàu chiến cho hải quân nước này trong vòng 10 năm tới. Ấn Độ cho rằng chương trình chế tạo tàu chiến là một "nhu cầu chiến lược" của phòng thủ quốc gia, chủ yếu là nhằm đối chọi với việc Trung Quốc tăng cường lực lượng hải quân. Ấn Độ cũng có tham vọng trở thành một nước lớn và lực lượng tàu ngầm là một công cụ quan trọng để thực hiện tham vọng đó.


+ Nga: hạm đội tàu ngầm của Nga đã giảm khoảng 2/3 sau sự sụp đổ của Liên Xô cũ. Trong những năm gần đây, hải quân Nga đã từng bước phục hồi, nhưng vẫn cần thải hàng chục chiếc tàu ngầm hạt nhân tồn lại từ thời Chiến tranh Lạnh. Năm 2009, Nga có 17 chiếc SSN và 20 chiếc SS, trong đó 5 chiếc SSN và 9 chiếc SS thuộc biên chế hạm đội Thái Bình Dương. Tuy nhiên, khó khăn về ngân sách đã hạn chế khả năng của Nga trong việc đại tu thường xuyên các tàu ngầm tác chiến, thậm chí duy trì chúng ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu.


+ Hàn Quốc: có 12 tàu ngầm tấn công và có kế hoạch tăng lên 27 chiếc vào năm 2020.


+ Bắc Triều Tiên: có 22 tàu ngầm tấn công thông thường đã cũ (số lượng tàu còn hoạt động được chưa biết) và nhiều tàu ngầm mini. Về mặt lý thuyết, các tàu ngầm của Bắc Triều Tiên có thể đe dọa các tàu buôn hoặc các tàu chiến bình thường, nhưng không được coi là đối thủ nghiêm trọng trong các hoạt động kiểm soát trên biển.


+ Đài Loan: hiện có 2 chiếc tàu ngầm tấn công và đang có kế hoạch mở rộng và nâng cấp lực lượng này, bao gồm cả tàu chế tạo trong nước.


+ Các nước Đông Nam Á: trong bối cảnh Trung Quốc và Ấn Độ đang triển khai các loại SSN, hầu hết các nước ở Đông Nam Á đã mở rộng và nâng cấp hạm đội tàu ngầm hiện có của họ. Inđônêxia có 2 tàu ngầm và thông báo kế hoạch chế tạo 12 chiếc vào năm 2024. Việt Nam đặt mua 6 tàu ngầm lớp Kilo của Nga. Xinhgapo gần đây đã mua 2 tàu ngầm trang bị hệ thống AIP lớp Archer nhằm thay thế hai chiếc tàu trong tổng số 4 chiếc cũ kỹ. Tháng 10/2007, Malaixia đã nhận được chiếc tàu lớp Scorpene đầu tiên của Pháp và dự kiến sẽ nhận chiếc thứ hai vào năm 2010. Thái Lan chưa có tàu ngầm nhưng cũng bày tỏ tham vọng có một vài chiếc.

2. Một số khuyến nghị nhằm duy trì ưu thế vượt trội dưới biển của Hải quân Mỹ


Trong vòng 16 năm qua, Trung Quốc đã mở rộng nhanh chóng hạm đội tàu ngầm của họ, trong khi đó, Mỹ lại giảm bớt lực lượng này. Các nước bạn bè và đồng minh của Mỹ đã bày tỏ lo ngại về môi trường an ninh chuyển đổi ở Thái Bình Dương. Mỹ đã thừa nhận thực tế cán cân thăng bằng đang chuyển đổi này và đã bắt đầu tìm cách giải quyết. Nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ tại khu vực Đông Á, Thái Bình Dương và hỗ trợ việc trấn an các nước đồng minh trong khu vực, Mỹ cần đảo ngược xu thế giảm bớt đội tàu ngầm hiện nay và cần tăng khả năng chống tàu ngầm của họ. Cụ thể:


- Nhanh chóng đóng thêm các tàu ngầm tấn công. Quốc hội cần thông qua việc tăng mua các tàu ngầm lớp Virginia thêm ít nhất 2 chiếc mỗi năm nhằm mục đích nâng tổng số tàu ngầm tấn công nhanh lên 60 chiếc.


- Rà soát đại tu và hiện đại hóa các tàu ngầm lớp Los Angeles có lựa chọn để kéo dài thời gian phục vụ. Việc đại tu và hiện đại hóa các tàu ngầm sẽ đòi hỏi thêm ngân sách, vì vậy việc kéo dài thời gian phục vụ của các tàu ngầm cũ mà vẫn trong điều kiện hoạt động tốt, thay vì thải đi như kế hoạch đề ra, sẽ giúp thu hẹp "lỗ hổng tàu ngầm" về ngắn hạn với chi phí ít hơn thay vì chế tạo mới.


- Tăng cường thêm các căn cứ tàu ngầm. Bố trí thêm tàu ngầm ở các căn cứ Guam, Hawaii và có thể Nhật Bản - ngoài 3 chiếc SSN hiện có ở Guam - sẽ giúp hạm đội này tiếp cận gần hơn với khu vực Đông Á nơi có thể cần đến chúng nhiều nhất, đồng thời cho phép tối đa hóa thời gian neo đậu và giảm tối thiểu thời gian khởi hành. Hải quân Mỹ cũng cần phải xem xét mua thêm các tàu tiếp liệu cho tàu ngầm.


- Đánh giá lại việc sử dụng các tàu ngầm điêzen. Về ngắn hạn, khi năng lực sản xuất trong nước phát triển, Mỹ có thể mua các tàu ngầm của đồng minh. Phát triển năng lực tàu ngầm thông thường sẽ giúp thúc đẩy việc huấn luyện tác chiến chống ngầm mạnh mẽ hơn và cho phép Mỹ có thể bán các tàu ngầm chạy điêzen tiên tiến cho Đài Loan.


- Nghiên cứu, phát triển và triển khai các phương tiện đa chức năng hoạt động dưới biển. Trang bị các thiết bị không người điều khiển dưới biển (UUV) có thể giúp tăng cường phạm vi, năng lực và khả năng sát thương của các loại vũ khí dưới biển hiện nay. Tuy nhiên, không nên coi các UUV như một sự thay thế các loại tàu ngầm tấn công. Trong tương lai gần, Mỹ cần tiếp tục triển khai các tàu ngầm có người điều khiển, đồng thời nâng cấp và tăng cường năng lực nhằm đối phó với các mối đe dọa tiềm tàng.


- Tăng cường các năng lực tác chiến chống ngầm. Quốc hội cần phân bổ ngân sách đủ và ổn định để tăng cường các năng lực ASW cả về số lượng và chất lượng. Cụ thể có thể mở rộng và đẩy nhanh chương trình P-8 và chế tạo thêm các tàu chiến có khả năng ASW.


- Hợp tác với quân đội của các nước bạn bè và đồng minh nhằm cải thiện năng lực tàu ngầm và ASW của họ. Những nỗ lực này bao gồm tiến hành thường xuyên và mạnh mẽ các cuộc tập trận đa phương, chia sẻ công nghệ và lập kế hoạch chung. Tăng cường năng lực hải quân của các nước bạn bè và đồng minh sẽ cho phép Mỹ hạn chế triển khai các nguồn lực của họ trong các tình huống khẩn cấp và sứ mệnh nhất định nhằm đáp ứng các nhu cầu cấp bách hơn.


- Khuyến khích Trung Quốc minh bạch hơn trong các vấn đề an ninh thông qua các kênh quân sự. Sự minh bạch lớn hơn về quân sự của Trung Quốc sẽ giúp giải quyết hoặc xoa dịu những quan ngại về việc tăng cường sức mạnh hải quân của nước này. Sự hiểu biết lẫn nhau rõ hơn cũng có thể giúp ngăn chặn hoặc tránh các cuộc đụng độ trong tương lai giữa quân đội Mỹ và Trung Quốc./.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Làm thế nào để chống lại âm mưu thống trị trên biển của Trung Quốc?

Làm thế nào để chống lại âm mưu thống trị trên biển của Trung Quốc?

Trong một tình thế đang xấu đi này, Mỹ phải thể hiện khả năng lãnh đạo. Để khuyến khích các nhà nước trong khu vực thể hiện rõ với Bắc Kinh rằng cách tiếp cận gia tăng sức mạnh của nước này là phản tác dụng, một loạt phản ứng kiên định và mạnh mẽ hơn của Mỹ là điều cần thiết.

Đọc tiếp...

Xu hướng thúc đẩy can dự quốc phòng của Nhật Bản và Úc tại Biển Đông

Xu hướng thúc đẩy can dự quốc phòng của Nhật Bản và Úc tại Biển Đông

Trong bối cảnh căng thẳng gia tăng ở Biển Đông, Mỹ đã kêu gọi các đồng minh khu vực tích cực hơn nữa ủng hộ các hoạt động tự do hàng hải (FON) của Mỹ. Với sự ủng hộ chính trị cho các hoạt động này, liệu Tokyo và Canberra có sẵn sàng biến sự ủng hộ của họ thành hành động trực tiếp hay không?

Đọc tiếp...

Tương quan sức mạnh không quân trên Biển Đông

Tương quan sức mạnh không quân trên Biển Đông

Nếu nổ ra một cuộc xung đột trên Biển Đông, sự kết hợp của các binh chủng để giành lợi thế là điều cần thiết, trong đó không quân đóng vai trò quan trọng trong hoạt động phối hợp này. Do đó, đây là lĩnh vực cần phải có thêm những đánh giá và phân tích từ các chuyên gia và học giả.

Đọc tiếp...

Chiến lược tái cân bằng: ASEAN và các đồng minh biển của Mỹ

Chiến lược tái cân bằng: ASEAN và các đồng minh biển của Mỹ

Dù chiến lược này bị chỉ trích là mơ hồ và không rõ ràng nhưng trước những gì đang diễn ra, đặc biệt là ý đồ của Trung Quốc, trong khu vực, giới hoạch định chính sách khu vực vẫn tin rằng việc duy trì sự hiện diện sức mạnh Mỹ trong khu vực là có giá trị.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Việt Nam trong cán cân quyền lực của châu Á

Ấn Độ và Việt Nam trong cán cân quyền lực của châu Á

Ấn Độ không còn che giấu khát vọng đóng một vai trò an ninh và chính trị tích cực tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương khi từng bước mở rộng ảnh hưởng kinh tế và chiến lược thông qua chính sách "Hành động phía Đông" và cách tiếp cận ngoại giao đa phương. Trong quá trình đó, quốc gia đóng vai trò chủ chốt giúp Ấn Độ duy trì sự hiện diện lâu dài tại khu vực là Việt Nam.

Đọc tiếp...

Giá dầu lao dốc và vị thế của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông

Giá dầu lao dốc và vị thế của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông

Tác động kinh tế không phải là những nguy cơ duy nhất mà giá dầu chạm đáy đang đặt ra cho Việt Nam. Giá dầu thấp thậm chí còn có những tác động vô hình về mặt địa chính trị, trong đó có vị thế của Việt Nam trong các tranh chấp ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Liên minh an ninh Mỹ-Nhật-Úc đang dần hình thành ở Biển Đông

Liên minh an ninh Mỹ-Nhật-Úc đang dần hình thành ở Biển Đông

Washington, Tokyo và Canberra đều biết rằng châu Á là động cơ của tăng trưởng kinh tế thế giới trong thế kỷ 21 và rằng không nước nào an toàn trừ khi tất cả các nước lớn ở châu Á đồng ý thực hiện và tuân thủ các quy tắc quốc tế.

Đọc tiếp...

Mỹ khởi động Sáng kiến An ninh Biển Đông Nam Á

Mỹ khởi động Sáng kiến An ninh Biển Đông Nam Á

Bộ Quốc phòng Mỹ đã bắt đầu triển khai Sáng kiến An ninh Biển (Maritime Security Initiative - MSI) nhằm xây dựng và nâng cao năng lực biển cho các nước đồng minh, đối tác trong khu vực. Khoản ngân sách để thực hiện sáng kiến này trong 5 năm đầu tiên sẽ là 425 triệu USD.

Đọc tiếp...

Những biện pháp quản lý căng thẳng ở Biển Đông

Những biện pháp quản lý căng thẳng ở Biển Đông

Điểm tranh luận chính trong bài viết của Giáo sư Carlyle A. Thaye là việc ASEAN cần thúc đẩy vai trò trung tâm của mình trong các vấn đề an ninh ở Đông Nam Á chủ yếu thông qua đối thoại và các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM). ASEAN cũng sẽ không đứng về bên nào trong sự cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ.

Đọc tiếp...

Trung Quốc thị uy ở Biển Đông - Ấn Độ cần hợp tác chặt chẽ với Việt Nam

Trung Quốc thị uy ở Biển Đông - Ấn Độ cần hợp tác chặt chẽ với Việt Nam

Khi Trung Quốc mở rộng sự hiện diện ở Biển Đông, câu hỏi đặt ra là các hoạt động mở rộng lãnh hải và lãnh thổ này sẽ tác động như thế nào tới lợi ích của Ấn Độ và Ấn Độ cần phải làm gi để bảo vệ lợi ích của mình tại khu vực?

Đọc tiếp...

Lợi ích chiến lược của Ấn Độ ở Biển Đông

Lợi ích chiến lược của Ấn Độ ở Biển Đông

Trong ngắn hạn, Ấn Độ sẽ muốn Trung Quốc giảm bớt sự hung hăng của nước này và ngừng nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng ở Biển Đông. Trong trung và dài hạn, việc truyền bá sức mạnh biển trên chiến trường Thái Bình Dương nằm trong những lợi ích của Ấn Độ.

Đọc tiếp...

Sáng kiến "đúng thời điểm" của Singapore trong vấn đề Biển Đông

Sáng kiến

Nguy cơ xảy ra các vụ đối đầu quân sự ngoài ý muốn trên Biển Đông đã gia tăng đáng kể với việc Trung Quốc triển khai tên lửa đất đối không HQ-9 và Mỹ điều nhóm tàu sân bay đến vùng biển tranh chấp. Một Bộ quy tắc cho các vụ va chạm ngoài ý muốn trên biển (CUES) mở rộng trên Biển Đông liệu có giúp hạ nhiệt căng thẳng?

Đọc tiếp...

Vì sao Trung Quốc không nên từ bỏ UNCLOS

Vì sao Trung Quốc không nên từ bỏ UNCLOS

Một trong những kịch bản mà một số nhà phân tích đưa ra trong trường hợp Tòa ra phán quyết không có lợi Trung Quốc đó là nước này sẽ tuyên bố từ bỏ Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS). Tuy nhiên trái ngược với những phân tích đó, có rất nhiều lý do thuyết phục để Trung Quốc không nên từ bỏ UNCLOS.

Đọc tiếp...

Những thách thức an ninh mới ở Biển Đông

Những thách thức an ninh mới ở Biển Đông

Hoạt động cải tạo đảo và quân sự hóa khu vực Biển Đông của Trung Quốc càng “kích thích” quyết tâm bảo vệ tự do hàng hải của Mỹ, cùng với đó là việc tăng cường năng lực và liên kết quân sự của các quốc gia khu vực nhằm đối phó với Trung Quốc là những nhân tố có thể phá vỡ hòa bình vốn đang mong manh ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Quan điểm và lợi ích của Nhật Bản ở Biển Đông

Quan điểm và lợi ích của Nhật Bản ở Biển Đông

Đối với Nhật Bản, Biển Đông không đơn giản chỉ là liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ giữa các nước ven biển, nó còn đặt ra một vấn đề lớn có thể gây ra một cuộc xung đột quân sự trực tiếp, làm xói mòn sự ổn định hiện tại và có khả năng đưa khu vực và thế giới rơi vào tình trạng hỗn loạn chưa từng có.

Đọc tiếp...

Vai trò cân bằng của Úc ở Biển Đông

Vai trò cân bằng của Úc ở Biển Đông

Úc phải thực hiện đường lối ngoại giao khéo cân bằng trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược nóng lên do những hành động quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông. 

Đọc tiếp...

Trung Quốc đang đẩy mạnh hoạt động ở phía Nam Biển Đông?

Trung Quốc đang đẩy mạnh hoạt động ở phía Nam Biển Đông?

Trung Quốc sẽ đẩy mạnh hoạt động quân sự tại các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, trong khi thúc đẩy sự can dự kinh tế với Indonesia và Malaysia để những nước này không liên kết với các nước khác trong khu vực chống lại họ.

Đọc tiếp...

Xây dựng một kế hoạch dự phòng cho Scarborough

Xây dựng một kế hoạch dự phòng cho Scarborough

Nếu Trung Quốc thực hiện cải tạo tại Scarborough thì quân đội Trung Quốc sẽ có thể duy trì sự hiện diện trên Biển Đông và thậm chí mở rộng phạm vi hoạt động tới khắp các phần của quần đảo Philippines. Điều này sẽ gây một tác động chiến lược to lớn cho Philippines và Mỹ.

Đọc tiếp...

Thỏa thuận căn cứ quân sự mới của Mỹ và Philippines mới: Nặng về không quân, nhẹ về hải quân

Thỏa thuận căn cứ quân sự mới của Mỹ và Philippines mới: Nặng về không quân, nhẹ về hải quân

Hiệp định hợp tác quốc phòng tăng cường (EDCA) giữa Mỹ và Philippines cho phép Mỹ tiếp cận năm căn cứ quân sự của Philippines. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là các căn cứ hải quân lại vắng mặt trong danh sách này, đặc biệt trong bối cảnh an ninh biển đang là thách thức trung tâm ở khu vực.

Đọc tiếp...

Indonesia, Trung Quốc và đảo Natuna: phép thử cho học thuyết biển của Tổng thống Jokowi

Indonesia, Trung Quốc và đảo Natuna: phép thử cho học thuyết biển của Tổng thống Jokowi

Indonesia không phải là bên tranh chấp ở Trường Sa, nhưng sự kiện vào ngày 20/3/2016 ở phía bắc đảo Natuna của Indonesia là phép thử đầu tiên đối với tham vọng của Tổng thống Joko Widodo nhằm biến Indonesia thành một cường quốc biển, một chính sách mang nghĩa khẳng định chủ quyền đối với biên giới biển rộng lớn của nước này.

Đọc tiếp...

Bản Tư vấn cho Tòa Trọng tài của Hiệp hội Luật Quốc tế Trung Hoa (Đài Loan)

Bản Tư vấn cho Tòa Trọng tài của Hiệp hội Luật Quốc tế Trung Hoa (Đài Loan)

Ngày 23/3/2016, Hiệp hội Luật Quốc tế của Đài Loan (CSIL) đã gửi lên tòa bản ý kiến tư vấn cung cấp các bằng chứng và lập luận khẳng định rằng Ba Bình thỏa mãn điều kiện là đảo theo quy định của Điều 121(1) UNCLOS. Nghiên cứu Biển Đông xin giới thiệu toàn văn Bản Tư vấn mà CSIL đã gửi cho Tòa.

Đọc tiếp...

Khi Trung Quốc thống trị các đại dương

Khi Trung Quốc thống trị các đại dương

Trung Quốc từ nay vừa là cường quốc đất liền, vừa là cường quốc biển, có khả năng từ đất liền tác động đến những gì xảy ra trên biển. Quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ không còn là quan hệ giữa một cường quốc biển và một cường quốc đất liền, mà là giữa hai cường quốc biển.

Đọc tiếp...

Sách trắng Quốc phòng 2016 của Úc: Biển Đông và phản ứng của ASEAN

Sách trắng Quốc phòng 2016 của Úc: Biển Đông và phản ứng của ASEAN

Mặc dù đã nêu vấn đề này trong Sách trắng năm 2009 và 2013, song lần này Úc đã trực tiếp bày tỏ quan ngại về vấn đề Biển Đông. Theo đó, Úc cam kết gia tăng đầu tư cho năng lực quốc phòng từ 9,4 tỷ AUD lên hơn 23 tỷ AUD cho giai đoạn 2025 - 2026, hầu hết là trong lĩnh vực biển.

Đọc tiếp...

Giải pháp an toàn đề kết thúc cuộc khủng hoảng ở Biển Đông

Giải pháp an toàn đề kết thúc cuộc khủng hoảng ở Biển Đông

Nếu Mỹ muốn thay đổi những tính toán chính trị của Trung Quốc ở Biển Đông thì Mỹ buộc phải đối mặt với vấn đề một cách trực diện và tìm cách theo đuổi một thoả thuận song phuơng với Bắc Kinh để ổn định tình hình an ninh khu vực.

Đọc tiếp...

Sự thay đổi miễn cưỡng của Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull về Biển Đông

Sự thay đổi miễn cưỡng của Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull về Biển Đông

Thủ tướng Turnbull đã không còn đủ vốn liếng chính trị để đặt cược vào niềm tin rằng Trung Quốc sẽ chấp nhận và chơi theo các luật lệ đã được thiết lập. Vì vậy Thủ tướng Malcolm Turnbull dường như bất đắc dĩ phải đưa ra lập trường cũng như hành động thực tế cứng rắn hơn với Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Tầm quan trọng chiến lược của trò chơi quyền lực tại đảo Phú Lâm

Tầm quan trọng chiến lược của trò chơi quyền lực tại đảo Phú Lâm

Trong khi các FONOP của Mỹ gửi một thông điệp đầy thách thức rằng Washington sẽ không chấp nhận bất kỳ yêu sách biển thái quá nào thì những hành động này vẫn còn nhạt nhòa so với các lợi ích chiến lược lâu dài Trung Quốc có được từ hành động lấn chiếm dần dần.

Đọc tiếp...

Dự báo 2016: Những nhân tố tác động tới tình hình Biển Đông

Dự báo 2016: Những nhân tố tác động tới tình hình Biển Đông

Năm 2016 sẽ là một năm căng thẳng gia tăng trong khu vực Biển Đông và là năm thiết lập nền tảng của những chiến dịch đa phương liên tục nhằm ngăn chặn sự quyết đoán trên biển của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nga sẽ đóng vai trò gì trong kịch bản Mỹ - Trung đối đầu ở Biển Đông?

Nga sẽ đóng vai trò gì trong kịch bản Mỹ - Trung đối đầu ở Biển Đông?

Mục tiêu của Nga là hình thành một hệ thống đa trung tâm, đánh bật Mỹ khỏi vị trí bá chủ toàn cầu. Khi hệ thống này được tạo ra, Nga sẽ đánh giá tiếp tục hợp tác với Trung Quốc sẽ có lợi cho nước Nga hay không.

Đọc tiếp...

Vấn đề Biển Đông và hạt nhân Triều Tiên - Điểm nóng quan hệ Mỹ - Trung

Vấn đề Biển Đông và hạt nhân Triều Tiên - Điểm nóng quan hệ Mỹ - Trung

Vấn đề Biển Đông và vũ khí hạt nhân của Triều Tiên là một phần quan trọng của quan hệ Trung-Mỹ, đặc biệt là vấn đề Biển Đông có thể ảnh hưởng đến quan hệ hai nước trong thời gian dài, thậm chí sẽ quyết định hai nước có xảy ra chiến tranh hay không.

Đọc tiếp...

Tranh chấp Biển Đông leo thang - Bài học cho Ấn Độ

Tranh chấp Biển Đông leo thang - Bài học cho Ấn Độ

Dù Ấn Độ không phải là một bên tranh chấp ở Biển Đông nhưng có bốn khía cạnh từ những diễn biến gần đây ở Biển Đông sẽ tác động đến lợi ích của Ấn Độ.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 8489 khách Trực tuyến

Đăng nhập