24 - 4 - 2014 | 20:32
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM CỦA CÁC NƯỚC Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM CỦA CÁC NƯỚC Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

Email In PDF.
Ngày 2/2, Viện nghiên cứu Heritage Foundation của Mỹ công bố báo cáo tựa đề: "Submarine Arms Race in the Pacific: The Chinese Challenge to U.S. Undersea Supremacy", đánh giá về tương quan lực lượng tàu ngầm của các nước ở Thái Bình Dương và sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Sau đây là tóm lược nội dung chính của báo cáo:

1. Đánh giá về tương quan lực lượng tàu ngầm các nước ở Thái Bình Dương
Cán cân lực lượng tàu ngầm thay đổi một cách đáng kể từ Chiến tranh Lạnh đến nay, đặc biệt sau khi Nga giảm phần lớn hoạt động đội tàu ngầm của họ từ những năm 1990, số lượng tàu ngầm của Mỹ cũng đang giảm dần. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp hải quân một cách nhanh chóng, đặc biệt là trang bị thêm nhiều tàu ngầm chiến đấu cho đội tàu ngầm của họ trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay. Việc Mỹ giảm dần đội tàu ngầm chiến đấu của họ khiến lực lượng này trở nên mỏng manh hơn, làm cho Ôxtrâylia và Ấn Độ phải tăng gấp đôi số lượng tàu ngầm để đối phó với việc Trung Quốc tăng cường hải quân. Ngoài ra, các nước như Hàn Quốc, Inđônêxia và Malaixia đang phát triển đội tàu ngầm của họ.


- Lực lượng tàu ngầm của Mỹ:


Số lượng tàu ngầm tấn công của Mỹ đã giảm từ 102 chiếc năm 1987 xuống chỉ còn 53 trong năm 2009. Việc sụt giảm này bắt nguồn từ một số lần điều chỉnh cơ cấu lực lượng của Hải quân Mỹ kể từ thời Tổng thống Reagan kêu gọi sản xuất 100 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN). Kế hoạch năm 1991 của Tổng thống Bush cha kêu gọi duy trì 80 SSN. Báo cáo Quốc phòng bốn năm một lần (QDR) năm 1997 giảm mục tiêu này xuống chỉ còn 50 chiếc SSN. QDR 2001 nhắc lại mục tiêu duy trì 50 SSN. Trong khi đó, QDR 2006 đưa ra mục tiêu tăng việc sản xuất thêm 2 tàu ngầm mỗi năm vào năm 2012 và triển khai 60% lực lượng tàu ngầm tới khu vực Thái Bình Dương nhằm bảo vệ các lợi ích của Mỹ tại đây. Nghiên cứu cơ cấu lực lượng tàu ngầm của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân (JCS) năm 1999 kết luận rằng số lượng tối ưu các tàu ngầm tấn công nhằm đáp ứng tất cả các yêu cầu thu thập tin tức và tác chiến của cộng đồng tình báo và quân sự của Mỹ sẽ là 68 chiếc SSN vào năm 2015 và 76 chiếc SSN vào năm 2025. Một lực lượng bao gồm 55 chiếc SSN vào năm 2015 và 62 chiếc vào năm 2025 sẽ tạo ra nguy cơ tương đối về an ninh. Hiện nay, hạm đội tàu ngầm của Mỹ đang bị dàn trải. Trong khi đó, theo kế hoạch mua sắm dài hạn của Hải quân Mỹ, số lượng SSN sẽ giảm xuống chỉ còn 48 chiếc trong giai đoạn 2022 và 2033 và xuống mức thấp nhất chỉ còn 41 chiếc vào những năm 2028-2029.


Để giải quyết "lỗ hổng" này, Hải quân Mỹ đang cân nhắc giảm thời gian sản xuất tàu ngầm lớp Virginia xuống chỉ còn 60 tháng, kéo dài thời gian phục vụ của một số tàu ngầm lớp Los Angeles thêm 2 năm, và kéo dài việc triển khai một số tàu ngầm từ 6-7 tháng. Nếu như thành công, tất cả những biện pháp này sẽ giúp Hải quân Mỹ duy trì tối đa 44-45 chiếc SSN. Việc giảm sút lực lượng SSN không chỉ tạo ra thách thức đối với việc duy trì khả năng răn đe dưới nước của Hải quân Mỹ mà còn ảnh hưởng tới các nỗ lực tác chiến chống tàu ngầm (ASW). Hiện nay, Hải quân Mỹ có 173 máy bay tuần tiễu P-3C đã cũ kỹ và loại máy bay thay thế P-8A dự kiến sẽ chưa thể đưa vào hoạt động cho đến năm 2013. Hải quân Mỹ cũng đang cho "nghỉ hưu" loại máy bay săn tàu ngầm S-3B Viking và vẫn chưa có kế hoạch thay thế. Ngoài ra, Hải quân Mỹ cũng đang thiếu một hệ thống hiện đại giống như hệ thống định vị bằng âm thanh (SOSUS) để phát hiện các tàu ngầm đối phương. Nhiều hệ thống tương tự triển khai từ thời Chiến tranh Lạnh đã lỗi thời và không có tác dụng trong môi trường tác chiến hiện nay. Hơn nữa, nhiều quốc gia đang triển khai các loại tàu ngầm hiện đại có thể đe dọa các tàu sân bay của Mỹ.


- Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc:


Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, Hải quân Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là hạm đội tàu ngầm. Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc có lực lượng hải quân lớn nhất ở châu Á, bao gồm 6 chiếc SSN và 54 chiếc tàu ngầm tấn công chạy bằng điêzen (SS). Hơn một nửa các tàu ngầm chạy bằng điêzen là các loại tàu ngầm hiện đại lớp Kilo, lớp Tống và lớp Nguyên. Trung Quốc đang trên đường thực hiện mục tiêu xây dựng một lực lượng hải quân nước sâu, có thể tác chiến ngoài khơi xa nước này. Trong giai đoạn từ năm 1995-2005, Trung Quốc đã trang bị cho hải quân nước này 31 tàu ngầm mới. Ước tính hạm đội tàu ngầm tấn công của Trung Quốc trong tương lai sẽ có khoảng từ 58-88 chiếc, phụ thuộc vào việc các loại tàu ngầm cũ ngừng hoạt động sớm hay muộn. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã cho ra mắt bốn loại tàu ngầm mới được thiết kế và sản xuất trong nước là tàu ngầm lớp Tấn (tàu ngầm trang bị tên lửa đạn đạo - SSBN), lớp Thương (SSN), lớp Nguyên (SSP), và lớp Tống (tàu ngầm tấn công chạy bằng điện - SSK). Thế hệ tiếp theo của tàu ngầm lớp Thương cũng đang được chế tạo.


Hạm đội tàu ngầm tấn công của Trung Quốc đã tăng một cách đáng kể số lượng tàu tuần tiễu từ 2 chiếc năm 2006 lên 6 chiếc năm 2007 và 12 chiếc năm 2008. Điều này cho thấy Bắc Kinh đang có sự tập trung mới vào việc huấn luyện và chứng tỏ với các nước khác là Trung Quốc là một cường quốc hàng hải ở Thái Bình Dương. Một số vụ đụng độ với tàu của hải quân Mỹ trên vùng biển Thái Bình Dương trong những năm vừa qua cho thấy tầm hoạt động của tàu ngầm Trung Quốc đã vươn xa hơn và hoạt động có phần hiếu chiến hơn so với trước đây. Giới phân tích cho rằng sở dĩ Trung Quốc mở rộng nhanh chóng lực lượng tàu ngầm tấn công là do một số nguyên nhân như: nhằm đáp ứng nhu cầu phòng thủ, hạn chế khả năng can thiệp của Mỹ vào xung đột hai bờ giữa Đài Loan và Trung Quốc Đại lục, thách thức sự thống trị của Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương, bảo đảm khả năng đánh chặn hạt nhân cũng như tạo cho Trung Quốc vị thế lớn hơn trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Như là một phần của khả năng răn đe hạt nhân, Trung Quốc dự kiến sẽ chế tạo khoảng 5 chiếc tàu ngầm SSBN lớp Tấn, mỗi chiếc được trang bị 12 tên lửa đạn đạo được phóng từ tàu ngầm (SLBM) có khả năng vươn tới lãnh thổ Mỹ từ vị trí bắn ngoài khơi Trung Quốc. Bắc Kinh cũng muốn sử dụng một số tàu SSN để hộ tống việc tuần tra răn đe của SSBN. Rõ ràng Trung Quốc không hề e ngại bộc lộ ý định trở thành một cường quốc toàn cầu và một hạm đội tàu ngầm tấn công mạnh sẽ giúp bảo vệ việc vận chuyển đường biển của Trung Quốc trên toàn thế giới.


- Lực lượng tàu ngầm của các quốc gia khác trong khu vực:


+ Ôxtrâylia: có 6 tàu ngầm chạy bằng điện và điêzen (SSK và SS) và đã có kế hoạch thay thế những chiếc tàu ngầm này bằng 12 tàu hiện đại thông thường được trang bị tên lửa tuần tiễu. Động thái này của Ôxtrâylia rõ ràng là do sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc hải quân và sự suy yếu uy thế hải quân của Mỹ, mà Ôxtrâylia vốn cho rằng đóng một vai trò bình ổn ở trên toàn thế giới, đặc biệt ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.


+ Ấn Độ: Mặc dù về mặt địa lý không phải là quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương, nhưng Ấn Độ cũng đang tăng cường ảnh hưởng ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Ấn Độ có 16 tàu ngầm tấn công chạy bằng điêzen và gần đây đã hạ thủy chiếc SSN đầu tiên. Ấn Độ cũng đang chế tạo 6 tàu ngầm điêzen lớp Scorpene. Việc mở rộng và nâng cấp hạm đội tàu ngầm của Ấn Độ là một phần trong nỗ lực nhằm tăng thêm 100 tàu chiến cho hải quân nước này trong vòng 10 năm tới. Ấn Độ cho rằng chương trình chế tạo tàu chiến là một "nhu cầu chiến lược" của phòng thủ quốc gia, chủ yếu là nhằm đối chọi với việc Trung Quốc tăng cường lực lượng hải quân. Ấn Độ cũng có tham vọng trở thành một nước lớn và lực lượng tàu ngầm là một công cụ quan trọng để thực hiện tham vọng đó.


+ Nga: hạm đội tàu ngầm của Nga đã giảm khoảng 2/3 sau sự sụp đổ của Liên Xô cũ. Trong những năm gần đây, hải quân Nga đã từng bước phục hồi, nhưng vẫn cần thải hàng chục chiếc tàu ngầm hạt nhân tồn lại từ thời Chiến tranh Lạnh. Năm 2009, Nga có 17 chiếc SSN và 20 chiếc SS, trong đó 5 chiếc SSN và 9 chiếc SS thuộc biên chế hạm đội Thái Bình Dương. Tuy nhiên, khó khăn về ngân sách đã hạn chế khả năng của Nga trong việc đại tu thường xuyên các tàu ngầm tác chiến, thậm chí duy trì chúng ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu.


+ Hàn Quốc: có 12 tàu ngầm tấn công và có kế hoạch tăng lên 27 chiếc vào năm 2020.


+ Bắc Triều Tiên: có 22 tàu ngầm tấn công thông thường đã cũ (số lượng tàu còn hoạt động được chưa biết) và nhiều tàu ngầm mini. Về mặt lý thuyết, các tàu ngầm của Bắc Triều Tiên có thể đe dọa các tàu buôn hoặc các tàu chiến bình thường, nhưng không được coi là đối thủ nghiêm trọng trong các hoạt động kiểm soát trên biển.


+ Đài Loan: hiện có 2 chiếc tàu ngầm tấn công và đang có kế hoạch mở rộng và nâng cấp lực lượng này, bao gồm cả tàu chế tạo trong nước.


+ Các nước Đông Nam Á: trong bối cảnh Trung Quốc và Ấn Độ đang triển khai các loại SSN, hầu hết các nước ở Đông Nam Á đã mở rộng và nâng cấp hạm đội tàu ngầm hiện có của họ. Inđônêxia có 2 tàu ngầm và thông báo kế hoạch chế tạo 12 chiếc vào năm 2024. Việt Nam đặt mua 6 tàu ngầm lớp Kilo của Nga. Xinhgapo gần đây đã mua 2 tàu ngầm trang bị hệ thống AIP lớp Archer nhằm thay thế hai chiếc tàu trong tổng số 4 chiếc cũ kỹ. Tháng 10/2007, Malaixia đã nhận được chiếc tàu lớp Scorpene đầu tiên của Pháp và dự kiến sẽ nhận chiếc thứ hai vào năm 2010. Thái Lan chưa có tàu ngầm nhưng cũng bày tỏ tham vọng có một vài chiếc.

2. Một số khuyến nghị nhằm duy trì ưu thế vượt trội dưới biển của Hải quân Mỹ


Trong vòng 16 năm qua, Trung Quốc đã mở rộng nhanh chóng hạm đội tàu ngầm của họ, trong khi đó, Mỹ lại giảm bớt lực lượng này. Các nước bạn bè và đồng minh của Mỹ đã bày tỏ lo ngại về môi trường an ninh chuyển đổi ở Thái Bình Dương. Mỹ đã thừa nhận thực tế cán cân thăng bằng đang chuyển đổi này và đã bắt đầu tìm cách giải quyết. Nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ tại khu vực Đông Á, Thái Bình Dương và hỗ trợ việc trấn an các nước đồng minh trong khu vực, Mỹ cần đảo ngược xu thế giảm bớt đội tàu ngầm hiện nay và cần tăng khả năng chống tàu ngầm của họ. Cụ thể:


- Nhanh chóng đóng thêm các tàu ngầm tấn công. Quốc hội cần thông qua việc tăng mua các tàu ngầm lớp Virginia thêm ít nhất 2 chiếc mỗi năm nhằm mục đích nâng tổng số tàu ngầm tấn công nhanh lên 60 chiếc.


- Rà soát đại tu và hiện đại hóa các tàu ngầm lớp Los Angeles có lựa chọn để kéo dài thời gian phục vụ. Việc đại tu và hiện đại hóa các tàu ngầm sẽ đòi hỏi thêm ngân sách, vì vậy việc kéo dài thời gian phục vụ của các tàu ngầm cũ mà vẫn trong điều kiện hoạt động tốt, thay vì thải đi như kế hoạch đề ra, sẽ giúp thu hẹp "lỗ hổng tàu ngầm" về ngắn hạn với chi phí ít hơn thay vì chế tạo mới.


- Tăng cường thêm các căn cứ tàu ngầm. Bố trí thêm tàu ngầm ở các căn cứ Guam, Hawaii và có thể Nhật Bản - ngoài 3 chiếc SSN hiện có ở Guam - sẽ giúp hạm đội này tiếp cận gần hơn với khu vực Đông Á nơi có thể cần đến chúng nhiều nhất, đồng thời cho phép tối đa hóa thời gian neo đậu và giảm tối thiểu thời gian khởi hành. Hải quân Mỹ cũng cần phải xem xét mua thêm các tàu tiếp liệu cho tàu ngầm.


- Đánh giá lại việc sử dụng các tàu ngầm điêzen. Về ngắn hạn, khi năng lực sản xuất trong nước phát triển, Mỹ có thể mua các tàu ngầm của đồng minh. Phát triển năng lực tàu ngầm thông thường sẽ giúp thúc đẩy việc huấn luyện tác chiến chống ngầm mạnh mẽ hơn và cho phép Mỹ có thể bán các tàu ngầm chạy điêzen tiên tiến cho Đài Loan.


- Nghiên cứu, phát triển và triển khai các phương tiện đa chức năng hoạt động dưới biển. Trang bị các thiết bị không người điều khiển dưới biển (UUV) có thể giúp tăng cường phạm vi, năng lực và khả năng sát thương của các loại vũ khí dưới biển hiện nay. Tuy nhiên, không nên coi các UUV như một sự thay thế các loại tàu ngầm tấn công. Trong tương lai gần, Mỹ cần tiếp tục triển khai các tàu ngầm có người điều khiển, đồng thời nâng cấp và tăng cường năng lực nhằm đối phó với các mối đe dọa tiềm tàng.


- Tăng cường các năng lực tác chiến chống ngầm. Quốc hội cần phân bổ ngân sách đủ và ổn định để tăng cường các năng lực ASW cả về số lượng và chất lượng. Cụ thể có thể mở rộng và đẩy nhanh chương trình P-8 và chế tạo thêm các tàu chiến có khả năng ASW.


- Hợp tác với quân đội của các nước bạn bè và đồng minh nhằm cải thiện năng lực tàu ngầm và ASW của họ. Những nỗ lực này bao gồm tiến hành thường xuyên và mạnh mẽ các cuộc tập trận đa phương, chia sẻ công nghệ và lập kế hoạch chung. Tăng cường năng lực hải quân của các nước bạn bè và đồng minh sẽ cho phép Mỹ hạn chế triển khai các nguồn lực của họ trong các tình huống khẩn cấp và sứ mệnh nhất định nhằm đáp ứng các nhu cầu cấp bách hơn.


- Khuyến khích Trung Quốc minh bạch hơn trong các vấn đề an ninh thông qua các kênh quân sự. Sự minh bạch lớn hơn về quân sự của Trung Quốc sẽ giúp giải quyết hoặc xoa dịu những quan ngại về việc tăng cường sức mạnh hải quân của nước này. Sự hiểu biết lẫn nhau rõ hơn cũng có thể giúp ngăn chặn hoặc tránh các cuộc đụng độ trong tương lai giữa quân đội Mỹ và Trung Quốc./.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Tại sao Trung Quốc không quan tâm đến COC?

Tại sao Trung Quốc không quan tâm đến COC?

Theo nhà phân tích Shannon Tiezzi trên trang "The Diplomat", Trung Quốc sẽ mất ít và lợi nhiều từ việc kéo dài đàm phán COC, hoặc ít nhất đảm bảo rằng dự thảo cuối cùng sẽ bị làm loãng đến mức chẳng có ý nghĩa về thực chất.

Đọc tiếp...

Trung Quốc lấn lướt ở Biển Đông trong khi thế giới tập trung vào Crimea

Trung Quốc lấn lướt ở Biển Đông trong khi thế giới tập trung vào Crimea

Trong khi nhiều người trên thế giới đang bận theo dõi vấn đề Ukraina, thì có khá ít người nhận ra rằng một cuộc tranh chấp lãnh thổ “ăn miếng trả miếng” cũng nguy hiểm đã bắt đầu bộc lộ vào đầu tháng này ở khu vực Biển Đông cách đó 5.000 dặm. 

Đọc tiếp...

ADIZ của Trung Quốc và tác động đối với khu vực

ADIZ của Trung Quốc và tác động đối với khu vực

Quyết định của Trung Quốc thiết lập một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở biển Hoa Đông đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các cường quốc trong khu vực, tuy nhiên phản ứng của ASEAN về vấn đề này cho đến nay tương đối kín tiếng. Vậy tác động của ADIZ đến ASEAN là gì? 

Đọc tiếp...

Điều trần trước Hạ viện Mỹ về Các tranh chấp biển của Trung Quốc

Điều trần trước Hạ viện Mỹ về Các tranh chấp biển của Trung Quốc

Bài điều trần trước Tiểu ban về Sức mạnh hải quân và Tiểu ban đối ngoại Châu Á – Thái Bình Dương của Hạ viện Mỹ về các tranh chấp lãnh thổ và biển của Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông và tranh chấp giữa Trung Quốc với Mỹ về những hoạt động được phép trong vùng EEZ của một quốc gia ven biển.

Đọc tiếp...

Trung Quốc triển khai tàu Liêu Ninh: Ngoại giao tàu chiến tại Biển Đông?

Trung Quốc triển khai tàu Liêu Ninh: Ngoại giao tàu chiến tại Biển Đông?

Hải trình đầu tiên của tàu sân bay Trung Quốc tới Biển Đông có ý nghĩa chiến lược và tầm quan trọng thực tế đối với Bắc Kinh. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Koh Swee Lean Collin, Viện Nghiên cứu Quốc phòng và Chiến lược, Đại học Công nghệ Nanyang, hành động này có tác động cả tiêu cực lẫn tích cực.

Đọc tiếp...

Học được gì từ vụ Bãi đá Scarborough?

Học được gì từ vụ Bãi đá Scarborough?

Bãi đá Scarborough là một chiến thắng chiến thuật đối với Trung Quốc, nhưng cũng đồng thời hé lộ công thức của Bắc Kinh nhằm lợi dụng các quốc gia yếu hơn. Để ngăn chặn khuynh hướng gia tăng sự cứng rắn của Trung Quốc, Washington nên tập trung vào việc xây dựng năng lực cho các đối tác, củng cố các thể chế ở khu vực và làm cho Bắc Kinh thấy rõ nước này sẽ phải trả giá khi áp dụng “Mô hình Scarborough” trong tương lai.

Đọc tiếp...

(Sách) Tranh chấp Biển Đông: Luật pháp, Địa Chính trị và Hợp tác Quốc tế

(Sách) Tranh chấp Biển Đông: Luật pháp, Địa Chính trị và Hợp tác Quốc tế

Cuốn sách này tập hợp các tham luận của các học giả quốc tế trong và ngoài nước tham gia tại Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ 3 về Biển Đông với chủ đề “Tranh chấp Biển Đông: Luật pháp, Địa Chính trị và Hợp tác Quốc tế” do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011. 

Đọc tiếp...

Nhìn lại sự cứng rắn của Trung Quốc ở Biển Đông trong năm 2013

Nhìn lại sự cứng rắn của Trung Quốc ở Biển Đông trong năm 2013

Liệu Trung Quốc có đang tiếp tục đẩy mạnh những yêu sách lãnh thổ của mình ở Biển Đông bằng các biện pháp chính trị, kinh tế và quân sự theo cái cách mà nước này đã từng làm năm ngoái không? Câu trả lời là có. Robert Sutter và Chin-hao Huang cho rằng chính những lợi thế đang ngày càng rõ ràng mà nước này có trước các đối thủ của mình sẽ dẫn đến một cách tiếp cận hung hăng hơn trong tương lai.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Một Tương lai Hòa Bình hay Bất ổn?

Biển Đông: Một Tương lai Hòa Bình hay Bất ổn?

Trong khi Syria đang thu hút mọi sự chú ý của cộng đồng quốc tế thì nền hòa bình được duy trì ở châu Á trong ba thập kỷ qua đang dần mất đi. Cụ thể, những diễn biến gần đây ở Biển Đông tuy nằm trong dự đoán của nhiều người nhưng nó đang chỉ ra một tương lai bất ổn hơn ở khu vực.

Đọc tiếp...

Nhân tố Trung Quốc đang thúc đẩy liên minh Nhật-Phi?

Nhân tố Trung Quốc đang thúc đẩy liên minh Nhật-Phi?

Chuyến thăm Philippines gần đây của Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã tăng cường mối quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Nhật Bản và Philippines đã đoàn kết với nhau để cùng đối phó với sự quyết đoán của Trung Quốc và cũng vì những nhu cầu kinh tế chung của cả hai nước.

Đọc tiếp...

Loạt bài Hội thảo CSIS: Những gợi ý chính sách để nâng cao hợp tác tại Biển Đông

Loạt bài Hội thảo CSIS: Những gợi ý chính sách để nâng cao hợp tác tại Biển Đông

Phần lớn các bình luận về Biển Đông tập trung vào việc đánh giá và phân tích rủi ro, tuy nhiên, không có nhiều những gợi ý cụ thể về chính sách nhằm quản lý căng thẳng và hướng tới một giải pháp hòa bình cho các tranh chấp. Bên cạnh các cuộc tranh luận đang diễn ra về một Bộ Quy tắc ứng xử khả thi, điều cần hơn chính là bàn thảo sâu sắc về các chính sách giúp thúc đẩy hợp tác và giảm thiểu xung đột ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Một Trung Quốc vụng về? So sánh sự biện ngôn của một Trung Quốc đang trỗi dậy với thực tế của luật biển quốc tế

Một Trung Quốc vụng về?  So sánh sự biện ngôn của một Trung Quốc đang trỗi dậy với thực tế của luật biển quốc tế

Bài viết này nghiên cứu những biện ngôn của Trung Quốc về các vấn đề luật biển trong những năm gần đây, và dựa trên các hoạt động chính thức và thực tiễn của luật biển để đánh giá liệu Trung Quốc có chấp nhận các quy tắc hiện hành hay đang tìm cách thay đổi các quy tắc ấy.

Đọc tiếp...

Loạt bài Hội thảo CSIS: Sức mạnh Hải quân sẽ đem lại Chiến thắng? Sức mạnh và Luật pháp trên Biển Đông

Loạt bài Hội thảo CSIS: Sức mạnh Hải quân sẽ đem lại Chiến thắng? Sức mạnh và Luật pháp trên Biển Đông

Xem xét cụ thể trường hợp vụ kiện giữa Trung Quốc và Philippines, tác giả phân tích vai trò của luật pháp quốc tế trong vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông hiện nay.

Đọc tiếp...

Ghi chép toàn văn Hội thảo CSIS: Phiên hai - Những diễn biến gần đây ở Biển Đông

Ghi chép toàn văn Hội thảo CSIS: Phiên hai - Những diễn biến gần đây ở Biển Đông

Phiên thảo luận tập trung đánh giá các diễn biến tại Biển Đông trong khoảng 1 năm trở lại đây với sự trình bày của các diễn giả: TS. Wu Shicun, (Trung Quốc), TS. Renato de Castro (Philippin), TS. Yann-Huei Song (Đài Loan) và TS. Trần Trường Thủy (Việt Nam).

Đọc tiếp...

Loạt bài Hội thảo CSIS: Biển Đông trong Chính trị Khu vực

Loạt bài Hội thảo CSIS: Biển Đông trong Chính trị Khu vực

Biển Đông không chỉ phản ánh cách thức “trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc mà nó còn bị ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng, cân bằng quyền lực của các cường quốc thế giới và khu vực như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia….

Đọc tiếp...

Ghi chép toàn văn Hội thảo CSIS: Phát biểu của Joseph Yun, Quyền Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách khu vực Đông Á và các vấn đề Thái Bình Dương

Ghi chép toàn văn Hội thảo CSIS: Phát biểu của Joseph Yun, Quyền Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách khu vực Đông Á và các vấn đề Thái Bình Dương

Phần tham luận và trả lời câu hỏi của ông Joseph Yun, Quyền Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách khu vực Đông Á và các vấn đề Thái Bình Dương. Bài tham luận nêu lên một số quan điểm của Mỹ liên quan đến vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ghi chép toàn văn Hội thảo CSIS: Phiên mở đầu - Xác định phạm vi tranh chấp ở Biển Đông

Ghi chép toàn văn Hội thảo CSIS: Phiên mở đầu - Xác định phạm vi tranh chấp ở Biển Đông

Bài tham luận mở đầu hội thảo của Gregory Polling đề cập đến việc khoanh vùng biển tranh chấp thành các khu vực thực sự có tranh chấp theo luật pháp quốc tế bởi thống nhất phạm vi của tranh chấp là bước đầu quan trọng trong kiểm soát tranh chấp tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Loạt bài Hội thảo CSIS: Mối liên hệ giữa Biển Đông, Biển Hoa Đông và vấn đề chủ quyền trên Biển Đông

Loạt bài Hội thảo CSIS: Mối liên hệ giữa Biển Đông, Biển Hoa Đông và vấn đề chủ quyền trên Biển Đông

Rủi ro xung đột tại Hoa Đông có nguy cơ trầm trọng hơn so với Biển Đông bởi khả năng “đáp trả” trong tương quan lực lượng tại đây. Nếu bỏ qua các giả định về chủ quyền thì cần những gì để tạo nên một công thức “công bằng” và “hợp lý” để chia sẻ quyền lợi và trách nhiệm giữa các bên yêu sách ở Biển Đông?

Đọc tiếp...

Loạt bài Hội thảo CSIS: Tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông

Loạt bài Hội thảo CSIS: Tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông

Biển Đông là khu vực trọng yếu với một nguồn tài nguyên rất phong phú. Nhưng tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông hầu như lại đến từ chính vị trí địa lý của khu vực này.

Đọc tiếp...

Vụ Philippines kiện Trung Quốc và tranh chấp tại Biển Đông

Vụ Philippines kiện Trung Quốc và tranh chấp tại Biển Đông

Bài tham luận xem xét vai trò của UNCLOS và luật quốc tế trong tranh chấp Biển Đông, giải thích các vấn đề pháp lý đặt ra trong Tuyên bố yêu sách của Philippines, phân tích khả năng tác động của vụ kiện đối với các yêu sách vùng biển ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông: Phải chăng là Tiểu thuyết Lịch sử?

Yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông: Phải chăng là Tiểu thuyết Lịch sử?

Bằng trí tưởng tượng và chủ nghĩa xét lại về lịch sử, Bắc Kinh đặt cược rất cao vào “quân bài lịch sử” để bảo vệ những yêu sách của mình tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ và Hệ lụy đối với Biển Đông

Phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ và Hệ lụy đối với Biển Đông

Biển Đông đã trở thành một khu vực bất ổn về quân sự do những yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc đối với toàn bộ vùng biển này.

Đọc tiếp...

Biển Đông: tranh chấp giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng ven biển

Biển Đông: tranh chấp giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng ven biển

Biển Đông được cho là vùng biển giàu tài nguyên. Trong bối cảnh căng thẳng gia tăng, Robert Beckman phân tích lập trường của các quốc gia trên nền tảng Công ước Luật Biển Liên Hợp Quốc (UNCLOS).

Đọc tiếp...

Tranh chấp Biển Đông: Những tính toán chiến lược và triển vọng giải quyết xung đột

Tranh chấp Biển Đông: Những tính toán chiến lược và triển vọng giải quyết xung đột

Nếu như lãnh thổ nước Đức là chiến tuyến trong thời kỳ Chiến tranh lạnh thì Biển Đông cũng có thể trở thành giới tuyến quân sự trong những thập kỷ tới. Xét về thực chất, đã xuất hiện một cuộc đối đầu không trực diện giữa Trung Quốc và Mỹ trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Mỹ và “Bài toán” Biển Đông

Mỹ và “Bài toán” Biển Đông

Mỹ phải đưa ra những sự lựa chọn khó khăn và thực hiện các nỗ lực cần thiết để có thể duy trì hòa bình tại Biển Đông trong năm 2013 và trong những năm kế tiếp.

Đọc tiếp...

Chiến thuật "không đánh mà thắng" của Trung Quốc ở Biển Đông

Chiến thuật

Trong một mặt trận không tiếng súng, Trung Quốc sẽ cố gắng để giành chiến thắng bằng các chiến thuật như chia rẽ các thành viên ASEAN, áp dụng đòn bẩy kinh tế, củng cố yêu sách pháp lý bằng cách triển khai tàu đánh cá, tàu nghiên cứu, tàu du lịch và các tàu hải giám

Đọc tiếp...

Thuần phục Ngũ long: Trung Quốc thống nhất các lực lượng chấp pháp

Thuần phục Ngũ long: Trung Quốc thống nhất các lực lượng chấp pháp

Giới lãnh đạo mới của Trung Quốc gần đây tuyên bố ý định tái cơ cấu các cơ quan chấp pháp trên biển thành một cơ quan quản lý thống nhất. Kế hoạch tái cơ cấu này cho thấy Trung Quốc có ý định hình thành một cơ quan bảo vệ bờ biển thống nhất nhằm hạn chế tình trạng thiếu phối hợp hiện nay giữa các cơ quan chấp pháp trên Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Đọc tiếp...

(SÁCH) Biển Đông: Hướng tới một Khu vực Hòa bình, An ninh và Hợp tác

(SÁCH) Biển Đông: Hướng tới một Khu vực Hòa bình, An ninh và Hợp tác

Cuốn sách này tập hợp các tham luận của các học giả quốc tế trong và ngoài nước tham gia tại Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ 2 về Biển Đông với chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực” do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh từ 10-12/11/2010

Đọc tiếp...

Philippines kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài quốc tế

Philippines kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài quốc tế

Ngày 22/1, Bộ trưởng Ngoại giao Philippines tuyên bố Philippines đã nộp đơn khiếu nại về các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông lên một tòa án trọng tài của Liên Hiệp Quốc.

Đọc tiếp...

Thông báo và Tuyên bố Khởi kiện Trung Quốc của Philippines tại Biển Đông

Thông báo và Tuyên bố Khởi kiện Trung Quốc của Philippines tại Biển Đông

Ngày 22-1, Philippines tuyên bố kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài theo Công ước luật biển 1982 nhằm phản đối yêu sách Đường lưỡi bò và việc Trung Quốc xâm phạm các vùng biển của Philippines tại Biển Đông. Dưới đây là toàn văn “Thông báo và Tuyên bố Khởi kiện” của Philippines kiện Trung Quốc theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG