16 - 1 - 2017 | 14:55
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM CỦA CÁC NƯỚC Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM CỦA CÁC NƯỚC Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

Email In PDF.
Ngày 2/2, Viện nghiên cứu Heritage Foundation của Mỹ công bố báo cáo tựa đề: "Submarine Arms Race in the Pacific: The Chinese Challenge to U.S. Undersea Supremacy", đánh giá về tương quan lực lượng tàu ngầm của các nước ở Thái Bình Dương và sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Sau đây là tóm lược nội dung chính của báo cáo:

1. Đánh giá về tương quan lực lượng tàu ngầm các nước ở Thái Bình Dương
Cán cân lực lượng tàu ngầm thay đổi một cách đáng kể từ Chiến tranh Lạnh đến nay, đặc biệt sau khi Nga giảm phần lớn hoạt động đội tàu ngầm của họ từ những năm 1990, số lượng tàu ngầm của Mỹ cũng đang giảm dần. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp hải quân một cách nhanh chóng, đặc biệt là trang bị thêm nhiều tàu ngầm chiến đấu cho đội tàu ngầm của họ trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay. Việc Mỹ giảm dần đội tàu ngầm chiến đấu của họ khiến lực lượng này trở nên mỏng manh hơn, làm cho Ôxtrâylia và Ấn Độ phải tăng gấp đôi số lượng tàu ngầm để đối phó với việc Trung Quốc tăng cường hải quân. Ngoài ra, các nước như Hàn Quốc, Inđônêxia và Malaixia đang phát triển đội tàu ngầm của họ.


- Lực lượng tàu ngầm của Mỹ:


Số lượng tàu ngầm tấn công của Mỹ đã giảm từ 102 chiếc năm 1987 xuống chỉ còn 53 trong năm 2009. Việc sụt giảm này bắt nguồn từ một số lần điều chỉnh cơ cấu lực lượng của Hải quân Mỹ kể từ thời Tổng thống Reagan kêu gọi sản xuất 100 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN). Kế hoạch năm 1991 của Tổng thống Bush cha kêu gọi duy trì 80 SSN. Báo cáo Quốc phòng bốn năm một lần (QDR) năm 1997 giảm mục tiêu này xuống chỉ còn 50 chiếc SSN. QDR 2001 nhắc lại mục tiêu duy trì 50 SSN. Trong khi đó, QDR 2006 đưa ra mục tiêu tăng việc sản xuất thêm 2 tàu ngầm mỗi năm vào năm 2012 và triển khai 60% lực lượng tàu ngầm tới khu vực Thái Bình Dương nhằm bảo vệ các lợi ích của Mỹ tại đây. Nghiên cứu cơ cấu lực lượng tàu ngầm của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân (JCS) năm 1999 kết luận rằng số lượng tối ưu các tàu ngầm tấn công nhằm đáp ứng tất cả các yêu cầu thu thập tin tức và tác chiến của cộng đồng tình báo và quân sự của Mỹ sẽ là 68 chiếc SSN vào năm 2015 và 76 chiếc SSN vào năm 2025. Một lực lượng bao gồm 55 chiếc SSN vào năm 2015 và 62 chiếc vào năm 2025 sẽ tạo ra nguy cơ tương đối về an ninh. Hiện nay, hạm đội tàu ngầm của Mỹ đang bị dàn trải. Trong khi đó, theo kế hoạch mua sắm dài hạn của Hải quân Mỹ, số lượng SSN sẽ giảm xuống chỉ còn 48 chiếc trong giai đoạn 2022 và 2033 và xuống mức thấp nhất chỉ còn 41 chiếc vào những năm 2028-2029.


Để giải quyết "lỗ hổng" này, Hải quân Mỹ đang cân nhắc giảm thời gian sản xuất tàu ngầm lớp Virginia xuống chỉ còn 60 tháng, kéo dài thời gian phục vụ của một số tàu ngầm lớp Los Angeles thêm 2 năm, và kéo dài việc triển khai một số tàu ngầm từ 6-7 tháng. Nếu như thành công, tất cả những biện pháp này sẽ giúp Hải quân Mỹ duy trì tối đa 44-45 chiếc SSN. Việc giảm sút lực lượng SSN không chỉ tạo ra thách thức đối với việc duy trì khả năng răn đe dưới nước của Hải quân Mỹ mà còn ảnh hưởng tới các nỗ lực tác chiến chống tàu ngầm (ASW). Hiện nay, Hải quân Mỹ có 173 máy bay tuần tiễu P-3C đã cũ kỹ và loại máy bay thay thế P-8A dự kiến sẽ chưa thể đưa vào hoạt động cho đến năm 2013. Hải quân Mỹ cũng đang cho "nghỉ hưu" loại máy bay săn tàu ngầm S-3B Viking và vẫn chưa có kế hoạch thay thế. Ngoài ra, Hải quân Mỹ cũng đang thiếu một hệ thống hiện đại giống như hệ thống định vị bằng âm thanh (SOSUS) để phát hiện các tàu ngầm đối phương. Nhiều hệ thống tương tự triển khai từ thời Chiến tranh Lạnh đã lỗi thời và không có tác dụng trong môi trường tác chiến hiện nay. Hơn nữa, nhiều quốc gia đang triển khai các loại tàu ngầm hiện đại có thể đe dọa các tàu sân bay của Mỹ.


- Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc:


Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, Hải quân Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là hạm đội tàu ngầm. Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc có lực lượng hải quân lớn nhất ở châu Á, bao gồm 6 chiếc SSN và 54 chiếc tàu ngầm tấn công chạy bằng điêzen (SS). Hơn một nửa các tàu ngầm chạy bằng điêzen là các loại tàu ngầm hiện đại lớp Kilo, lớp Tống và lớp Nguyên. Trung Quốc đang trên đường thực hiện mục tiêu xây dựng một lực lượng hải quân nước sâu, có thể tác chiến ngoài khơi xa nước này. Trong giai đoạn từ năm 1995-2005, Trung Quốc đã trang bị cho hải quân nước này 31 tàu ngầm mới. Ước tính hạm đội tàu ngầm tấn công của Trung Quốc trong tương lai sẽ có khoảng từ 58-88 chiếc, phụ thuộc vào việc các loại tàu ngầm cũ ngừng hoạt động sớm hay muộn. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã cho ra mắt bốn loại tàu ngầm mới được thiết kế và sản xuất trong nước là tàu ngầm lớp Tấn (tàu ngầm trang bị tên lửa đạn đạo - SSBN), lớp Thương (SSN), lớp Nguyên (SSP), và lớp Tống (tàu ngầm tấn công chạy bằng điện - SSK). Thế hệ tiếp theo của tàu ngầm lớp Thương cũng đang được chế tạo.


Hạm đội tàu ngầm tấn công của Trung Quốc đã tăng một cách đáng kể số lượng tàu tuần tiễu từ 2 chiếc năm 2006 lên 6 chiếc năm 2007 và 12 chiếc năm 2008. Điều này cho thấy Bắc Kinh đang có sự tập trung mới vào việc huấn luyện và chứng tỏ với các nước khác là Trung Quốc là một cường quốc hàng hải ở Thái Bình Dương. Một số vụ đụng độ với tàu của hải quân Mỹ trên vùng biển Thái Bình Dương trong những năm vừa qua cho thấy tầm hoạt động của tàu ngầm Trung Quốc đã vươn xa hơn và hoạt động có phần hiếu chiến hơn so với trước đây. Giới phân tích cho rằng sở dĩ Trung Quốc mở rộng nhanh chóng lực lượng tàu ngầm tấn công là do một số nguyên nhân như: nhằm đáp ứng nhu cầu phòng thủ, hạn chế khả năng can thiệp của Mỹ vào xung đột hai bờ giữa Đài Loan và Trung Quốc Đại lục, thách thức sự thống trị của Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương, bảo đảm khả năng đánh chặn hạt nhân cũng như tạo cho Trung Quốc vị thế lớn hơn trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Như là một phần của khả năng răn đe hạt nhân, Trung Quốc dự kiến sẽ chế tạo khoảng 5 chiếc tàu ngầm SSBN lớp Tấn, mỗi chiếc được trang bị 12 tên lửa đạn đạo được phóng từ tàu ngầm (SLBM) có khả năng vươn tới lãnh thổ Mỹ từ vị trí bắn ngoài khơi Trung Quốc. Bắc Kinh cũng muốn sử dụng một số tàu SSN để hộ tống việc tuần tra răn đe của SSBN. Rõ ràng Trung Quốc không hề e ngại bộc lộ ý định trở thành một cường quốc toàn cầu và một hạm đội tàu ngầm tấn công mạnh sẽ giúp bảo vệ việc vận chuyển đường biển của Trung Quốc trên toàn thế giới.


- Lực lượng tàu ngầm của các quốc gia khác trong khu vực:


+ Ôxtrâylia: có 6 tàu ngầm chạy bằng điện và điêzen (SSK và SS) và đã có kế hoạch thay thế những chiếc tàu ngầm này bằng 12 tàu hiện đại thông thường được trang bị tên lửa tuần tiễu. Động thái này của Ôxtrâylia rõ ràng là do sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc hải quân và sự suy yếu uy thế hải quân của Mỹ, mà Ôxtrâylia vốn cho rằng đóng một vai trò bình ổn ở trên toàn thế giới, đặc biệt ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.


+ Ấn Độ: Mặc dù về mặt địa lý không phải là quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương, nhưng Ấn Độ cũng đang tăng cường ảnh hưởng ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Ấn Độ có 16 tàu ngầm tấn công chạy bằng điêzen và gần đây đã hạ thủy chiếc SSN đầu tiên. Ấn Độ cũng đang chế tạo 6 tàu ngầm điêzen lớp Scorpene. Việc mở rộng và nâng cấp hạm đội tàu ngầm của Ấn Độ là một phần trong nỗ lực nhằm tăng thêm 100 tàu chiến cho hải quân nước này trong vòng 10 năm tới. Ấn Độ cho rằng chương trình chế tạo tàu chiến là một "nhu cầu chiến lược" của phòng thủ quốc gia, chủ yếu là nhằm đối chọi với việc Trung Quốc tăng cường lực lượng hải quân. Ấn Độ cũng có tham vọng trở thành một nước lớn và lực lượng tàu ngầm là một công cụ quan trọng để thực hiện tham vọng đó.


+ Nga: hạm đội tàu ngầm của Nga đã giảm khoảng 2/3 sau sự sụp đổ của Liên Xô cũ. Trong những năm gần đây, hải quân Nga đã từng bước phục hồi, nhưng vẫn cần thải hàng chục chiếc tàu ngầm hạt nhân tồn lại từ thời Chiến tranh Lạnh. Năm 2009, Nga có 17 chiếc SSN và 20 chiếc SS, trong đó 5 chiếc SSN và 9 chiếc SS thuộc biên chế hạm đội Thái Bình Dương. Tuy nhiên, khó khăn về ngân sách đã hạn chế khả năng của Nga trong việc đại tu thường xuyên các tàu ngầm tác chiến, thậm chí duy trì chúng ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu.


+ Hàn Quốc: có 12 tàu ngầm tấn công và có kế hoạch tăng lên 27 chiếc vào năm 2020.


+ Bắc Triều Tiên: có 22 tàu ngầm tấn công thông thường đã cũ (số lượng tàu còn hoạt động được chưa biết) và nhiều tàu ngầm mini. Về mặt lý thuyết, các tàu ngầm của Bắc Triều Tiên có thể đe dọa các tàu buôn hoặc các tàu chiến bình thường, nhưng không được coi là đối thủ nghiêm trọng trong các hoạt động kiểm soát trên biển.


+ Đài Loan: hiện có 2 chiếc tàu ngầm tấn công và đang có kế hoạch mở rộng và nâng cấp lực lượng này, bao gồm cả tàu chế tạo trong nước.


+ Các nước Đông Nam Á: trong bối cảnh Trung Quốc và Ấn Độ đang triển khai các loại SSN, hầu hết các nước ở Đông Nam Á đã mở rộng và nâng cấp hạm đội tàu ngầm hiện có của họ. Inđônêxia có 2 tàu ngầm và thông báo kế hoạch chế tạo 12 chiếc vào năm 2024. Việt Nam đặt mua 6 tàu ngầm lớp Kilo của Nga. Xinhgapo gần đây đã mua 2 tàu ngầm trang bị hệ thống AIP lớp Archer nhằm thay thế hai chiếc tàu trong tổng số 4 chiếc cũ kỹ. Tháng 10/2007, Malaixia đã nhận được chiếc tàu lớp Scorpene đầu tiên của Pháp và dự kiến sẽ nhận chiếc thứ hai vào năm 2010. Thái Lan chưa có tàu ngầm nhưng cũng bày tỏ tham vọng có một vài chiếc.

2. Một số khuyến nghị nhằm duy trì ưu thế vượt trội dưới biển của Hải quân Mỹ


Trong vòng 16 năm qua, Trung Quốc đã mở rộng nhanh chóng hạm đội tàu ngầm của họ, trong khi đó, Mỹ lại giảm bớt lực lượng này. Các nước bạn bè và đồng minh của Mỹ đã bày tỏ lo ngại về môi trường an ninh chuyển đổi ở Thái Bình Dương. Mỹ đã thừa nhận thực tế cán cân thăng bằng đang chuyển đổi này và đã bắt đầu tìm cách giải quyết. Nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ tại khu vực Đông Á, Thái Bình Dương và hỗ trợ việc trấn an các nước đồng minh trong khu vực, Mỹ cần đảo ngược xu thế giảm bớt đội tàu ngầm hiện nay và cần tăng khả năng chống tàu ngầm của họ. Cụ thể:


- Nhanh chóng đóng thêm các tàu ngầm tấn công. Quốc hội cần thông qua việc tăng mua các tàu ngầm lớp Virginia thêm ít nhất 2 chiếc mỗi năm nhằm mục đích nâng tổng số tàu ngầm tấn công nhanh lên 60 chiếc.


- Rà soát đại tu và hiện đại hóa các tàu ngầm lớp Los Angeles có lựa chọn để kéo dài thời gian phục vụ. Việc đại tu và hiện đại hóa các tàu ngầm sẽ đòi hỏi thêm ngân sách, vì vậy việc kéo dài thời gian phục vụ của các tàu ngầm cũ mà vẫn trong điều kiện hoạt động tốt, thay vì thải đi như kế hoạch đề ra, sẽ giúp thu hẹp "lỗ hổng tàu ngầm" về ngắn hạn với chi phí ít hơn thay vì chế tạo mới.


- Tăng cường thêm các căn cứ tàu ngầm. Bố trí thêm tàu ngầm ở các căn cứ Guam, Hawaii và có thể Nhật Bản - ngoài 3 chiếc SSN hiện có ở Guam - sẽ giúp hạm đội này tiếp cận gần hơn với khu vực Đông Á nơi có thể cần đến chúng nhiều nhất, đồng thời cho phép tối đa hóa thời gian neo đậu và giảm tối thiểu thời gian khởi hành. Hải quân Mỹ cũng cần phải xem xét mua thêm các tàu tiếp liệu cho tàu ngầm.


- Đánh giá lại việc sử dụng các tàu ngầm điêzen. Về ngắn hạn, khi năng lực sản xuất trong nước phát triển, Mỹ có thể mua các tàu ngầm của đồng minh. Phát triển năng lực tàu ngầm thông thường sẽ giúp thúc đẩy việc huấn luyện tác chiến chống ngầm mạnh mẽ hơn và cho phép Mỹ có thể bán các tàu ngầm chạy điêzen tiên tiến cho Đài Loan.


- Nghiên cứu, phát triển và triển khai các phương tiện đa chức năng hoạt động dưới biển. Trang bị các thiết bị không người điều khiển dưới biển (UUV) có thể giúp tăng cường phạm vi, năng lực và khả năng sát thương của các loại vũ khí dưới biển hiện nay. Tuy nhiên, không nên coi các UUV như một sự thay thế các loại tàu ngầm tấn công. Trong tương lai gần, Mỹ cần tiếp tục triển khai các tàu ngầm có người điều khiển, đồng thời nâng cấp và tăng cường năng lực nhằm đối phó với các mối đe dọa tiềm tàng.


- Tăng cường các năng lực tác chiến chống ngầm. Quốc hội cần phân bổ ngân sách đủ và ổn định để tăng cường các năng lực ASW cả về số lượng và chất lượng. Cụ thể có thể mở rộng và đẩy nhanh chương trình P-8 và chế tạo thêm các tàu chiến có khả năng ASW.


- Hợp tác với quân đội của các nước bạn bè và đồng minh nhằm cải thiện năng lực tàu ngầm và ASW của họ. Những nỗ lực này bao gồm tiến hành thường xuyên và mạnh mẽ các cuộc tập trận đa phương, chia sẻ công nghệ và lập kế hoạch chung. Tăng cường năng lực hải quân của các nước bạn bè và đồng minh sẽ cho phép Mỹ hạn chế triển khai các nguồn lực của họ trong các tình huống khẩn cấp và sứ mệnh nhất định nhằm đáp ứng các nhu cầu cấp bách hơn.


- Khuyến khích Trung Quốc minh bạch hơn trong các vấn đề an ninh thông qua các kênh quân sự. Sự minh bạch lớn hơn về quân sự của Trung Quốc sẽ giúp giải quyết hoặc xoa dịu những quan ngại về việc tăng cường sức mạnh hải quân của nước này. Sự hiểu biết lẫn nhau rõ hơn cũng có thể giúp ngăn chặn hoặc tránh các cuộc đụng độ trong tương lai giữa quân đội Mỹ và Trung Quốc./.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Đã đến lúc vượt qua Bắc Kinh ở Biển Đông

Đã đến lúc vượt qua Bắc Kinh ở Biển Đông

Mỹ nhất thiết phải vượt ra ngoài cái gọi là “xoay trục” và “tái cân bằng” tiến tới một sự can dự quân sự toàn diện hơn với khu vực mà có thể được gọi là Chương trình quan hệ đối tác an ninh khu vực.

Đọc tiếp...

Làm thế nào để hạ nhiệt tình hình Biển Đông?

Làm thế nào để hạ nhiệt tình hình Biển Đông?

Trong số những vấn đề phức tạp của quan hệ Trung-Mỹ, không có vấn đề nào nguy hiểm hơn vấn đề tranh chấp chủ quyền trên khu vực Biển Đông. Cần thiết phải có phương thức tránh xung đột giữa hai nước, nhưng đâu là bước đi cần thiết và khả thi?

Đọc tiếp...

Mỹ có nên quá chú trọng vào FONOP?

Mỹ có nên quá chú trọng vào FONOP?

Việc đẩy mạnh quá mức nhận thức của công chúng đối với FONOP có thể dẫn tới việc sử dụng thái quá cách thức này trong khi giới hoạch định chính sách vẫn còn nhiều lựa chọn khác để thúc đẩy tự do hàng hải và hàng không trong khu vực. 

Đọc tiếp...

Tại sao Biển Đông lại là một thử thách quan trọng đối với ASEAN?

Tại sao Biển Đông lại là một thử thách quan trọng đối với ASEAN?

Nếu thất bại trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông, ASEAN sẽ đánh mất sự tín nhiệm của mình ở cấp quốc tế với tư cách là một tổ chức khu vực hiệu quả, và giữa các nước thành viên với tư cách là bên đảm bảo đáng tin cậy cho an ninh và thịnh vượng của các thành viên.

Đọc tiếp...

ASEAN nên làm gì trong tranh chấp Biển Đông?

ASEAN nên làm gì trong tranh chấp Biển Đông?

Trong bối cảnh ASEAN đang phải đối mặt các thách thức từ tranh chấp biển, bài viết đưa ra 3 khuyến nghị về việc làm thế nào để hồi sinh ASEAN: Tăng cường hợp tác và phát triển bên trong ASEAN để thu hẹp khoảng cách lợi ích giữa các nước thành viên; tái định nghĩa thuật ngữ "tham vấn" và "đồng thuận"; trao quyền cho Hội đồng cấp cao ASEAN.

Đọc tiếp...

Tại sao ASEAN không thể thống nhất về vấn đề Biển Đông?

Tại sao ASEAN không thể thống nhất về vấn đề Biển Đông?

Thất bại của ASEAN không chỉ đơn giản là kết quả của nỗ lực của Trung Quốc nhằm chia rẽ các nước thành viên ASEAN. Nhiều yếu tố khác nhau cùng tồn tại ở 3 cấp độ – cấp nhà nước, cấp quốc tế và cấp tổ chức – cùng đóng một vai trò trong việc cản trở sự đoàn kết của ASEAN.

Đọc tiếp...

Cơ chế Giải quyết Tranh chấp của Công ước luật biển và áp dụng cho Biển Đông

Cơ chế Giải quyết Tranh chấp của Công ước luật biển và áp dụng cho Biển Đông

Bài viết đánh giá các xu hướng của tranh chấp Biển Đông và khả năng áp dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước luật biển. Từ đó giúp xác định các lựa chọn hành động tương lai cho các bên trong quản lý và giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Nguyên tắc và phương pháp phân định biển thông qua các án lệ quốc tế

Nguyên tắc và phương pháp phân định biển thông qua các án lệ quốc tế

Bài viết đánh giá tiến trình mà các Tòa án và Tòa trọng tài xử lý các vụ kiện liên quan đến phân định biển với cách tiếp cận ba bước, bao gồm (i) thiết lập đường phân định tạm thời; (ii) xem xét toàn bộ các yếu tố liên quan có ảnh hưởng; và (iii) kiểm tra kết quả. Trên cơ sở đó, bài viết thảo luận về nhiệm vụ của các Tòa án  trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến phân định biển.

Đọc tiếp...

‘Vùng biển tranh chấp’: Hướng tới một khuôn khổ hợp tác chung ở Biển Đông

‘Vùng biển tranh chấp’: Hướng tới một khuôn khổ hợp tác chung ở Biển Đông

Bài viết phân loại các tranh chấp khác nhau trên Biển Đông nhằm phân biệt giữa ‘tranh chấp về các yêu sách trên biển’ và ‘các vùng biển tranh chấp’. Khái niệm thứ hai có lẽ là khái niệm phù hợp cho các đàm phán về phát triển chung trên Biển Đông. Bài viết cũng đưa ra một số câu hỏi cần được trả lời để giúp các bên tranh chấp trên Biển Đông có thể định nghĩa và nhất trí với các vùng, cụ thể là ‘vùng biển tranh chấp’, để phục vụ quá trình phát triển chung.

Đọc tiếp...

Luật biển và quản trị đại dương ở Đông Nam Á: Các bài học so sánh của Châu Âu về tính thực tế và nguyên tắc

Luật biển và quản trị đại dương ở Đông Nam Á: Các bài học so sánh của Châu Âu về tính thực tế và nguyên tắc

Với mục tiêu chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của Châu Âu, bài viết nhấn mạnh một số xu hướng đương đại trong cách tiếp cận của EU đối với vấn đề quản lý nghề cá, bảo vệ môi trường biển, quy hoạch không gian biển, quản trị đại dương cũng như thực tiễn hợp tác của các nước thành viên EU trong việc nộp đệ trình chung cho Ủy ban Ranh giới Thềm Lục địa theo Điều 76 của UNCLOS.

Đọc tiếp...

Hợp tác biển và quản trị đại dương

Hợp tác biển và quản trị đại dương

Bài viết này chủ yếu xem xét Công ước Liên hợp quốc về luật biển (LOSC) làm cơ sở để thảo luận các ý kiến về hợp tác biển và quản lý đại dương. Bài viết chỉ ra các khu vực cụ thể có tồn tại căng thẳng và tập trung đặc biệt vào Biển Đông nói chung, và Indonesia nói riêng.

Đọc tiếp...

Đánh giá an ninh biển tại Đông Nam Á

Đánh giá an ninh biển tại Đông Nam Á

Bài viết cung cấp một cái nhìn tổng quát về an ninh biển tại Đông Nam Á và đưa ra đánh giá về các biện pháp hợp tác đã được tiến hành nhằm ngăn chặn nạn cướp có vũ trang và cướp biển, các sự cố trên biển, tìm kiếm cứu hộ, nhận thức về lĩnh vực hàng hải cũng như chia sẻ thông tin.

Đọc tiếp...

Quy chế pháp lý của các vùng biển và sự suy giảm các quyền tự do trên biển

Quy chế pháp lý của các vùng biển và sự suy giảm các quyền tự do trên biển

Trật tự mà UNCLOS 1982  tạo ra là sự cân bằng khéo léo giữa một bên là quyền của quốc gia ven biển và bên kia là quyền tự do của tất cả các quốc gia khác. Quyền tự do hàng hải tiếp tục là thành tố cơ bản của quyền tự do trên biển, tuy nhiên các quyền tự do này đang ngày càng suy giảm trong những năm gần đây.

Đọc tiếp...

Những bí ẩn về Điều 121 (3): Triển vọng tương lai?

Những bí ẩn về Điều 121 (3): Triển vọng tương lai?

Các toà án và toà trọng tài cho đến nay đã né tránh việc làm rõ thêm đoạn 3 đầy bí ẩn này. Tòa án Công lý Quốc tế cũng chỉ mới vén một phần nhỏ bức màn của điều bí ẩn này, một cách rất tình cờ, chỉ vì các bên đã thống nhất với nhau được về quy chế của thực thể trong vụ việc. Liệu đây có phải là đường hướng tương lai để các tòa án và toàn trọng tài tiếp tục xây dựng và phát triển luật trong lĩnh vực này hay không vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi.

Đọc tiếp...

Địa chính trị hay Địa Thể Chính trị? Hiểu về sự trỗi dậy của Trung Quốc và các hành động của quốc gia này tại Biển Đông

Địa chính trị hay Địa Thể Chính trị? Hiểu về sự trỗi dậy của Trung Quốc và các hành động của quốc gia này tại Biển Đông

Để phân tích về sự trỗi dậy và hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, bài viết đưa ra một cách tiếp cận lý thuyết khác, đó là tập trung vào chính trị bản sắc (địa thể) hay cách thức mà không gian và con người kết nối với  nhau trên khía cạnh sinh - chính trị, đồng thời tìm hiều các nguy cơ có liên quan tới sự tăng cường căng thẳng và hợp tác trong khu vực nói riêng và toàn Đông Á nói chung.

Đọc tiếp...

Ông Trump có thể xoay trục sang châu Á theo cách mà ông Obama chưa từng làm

Ông Trump có thể xoay trục sang châu Á theo cách mà ông Obama chưa từng làm

Hiện nay, không có cường quốc đơn lẻ nào, thậm chí là cả Mỹ, có thể định hình sự phát triển riêng của mình ở châu Á, trong đó có việc bảo đảm trật tự dựa trên luật pháp. Chính quyền của ông Trump sẽ phải hợp tác chặt chẽ với các nước cùng chí hướng  để xây dựng một sự cân bằng quyền lực ổn định ở châu Á.

Đọc tiếp...

Trật tự trên biển hay trên lục địa cho Đông Nam Á và Biển Đông?

Trật tự trên biển hay trên lục địa cho Đông Nam Á và Biển Đông?

Sự vượt trội của Trung Quốc tại Biển Đông, cùng với đó là hoạt động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa, đang tạo ra thách thức đối với việc xây dựng năng lực của hải quân và các lực lượng các cường quốc khác triển khai nhằm đảm bảo một trật tự khu vực mở về kinh tế và chính trị.

Đọc tiếp...

Giữa Lối Hành xử Quyết đoán và Kiềm chế của Trung Quốc: Hiểu Thế nào Về Chính sách Biển Đông của Nước này?

Giữa Lối Hành xử Quyết đoán và Kiềm chế của Trung Quốc: Hiểu Thế nào Về Chính sách Biển Đông của Nước này?

Chính sách về Biển Đông đang thay đổi của Trung Quốc có phải là hành vi cơ hội muốn thống trị toàn khu vực nhân lúc các nước láng giềng không đủ sức kháng cự? Hay chỉ là Trung Quốc đang cố gắng bảo vệ quyền chủ quyền và lợi ích quốc gia của mình mà không làm mất ổn định khu vực?

Đọc tiếp...

Vùng Nhận dạng Phòng Không của Trung Quốc: Xây dựng An ninh bằng Cuộc chiến Pháp lý

Vùng Nhận dạng Phòng Không của Trung Quốc: Xây dựng An ninh bằng Cuộc chiến Pháp lý

Việc Trung Quốc thiết lập ADIZ là một hình thức biểu hiện khác trong bước phát triển đầy nỗ lực về an ninh khu vực ở Đông Á. Thông qua điều được gọi là cuộc chiến pháp lý, Trung Quốc đã công cụ hóa luật pháp về không phận quốc tế, luật biển và luật về sử dụng vũ lực để củng cố học thuyết an ninh toàn diện của mình cả về quân sự cũng như kinh tế.

Đọc tiếp...

Philippine và Úc có thể học được gì từ Việt Nam trong việc chung sống với Trung Quốc?

Philippine và Úc có thể học được gì từ Việt Nam trong việc chung sống với Trung Quốc?

Sự gần gữi về mặt địa lý, sức mạnh tổng thể không phải là yêu tố để Philippines lấy cớ chấp nhận thỏa hiệp với Trung Quốc. Việt Nam, một quốc gia gần về mặt địa lý, có một mối quan hệ lịch sử phức tạp với Trung Quốc nhưng vẫn kiên cường và giữ vững được độc lập chủ quyền của mình? Đâu là lý do để Philippines học hỏi?

Đọc tiếp...

Đã đến lúc ASEAN chống lại chiến thuật nguy hiểm của Trung Quốc

Đã đến lúc ASEAN chống lại chiến thuật nguy hiểm của Trung Quốc

Sự yên tĩnh của Biển Đông đang ngày càng giống với một ảo ảnh. Những người theo chủ nghĩa lạc quan cho đó là sự yên ắng trên bề mặt, nhưng ẩn sâu dưới đó là những rạn nứt ngày càng lớn trong mối quan hệ giữa ASEAN-Trung Quốc.

Đọc tiếp...

CUES và lực lượng bảo vệ bờ biển

CUES và lực lượng bảo vệ bờ biển

Không ai nói rằng lực lượng bảo vệ bờ biển không cần một loại tài liệu CUES để ngăn chặn và quản lý rủi ro của các sự cố liên quan đến tàu chấp pháp dân sự, nhưng lực lượng này có lẽ nên tập trung vào an toàn và sự hiểu biết chung trong việc chấp pháp biển.

Đọc tiếp...

Trường Sa: Địa chính trị của các tuyến đường biển bí mật

Trường Sa: Địa chính trị của các tuyến đường biển bí mật

Việc kiểm soát các tuyến đường này sẽ cho phép một cường quốc biển có thể đe doạ trực tiếp một khu vực quan trọng trên thế giới. Vì vậy, sau phán quyết của toà trọng tài thường trực La Haye, các quốc gia nên trung tính hoá các không gian biển bằng cách đảm bảo tự do hàng hải và ký một hiệp định phi hạt nhân hoá Trường Sa.

Đọc tiếp...

Đảo nhân tạo của Trung Quốc lớn (và đáng sợ hơn) những gì chúng ta tưởng

Đảo nhân tạo của Trung Quốc lớn (và đáng sợ hơn) những gì chúng ta tưởng

Các chuyên gia và giới phân tích của Mỹ phủ nhận tác động tiềm tàng của những đảo nhân tạo đối với cán cân quyền lực ở khu vực. Nhưng sự kết hợp giữa các các năng lực chống hạm và phòng không tiên tiến của Trung Quốc lại gây ra những tác động rất lớn. Washington cần phải nghiêm túc đánh giá và sẵn sàng có phương án đối phó hữu hiệu.

Đọc tiếp...

Phản ứng của Trung Quốc với Phán quyết Biển Đông sẽ dẫn họ tới các cuộc chiến không thể giành phần thắng

Phản ứng của Trung Quốc với Phán quyết Biển Đông sẽ dẫn họ tới các cuộc chiến không thể giành phần thắng

Có rất ít tín hiệu lạc quan rằng Trung Quốc sẽ đón nhận giải pháp hòa bình, đồng thời phớt lờ phán quyết bằng một số xu hướng gây bất ổn. Dù cho cách thức cuối cùng mà Trung Quốc tiến hành là gì, thì nó chắc chắn sẽ đẩy nước này vào một cuộc xung đột với Nhật Bản, Mỹ và thậm chí nhiều nhóm nước khác nữa.

Đọc tiếp...

Leo thang căng thẳng và xung đột địa chính trị ở Biển Đông

Leo thang căng thẳng và xung đột địa chính trị ở Biển Đông

Chưa bao giờ Trung Quốc coi yêu sách về “đường 9 đoạn” là một tuyên bố chủ quyền nghiêm túc, mà thực tế đây chỉ là chính sách “câu giờ” trong “chiến lược mơ hồ” được Bắc Kinh theo đuổi ngay từ đầu nhằm có đủ thời gian và không gian ngoại giao cho triển khai và tăng cường hiện diện quân sự tại những điểm quan trọng trong khu vực.

Đọc tiếp...

Về hoạt động quân sự trên Thềm lục địa

Về hoạt động quân sự trên Thềm lục địa

Bài viết này sẽ bổ sung thêm sự đúng đắn cho quyết định của Tòa bằng cách phân biệt giữa các hoạt động quân sự nước ngoài hợp pháp trên thềm lục địa của một quốc gia, và hoạt động bất hợp pháp của một quốc gia nước ngoài trên thềm lục địa có ảnh hưởng đến quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với tài nguyên của quốc gia.

Đọc tiếp...

Liệu rằng một hòn đảo nhỏ ở Biển Đông có thể giúp Bắc Kinh thiết lập bá quyền trên biển?

Liệu rằng một hòn đảo nhỏ ở Biển Đông có thể giúp Bắc Kinh thiết lập bá quyền trên biển?

Các chuyên gia cho rằng Bãi cạn Scarborough mới là điểm mấu chốt trong nỗ lực để củng cố “gọng kìm thép” của Trung Quốc ở Biển Đông.Việc xây dựng trên Bãi Scarborough sẽ tạo nên một “tam giác chiến lược” lớn bao gồm đảo Phú Lâm và các tiền đồn khác của Trung Quốc trên Trường Sa, cho phép Bắc Kinh có khả năng kiểm soát ADIZ trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Hải chiến Hoàng Sa năm 1974 - Một Đánh giá về mặt Chiến dịch

Hải chiến Hoàng Sa năm 1974 - Một Đánh giá về mặt Chiến dịch

Điều đáng lưu ý là trong cuộc chiến này, Trung Quốc đã triển khai kết hợp các lượng lượng thông thường và không chính quy để đạt được các mục tiêu tác chiến của mình, và hiện tại Trung Quốc vẫn đang sử dụng sự kết hợp này. Do đó, các nhà hoạch định chính sách cần phải chú tâm đến quá khứ hải chiến của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc, Mỹ và Luật biển

Trung Quốc, Mỹ và Luật biển

Quan điểm của Mỹ và Trung Quốc về UNCLOS là gì, cụ thể những bất đồng chính giữa các bên là gì? Bài viết sau đấy sẽ cố gắng giải đáp cho các câu hỏi này dựa trên hàng loạt tài liệu trong các sách luật và bài báo về quan điểm của Mỹ và Trung Quốc đối với luật biển, các tuyên bố chính thức cũng như chính bản thân UNCLOS.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 3467 khách Trực tuyến

Đăng nhập