26 - 8 - 2016 | 11:52
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM CỦA CÁC NƯỚC Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM CỦA CÁC NƯỚC Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

Email In PDF.
Ngày 2/2, Viện nghiên cứu Heritage Foundation của Mỹ công bố báo cáo tựa đề: "Submarine Arms Race in the Pacific: The Chinese Challenge to U.S. Undersea Supremacy", đánh giá về tương quan lực lượng tàu ngầm của các nước ở Thái Bình Dương và sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Sau đây là tóm lược nội dung chính của báo cáo:

1. Đánh giá về tương quan lực lượng tàu ngầm các nước ở Thái Bình Dương
Cán cân lực lượng tàu ngầm thay đổi một cách đáng kể từ Chiến tranh Lạnh đến nay, đặc biệt sau khi Nga giảm phần lớn hoạt động đội tàu ngầm của họ từ những năm 1990, số lượng tàu ngầm của Mỹ cũng đang giảm dần. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp hải quân một cách nhanh chóng, đặc biệt là trang bị thêm nhiều tàu ngầm chiến đấu cho đội tàu ngầm của họ trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay. Việc Mỹ giảm dần đội tàu ngầm chiến đấu của họ khiến lực lượng này trở nên mỏng manh hơn, làm cho Ôxtrâylia và Ấn Độ phải tăng gấp đôi số lượng tàu ngầm để đối phó với việc Trung Quốc tăng cường hải quân. Ngoài ra, các nước như Hàn Quốc, Inđônêxia và Malaixia đang phát triển đội tàu ngầm của họ.


- Lực lượng tàu ngầm của Mỹ:


Số lượng tàu ngầm tấn công của Mỹ đã giảm từ 102 chiếc năm 1987 xuống chỉ còn 53 trong năm 2009. Việc sụt giảm này bắt nguồn từ một số lần điều chỉnh cơ cấu lực lượng của Hải quân Mỹ kể từ thời Tổng thống Reagan kêu gọi sản xuất 100 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN). Kế hoạch năm 1991 của Tổng thống Bush cha kêu gọi duy trì 80 SSN. Báo cáo Quốc phòng bốn năm một lần (QDR) năm 1997 giảm mục tiêu này xuống chỉ còn 50 chiếc SSN. QDR 2001 nhắc lại mục tiêu duy trì 50 SSN. Trong khi đó, QDR 2006 đưa ra mục tiêu tăng việc sản xuất thêm 2 tàu ngầm mỗi năm vào năm 2012 và triển khai 60% lực lượng tàu ngầm tới khu vực Thái Bình Dương nhằm bảo vệ các lợi ích của Mỹ tại đây. Nghiên cứu cơ cấu lực lượng tàu ngầm của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân (JCS) năm 1999 kết luận rằng số lượng tối ưu các tàu ngầm tấn công nhằm đáp ứng tất cả các yêu cầu thu thập tin tức và tác chiến của cộng đồng tình báo và quân sự của Mỹ sẽ là 68 chiếc SSN vào năm 2015 và 76 chiếc SSN vào năm 2025. Một lực lượng bao gồm 55 chiếc SSN vào năm 2015 và 62 chiếc vào năm 2025 sẽ tạo ra nguy cơ tương đối về an ninh. Hiện nay, hạm đội tàu ngầm của Mỹ đang bị dàn trải. Trong khi đó, theo kế hoạch mua sắm dài hạn của Hải quân Mỹ, số lượng SSN sẽ giảm xuống chỉ còn 48 chiếc trong giai đoạn 2022 và 2033 và xuống mức thấp nhất chỉ còn 41 chiếc vào những năm 2028-2029.


Để giải quyết "lỗ hổng" này, Hải quân Mỹ đang cân nhắc giảm thời gian sản xuất tàu ngầm lớp Virginia xuống chỉ còn 60 tháng, kéo dài thời gian phục vụ của một số tàu ngầm lớp Los Angeles thêm 2 năm, và kéo dài việc triển khai một số tàu ngầm từ 6-7 tháng. Nếu như thành công, tất cả những biện pháp này sẽ giúp Hải quân Mỹ duy trì tối đa 44-45 chiếc SSN. Việc giảm sút lực lượng SSN không chỉ tạo ra thách thức đối với việc duy trì khả năng răn đe dưới nước của Hải quân Mỹ mà còn ảnh hưởng tới các nỗ lực tác chiến chống tàu ngầm (ASW). Hiện nay, Hải quân Mỹ có 173 máy bay tuần tiễu P-3C đã cũ kỹ và loại máy bay thay thế P-8A dự kiến sẽ chưa thể đưa vào hoạt động cho đến năm 2013. Hải quân Mỹ cũng đang cho "nghỉ hưu" loại máy bay săn tàu ngầm S-3B Viking và vẫn chưa có kế hoạch thay thế. Ngoài ra, Hải quân Mỹ cũng đang thiếu một hệ thống hiện đại giống như hệ thống định vị bằng âm thanh (SOSUS) để phát hiện các tàu ngầm đối phương. Nhiều hệ thống tương tự triển khai từ thời Chiến tranh Lạnh đã lỗi thời và không có tác dụng trong môi trường tác chiến hiện nay. Hơn nữa, nhiều quốc gia đang triển khai các loại tàu ngầm hiện đại có thể đe dọa các tàu sân bay của Mỹ.


- Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc:


Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, Hải quân Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là hạm đội tàu ngầm. Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc có lực lượng hải quân lớn nhất ở châu Á, bao gồm 6 chiếc SSN và 54 chiếc tàu ngầm tấn công chạy bằng điêzen (SS). Hơn một nửa các tàu ngầm chạy bằng điêzen là các loại tàu ngầm hiện đại lớp Kilo, lớp Tống và lớp Nguyên. Trung Quốc đang trên đường thực hiện mục tiêu xây dựng một lực lượng hải quân nước sâu, có thể tác chiến ngoài khơi xa nước này. Trong giai đoạn từ năm 1995-2005, Trung Quốc đã trang bị cho hải quân nước này 31 tàu ngầm mới. Ước tính hạm đội tàu ngầm tấn công của Trung Quốc trong tương lai sẽ có khoảng từ 58-88 chiếc, phụ thuộc vào việc các loại tàu ngầm cũ ngừng hoạt động sớm hay muộn. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã cho ra mắt bốn loại tàu ngầm mới được thiết kế và sản xuất trong nước là tàu ngầm lớp Tấn (tàu ngầm trang bị tên lửa đạn đạo - SSBN), lớp Thương (SSN), lớp Nguyên (SSP), và lớp Tống (tàu ngầm tấn công chạy bằng điện - SSK). Thế hệ tiếp theo của tàu ngầm lớp Thương cũng đang được chế tạo.


Hạm đội tàu ngầm tấn công của Trung Quốc đã tăng một cách đáng kể số lượng tàu tuần tiễu từ 2 chiếc năm 2006 lên 6 chiếc năm 2007 và 12 chiếc năm 2008. Điều này cho thấy Bắc Kinh đang có sự tập trung mới vào việc huấn luyện và chứng tỏ với các nước khác là Trung Quốc là một cường quốc hàng hải ở Thái Bình Dương. Một số vụ đụng độ với tàu của hải quân Mỹ trên vùng biển Thái Bình Dương trong những năm vừa qua cho thấy tầm hoạt động của tàu ngầm Trung Quốc đã vươn xa hơn và hoạt động có phần hiếu chiến hơn so với trước đây. Giới phân tích cho rằng sở dĩ Trung Quốc mở rộng nhanh chóng lực lượng tàu ngầm tấn công là do một số nguyên nhân như: nhằm đáp ứng nhu cầu phòng thủ, hạn chế khả năng can thiệp của Mỹ vào xung đột hai bờ giữa Đài Loan và Trung Quốc Đại lục, thách thức sự thống trị của Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương, bảo đảm khả năng đánh chặn hạt nhân cũng như tạo cho Trung Quốc vị thế lớn hơn trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Như là một phần của khả năng răn đe hạt nhân, Trung Quốc dự kiến sẽ chế tạo khoảng 5 chiếc tàu ngầm SSBN lớp Tấn, mỗi chiếc được trang bị 12 tên lửa đạn đạo được phóng từ tàu ngầm (SLBM) có khả năng vươn tới lãnh thổ Mỹ từ vị trí bắn ngoài khơi Trung Quốc. Bắc Kinh cũng muốn sử dụng một số tàu SSN để hộ tống việc tuần tra răn đe của SSBN. Rõ ràng Trung Quốc không hề e ngại bộc lộ ý định trở thành một cường quốc toàn cầu và một hạm đội tàu ngầm tấn công mạnh sẽ giúp bảo vệ việc vận chuyển đường biển của Trung Quốc trên toàn thế giới.


- Lực lượng tàu ngầm của các quốc gia khác trong khu vực:


+ Ôxtrâylia: có 6 tàu ngầm chạy bằng điện và điêzen (SSK và SS) và đã có kế hoạch thay thế những chiếc tàu ngầm này bằng 12 tàu hiện đại thông thường được trang bị tên lửa tuần tiễu. Động thái này của Ôxtrâylia rõ ràng là do sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc hải quân và sự suy yếu uy thế hải quân của Mỹ, mà Ôxtrâylia vốn cho rằng đóng một vai trò bình ổn ở trên toàn thế giới, đặc biệt ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.


+ Ấn Độ: Mặc dù về mặt địa lý không phải là quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương, nhưng Ấn Độ cũng đang tăng cường ảnh hưởng ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Ấn Độ có 16 tàu ngầm tấn công chạy bằng điêzen và gần đây đã hạ thủy chiếc SSN đầu tiên. Ấn Độ cũng đang chế tạo 6 tàu ngầm điêzen lớp Scorpene. Việc mở rộng và nâng cấp hạm đội tàu ngầm của Ấn Độ là một phần trong nỗ lực nhằm tăng thêm 100 tàu chiến cho hải quân nước này trong vòng 10 năm tới. Ấn Độ cho rằng chương trình chế tạo tàu chiến là một "nhu cầu chiến lược" của phòng thủ quốc gia, chủ yếu là nhằm đối chọi với việc Trung Quốc tăng cường lực lượng hải quân. Ấn Độ cũng có tham vọng trở thành một nước lớn và lực lượng tàu ngầm là một công cụ quan trọng để thực hiện tham vọng đó.


+ Nga: hạm đội tàu ngầm của Nga đã giảm khoảng 2/3 sau sự sụp đổ của Liên Xô cũ. Trong những năm gần đây, hải quân Nga đã từng bước phục hồi, nhưng vẫn cần thải hàng chục chiếc tàu ngầm hạt nhân tồn lại từ thời Chiến tranh Lạnh. Năm 2009, Nga có 17 chiếc SSN và 20 chiếc SS, trong đó 5 chiếc SSN và 9 chiếc SS thuộc biên chế hạm đội Thái Bình Dương. Tuy nhiên, khó khăn về ngân sách đã hạn chế khả năng của Nga trong việc đại tu thường xuyên các tàu ngầm tác chiến, thậm chí duy trì chúng ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu.


+ Hàn Quốc: có 12 tàu ngầm tấn công và có kế hoạch tăng lên 27 chiếc vào năm 2020.


+ Bắc Triều Tiên: có 22 tàu ngầm tấn công thông thường đã cũ (số lượng tàu còn hoạt động được chưa biết) và nhiều tàu ngầm mini. Về mặt lý thuyết, các tàu ngầm của Bắc Triều Tiên có thể đe dọa các tàu buôn hoặc các tàu chiến bình thường, nhưng không được coi là đối thủ nghiêm trọng trong các hoạt động kiểm soát trên biển.


+ Đài Loan: hiện có 2 chiếc tàu ngầm tấn công và đang có kế hoạch mở rộng và nâng cấp lực lượng này, bao gồm cả tàu chế tạo trong nước.


+ Các nước Đông Nam Á: trong bối cảnh Trung Quốc và Ấn Độ đang triển khai các loại SSN, hầu hết các nước ở Đông Nam Á đã mở rộng và nâng cấp hạm đội tàu ngầm hiện có của họ. Inđônêxia có 2 tàu ngầm và thông báo kế hoạch chế tạo 12 chiếc vào năm 2024. Việt Nam đặt mua 6 tàu ngầm lớp Kilo của Nga. Xinhgapo gần đây đã mua 2 tàu ngầm trang bị hệ thống AIP lớp Archer nhằm thay thế hai chiếc tàu trong tổng số 4 chiếc cũ kỹ. Tháng 10/2007, Malaixia đã nhận được chiếc tàu lớp Scorpene đầu tiên của Pháp và dự kiến sẽ nhận chiếc thứ hai vào năm 2010. Thái Lan chưa có tàu ngầm nhưng cũng bày tỏ tham vọng có một vài chiếc.

2. Một số khuyến nghị nhằm duy trì ưu thế vượt trội dưới biển của Hải quân Mỹ


Trong vòng 16 năm qua, Trung Quốc đã mở rộng nhanh chóng hạm đội tàu ngầm của họ, trong khi đó, Mỹ lại giảm bớt lực lượng này. Các nước bạn bè và đồng minh của Mỹ đã bày tỏ lo ngại về môi trường an ninh chuyển đổi ở Thái Bình Dương. Mỹ đã thừa nhận thực tế cán cân thăng bằng đang chuyển đổi này và đã bắt đầu tìm cách giải quyết. Nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ tại khu vực Đông Á, Thái Bình Dương và hỗ trợ việc trấn an các nước đồng minh trong khu vực, Mỹ cần đảo ngược xu thế giảm bớt đội tàu ngầm hiện nay và cần tăng khả năng chống tàu ngầm của họ. Cụ thể:


- Nhanh chóng đóng thêm các tàu ngầm tấn công. Quốc hội cần thông qua việc tăng mua các tàu ngầm lớp Virginia thêm ít nhất 2 chiếc mỗi năm nhằm mục đích nâng tổng số tàu ngầm tấn công nhanh lên 60 chiếc.


- Rà soát đại tu và hiện đại hóa các tàu ngầm lớp Los Angeles có lựa chọn để kéo dài thời gian phục vụ. Việc đại tu và hiện đại hóa các tàu ngầm sẽ đòi hỏi thêm ngân sách, vì vậy việc kéo dài thời gian phục vụ của các tàu ngầm cũ mà vẫn trong điều kiện hoạt động tốt, thay vì thải đi như kế hoạch đề ra, sẽ giúp thu hẹp "lỗ hổng tàu ngầm" về ngắn hạn với chi phí ít hơn thay vì chế tạo mới.


- Tăng cường thêm các căn cứ tàu ngầm. Bố trí thêm tàu ngầm ở các căn cứ Guam, Hawaii và có thể Nhật Bản - ngoài 3 chiếc SSN hiện có ở Guam - sẽ giúp hạm đội này tiếp cận gần hơn với khu vực Đông Á nơi có thể cần đến chúng nhiều nhất, đồng thời cho phép tối đa hóa thời gian neo đậu và giảm tối thiểu thời gian khởi hành. Hải quân Mỹ cũng cần phải xem xét mua thêm các tàu tiếp liệu cho tàu ngầm.


- Đánh giá lại việc sử dụng các tàu ngầm điêzen. Về ngắn hạn, khi năng lực sản xuất trong nước phát triển, Mỹ có thể mua các tàu ngầm của đồng minh. Phát triển năng lực tàu ngầm thông thường sẽ giúp thúc đẩy việc huấn luyện tác chiến chống ngầm mạnh mẽ hơn và cho phép Mỹ có thể bán các tàu ngầm chạy điêzen tiên tiến cho Đài Loan.


- Nghiên cứu, phát triển và triển khai các phương tiện đa chức năng hoạt động dưới biển. Trang bị các thiết bị không người điều khiển dưới biển (UUV) có thể giúp tăng cường phạm vi, năng lực và khả năng sát thương của các loại vũ khí dưới biển hiện nay. Tuy nhiên, không nên coi các UUV như một sự thay thế các loại tàu ngầm tấn công. Trong tương lai gần, Mỹ cần tiếp tục triển khai các tàu ngầm có người điều khiển, đồng thời nâng cấp và tăng cường năng lực nhằm đối phó với các mối đe dọa tiềm tàng.


- Tăng cường các năng lực tác chiến chống ngầm. Quốc hội cần phân bổ ngân sách đủ và ổn định để tăng cường các năng lực ASW cả về số lượng và chất lượng. Cụ thể có thể mở rộng và đẩy nhanh chương trình P-8 và chế tạo thêm các tàu chiến có khả năng ASW.


- Hợp tác với quân đội của các nước bạn bè và đồng minh nhằm cải thiện năng lực tàu ngầm và ASW của họ. Những nỗ lực này bao gồm tiến hành thường xuyên và mạnh mẽ các cuộc tập trận đa phương, chia sẻ công nghệ và lập kế hoạch chung. Tăng cường năng lực hải quân của các nước bạn bè và đồng minh sẽ cho phép Mỹ hạn chế triển khai các nguồn lực của họ trong các tình huống khẩn cấp và sứ mệnh nhất định nhằm đáp ứng các nhu cầu cấp bách hơn.


- Khuyến khích Trung Quốc minh bạch hơn trong các vấn đề an ninh thông qua các kênh quân sự. Sự minh bạch lớn hơn về quân sự của Trung Quốc sẽ giúp giải quyết hoặc xoa dịu những quan ngại về việc tăng cường sức mạnh hải quân của nước này. Sự hiểu biết lẫn nhau rõ hơn cũng có thể giúp ngăn chặn hoặc tránh các cuộc đụng độ trong tương lai giữa quân đội Mỹ và Trung Quốc./.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Sau Phán quyết của Tòa: Chiến tranh Pháp lý sẽ nổ ra ở Biển Đông?

Sau Phán quyết của Tòa: Chiến tranh Pháp lý sẽ nổ ra ở Biển Đông?

Phán quyết lịch sử về chế độ pháp lý của các thực thể ở Biển Đông sẽ mở màn cho những cạnh tranh về ngoại giao, chính trị và quân sự trong tương lai.

Đọc tiếp...

Nguồn cá là nguyên nhân tranh chấp Biển Đông?

Nguồn cá là nguyên nhân tranh chấp Biển Đông?

Biển Đông cung cấp trữ lượng cá vô cùng dồi dào. Đây là nơi sinh sống của ít nhất 3.365 loài cá và theo ước tính năm 2012, khoảng 12% sản lượng đánh bắt cá của thế giới, trị giá 21,8 tỷ USD, đến từ khu vực này.

Đọc tiếp...

Đánh giá về phản ứng của các bên đối với phán quyết của Tòa Trọng tài Biển Đông

Đánh giá về phản ứng của các bên đối với phán quyết của Tòa Trọng tài Biển Đông

Nhận định chung có thể thấy là sau phán quyết, các quốc gia tranh chấp ASEAN, kể cả Philippines đều có những phản ứng, tuyên bố khá kiềm chế. Tuyên bố của Mỹ, Nhật Bản và Úc tỏ ra cứng rắn hơn khi thôi thúc Trung Quốc thực hiện phán quyết. Trong khi đó, Trung Quốc đã tỏ ra tức giận và kiên quyết bác bỏ tính hợp pháp của phán quyết.

Đọc tiếp...

Quản lý căng thẳng an ninh tại Biển Đông - Vai trò của ASEAN

Quản lý căng thẳng an ninh tại Biển Đông - Vai trò của ASEAN

Bài viết đánh giá những nỗ lực ngoại giao và chính trị đang được tiến hành nhằm quản lý căng thẳng an ninh tại Biển Đông, tập trung vào sự tương tác giữa Hiệp hội các quốc Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc và Mỹ.

Đọc tiếp...

Vấn đề Biển Đông đang đe doạ đến sự thống nhất của ASEAN ?

Vấn đề Biển Đông đang đe doạ đến sự thống nhất của ASEAN ?

Nỗ lực giải quyết vấn đề Biển Đông tại ASEAN thực sự không đạt hiểu quả. Thay vì trông chờ vào một tuyên bố chung ở cấp độ ASEAN, Philippines và Việt Nam nên tiếp cận các thành viên ASEAN khác mà họ tin tưởng để giúp dàn xếp tranh chấp.

Đọc tiếp...

Chính sách trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc thực sự đã kết thúc

Chính sách trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc thực sự đã kết thúc

Trung Quốc phải đối mặt với một sự lựa chọn khó khăn: chấp nhận một hệ thống quốc tế được cho là chống lại những lợi ích của Trung Quốc, hoặc là khẳng định các yêu sách của họ một cách kiên quyết hơn, mạo hiểm xung đột với các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Trung Quốc cần Biển Đông để giữ vị trí kinh tế hàng đầu

Trung Quốc cần Biển Đông để giữ vị trí kinh tế hàng đầu

Hành vi hung hăng và quyết liệt của Trung Quốc trong tranh chấp khu vực biển quan trọng bậc nhất này không phải được nuôi dưỡng từ chủ nghĩa dân tộc hay từ những tuyên bố chủ quyền trong quá khứ, mà thực chất là động lực đơn giản - lợi ích kinh tế của quốc gia đông dân nhất thế giới này.

Đọc tiếp...

Vì sao quan điểm của Ấn Độ ở Biển Đông là đúng đắn

Vì sao quan điểm của Ấn Độ ở Biển Đông là đúng đắn

Sau phán quyết, Ấn Độ đã nhanh chóng thể hiện quan điểm của mình. Nhiều nhà bình luận Ấn Độ cho rằng, tuyên bố của Ấn Độ thực sự đã không tính đến mối liên hệ trong tranh chấp với Trung Quốc và Pakistan, tạo ra những bất nhất pháp lý mà các quan chức khó có thể bảo vệ chúng trong tương lai. Sự thực có phải như vậy?

Đọc tiếp...

Phán quyết của Tòa Trọng tài: Cơ hội để Ấn Độ thúc đẩy chính sách đối ngoại

Phán quyết của Tòa Trọng tài: Cơ hội để Ấn Độ thúc đẩy chính sách đối ngoại

Chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong tiếp cận với khu vực Đông Nam Á sẽ tăng sau phán quyết của Tòa Trọng tài. Có thể không đóng vai trò là người bảo đảm an ninh cho khu vực như Mỹ, nhưng Ấn Độ đang và sẽ tiếp tục là động lực chính của thiện chí và hòa bình cho khu vực.

Đọc tiếp...

Vùng Nhận dạng Phòng không ở Biển Đông: Phiên bản Đường Chín đoạn 2.0?

Vùng Nhận dạng Phòng không ở Biển Đông: Phiên bản Đường Chín đoạn 2.0?

Liệu Trung Quốc có thiết lập ADIZ ở Biển Đông? Nếu là có, khi nào Trung Quốc sẽ thực hiện và phạm vi mức độ sẽ như thế nào? Bài viết này sẽ giúp độc giả, cả những người muốn đánh giá những dự đoán của các chuyên gia hay những người muốn tự mình suy đoán, có thể suy nghĩ một cách có hệ thống về chủ đề này.

Đọc tiếp...

Phán quyết về Biển Đông: Uy tín quốc tế của Trung Quốc bị đe dọa

Phán quyết về Biển Đông: Uy tín quốc tế của Trung Quốc bị đe dọa

Trung Quốc giờ đây phải lo ngại về uy tín quốc tế của mình nếu nước này trắng trợn từ chối làm bất cứ điều gì và vẫn cứng nhắc trong cách tiếp cận đối với tranh chấp này. Nước này không thể mong muốn có một vai trò lãnh đạo có trách nhiệm nếu từ chối thương lượng.

Đọc tiếp...

Khi các cường quốc không chấp nhận các tòa án về Luật Biển, liệu có bất thường?

Khi các cường quốc không chấp nhận các tòa án về Luật Biển, liệu có bất thường?

Trung Quốc có thể sẽ hoàn toàn rút khỏi Công ước Luật biển – cùng với Mỹ như là một trong số it những quốc gia không tham gia Công ước.

Đọc tiếp...

Các cường quốc và thượng tôn pháp luật

Các cường quốc và thượng tôn pháp luật

Tất cả các quốc gia, dù lớn hay nhỏ, đều mong muốn được sống trong một thế giới hòa bình và ổn định, một thế giới của luật pháp thay vì vũ lực. Liệu các cường quốc có tuân thủ luật pháp?...Trong hầu hết các trường hợp, các cường quốc đều hành đồng phù hợp với luật quốc tế và thượng tôn pháp luật. Họ làm vậy không phải vì chủ nghĩa lý tưởng mà là vì chính lợi ích của họ.

Đọc tiếp...

Chia phần ở Biển Đông - Cách thức nào để duy trì thượng tôn pháp luật

Chia phần ở Biển Đông - Cách thức nào để duy trì thượng tôn pháp luật

Quan chức Mỹ cần làm rõ rằng phán quyết của Tòa đã đẩy Trung Quốc đến một ngã rẽ pháp lý, nhưng Bắc Kinh vẫn còn những lựa chọn hợp lý. Giải quyết thách thức hiện nay một cách hòa bình, trên cơ sở luật pháp sẽ là lợi ích của tất cả các bên, bao gồm, và đặc biệt là, lợi ích của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Đài Loan phải ứng xử thận trọng với phán quyết của Toà Trọng tài Biển Đông

Đài Loan phải ứng xử thận trọng với phán quyết của Toà Trọng tài Biển Đông

Các yêu sách của Đài Bắc và Bắc Kinh trên Biển Đông là tương tự nhau. Cách thức Đài Loan phản ứng với phán quyết có thể đặt nước này vào tình thế bất đồng với đồng minh của mình là Hoa Kỳ

Đọc tiếp...

Ba biện pháp giúp Mỹ thúc đẩy thực thi phán quyết của Tòa Trọng tài mà vẫn giữ thể diện cho Trung Quốc

Ba biện pháp giúp Mỹ thúc đẩy thực thi phán quyết của Tòa Trọng tài mà vẫn giữ thể diện cho Trung Quốc

Tòa Trọng tài đã đưa ra phán quyết và cả thế giới đang theo dõi phản ứng của Mỹ. Liệu phán quyết này có được thực thi hay cứ để cho Trung Quốc phớt lờ phán quyết và nhờ đó tăng cường được cả về vật chất lẫn danh tiếng trước tòa án công luận?

Đọc tiếp...

Những rạn nút trong quan hệ Trung Quốc - ASEAN

Những rạn nút trong quan hệ Trung Quốc - ASEAN

Sự rạn nứt giữa Trung Quốc và ASEAN trong vấn đề Biển Đông ngày càng lớn, nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục giữ thái độ ngoan cố, sẽ làm tổn hại tới quan hệ tốt đẹp giữa Trung Quốc và các nước láng giềng mà trước hết là các nước ASEAN.

Đọc tiếp...

Luật quốc tế và sự ổn định khu vực

Luật quốc tế và sự ổn định khu vực

Mối quan hệ giữa các nước được thiết lập bởi các quy chuẩn, quy định, pháp luật khác nhau, dựa trên sự đồng thuận giữa các nước. Nếu không có sự tuân thủ nhất quán với các quy chuẩn, quy định và pháp luật ấy, trật tự thế giới không bao giờ có được.

Đọc tiếp...

Duterte, an ninh khu vực và Biển Đông

Duterte, an ninh khu vực và Biển Đông

Nếu Duterte đàm phán với Trung Quốc trên quan điểm trái với quyết định của tòa trọng tài thì Philippines sẽ mất niềm tin của các đồng minh, trong đó có Mỹ và Nhật Bản, gây thiệt hại cho an ninh khu vực. Ông Duterte phải hết sức thận trọng trong đàm phán các vấn đề trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông - Rủi ro từ chủ nghĩa dân tốc đối với Trung Quốc

Biển Đông - Rủi ro từ chủ nghĩa dân tốc đối với Trung Quốc

Chủ nghĩa dân tộc trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ là con dao hai lưỡi. Nếu không có khả năng duy trì yêu sách, hoặc nếu không sẵn sàng đáp ứng những lời kêu gọi có hành động cứng rắn, thì Đảng Cộng sản Trung Quốc có nguy cơ bị xem là quá yếu kém. Thậm chí, nếu sức ép về tinh thần dân tộc chủ nghĩa trở nên quá cấp thiết, Chính phủ Trung Quốc có thể bị thúc ép hành động liều lĩnh hơn.

Đọc tiếp...

Nhận diện phản ứng của Trung Quốc đối với phán quyết của PCA

Nhận diện phản ứng của Trung Quốc đối với phán quyết của PCA

Những phản ứng leo thang của Trung Quốc dễ xảy ra nếu họ cảm thấy bị Mỹ và các nước đồng minh dồn vào chân tường. Vì vậy, Philippines cần phải khiêm tốn với chiến thắng của mình và các quốc gia khác cũng nên kiềm chế việc bôi nhọ, cô lập Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Phán quyết của PCA và điều gì xảy ra tiếp theo?

Phán quyết của PCA và điều gì xảy ra tiếp theo?

Trung Quốc có thể trả đũa Philippines, ngăn cản các quốc gia yêu sách khác có dấu hiệu kiện Trung Quốc như Philippines đã làm, cải tạo bãi cạn Scarborough, ngăn cản Philippines tiếp tế bãi Cỏ Mây, đẩy nhanh quân sự hóa các thực thể, thiết lập ADIZ ở Biển Đông, vạch đường cơ sở thẳng ở quần đảo Trường Sa.

Đọc tiếp...

Các lựa chọn chính sách của Mỹ ở Biển Đông

Các lựa chọn chính sách của Mỹ ở Biển Đông

Nếu không kiểm soát được tình hình, chỉ trong 5 năm nữa Bắc Kinh sẽ có một chuỗi các căn cứ, sân bay, quân cảng trên các đảo nhân tạo trên Biển Đông. Mỹ cần phải đưa ra quyết định khó khăn, hoặc chấp nhận hành động của Trung Quốc như một sự đã rồi hoặc kiên quyết chống lại những hành động quyết đoán này.

Đọc tiếp...

Vấn đề Biển Đông: Chính sách đàm phán "kỳ dị" của Trung Quốc

Vấn đề Biển Đông: Chính sách đàm phán

Trung Quốc muốn đạt được điều gì trong các cuộc đàm phán song phương về tranh chấp biển? Phải hiểu cách tiếp cận này như thế nào? Nó cho chúng ta thấy Trung Quốc cần gì, muốn gì và sợ gì? Nó phản ánh cách nhìn nhận của giới lãnh đạo Trung Quốc về thế giới ra sao?

Đọc tiếp...

Cuộc chiến nội bộ của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông

Cuộc chiến nội bộ của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông

Có ba trường phái giữa các nhà phân tích Trung Quốc quanh vấn đề tối ưu hóa các chính sách ở khu vực: hiện thực, cứng rắn và ôn hòa. Các ấn bản học thuật của Trung Quốc, báo cáo truyền thông và các quan điểm trên mạng đang tập trung vào ba luận điểm này. Ba trường phái này biểu hiện sự đa dạng trong quan điểm nội bộ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN đang "trôi dạt" trên biển

ASEAN đang

Thất bại ở Côn Minh trong vấn đề tranh chấp biển kéo dài với Trung Quốc đã làm suy giảm vai trò trung tâm mà ASEAN khó khăn mới giành được. Cả Trung Quốc và ASEAN đều phải có trách nhiệm lấy lại lòng tin, trong nội bộ và cả bên ngoài, điều vốn đã đóng góp rất nhiều cho sự tăng trưởng kinh tế kỳ diệu và tiến bộ của con người trong khu vực.

Đọc tiếp...

Shangri-La 2016: Cuộc chiến của Mỹ với tham vọng biển của Trung Quốc

Shangri-La 2016: Cuộc chiến của Mỹ với tham vọng biển của Trung Quốc

Trung Quốc quyết tâm theo đuổi tham vọng và lợi ích chiến lược ở Biển Đông, nên thách thức lớn nhất đối với Mỹ là tập hợp được sự ủng hộ của khu vực và triển khai các thiết bị quân sự để chống lại chủ nghĩa phiêu lưu của Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Canh bạc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc

Canh bạc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc

Các nước Đông Nam Á đang lo ngại về một chiến lược rõ ràng và đầy quyết tâm của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khi cho rằng ông Tập muốn sử dụng ảnh hưởng về kinh tế để buộc một số quốc gia láng giềng từ bỏ tuyên bố chủ quyền lãnh thổ cả trên đất liền và trên biển.

Đọc tiếp...

Hải quân Ấn Độ trước tham vọng của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương

Hải quân Ấn Độ trước tham vọng của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương

Khi chứng kiến các tàu ngầm Trung Quốc xuất hiện thường xuyên hơn ở Ấn Độ Dương, Hải quân Ấn Độ đang tìm các cách thức mới để giành lợi thế về khả năng chống tàu ngầm. Liệu Hải quân Ấn Độ có thể chống lại một lực lượng tàu ngầm hiện đại của Trung Quốc?

Đọc tiếp...

Làm thế nào để chống lại âm mưu thống trị trên biển của Trung Quốc?

Làm thế nào để chống lại âm mưu thống trị trên biển của Trung Quốc?

Trong một tình thế đang xấu đi này, Mỹ phải thể hiện khả năng lãnh đạo. Để khuyến khích các nhà nước trong khu vực thể hiện rõ với Bắc Kinh rằng cách tiếp cận gia tăng sức mạnh của nước này là phản tác dụng, một loạt phản ứng kiên định và mạnh mẽ hơn của Mỹ là điều cần thiết.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 14865 khách và 2 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập