19 - 6 - 2018 | 13:31
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Email In PDF.

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Quan hệ Ấn Độ-Việt Nam đã được nâng lên tầm cao mới với chuyến thăm thành công của Chủ tịch nước Trần Đại Quang đến Ấn Độ từ 2-4/3, trong đó một số thỏa thuận quan trọng đã được ký kết. Đây là chuyến thăm đầu tiên của ông tới Ấn Độ với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam. Tháp tùng Chủ tịch nước là phái đoàn 18 thành viên, trong đó có Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng. Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông. Chuyến thăm cũng được đánh dấu bởi những bản ghi nhớ (MoU) mang tính bước ngoặt trong hợp tác hạt nhân dân sự và phát triển cảng. Điều này cho thấy Hà Nội hoan nghênh quan hệ đối tác quốc phòng với Ấn Độ. 

Trước động thái hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông, Ấn Độ và Việt Nam đều xác định an ninh hàng hải là một trong những lĩnh vực chủ chốt mà họ cần hợp tác. Ba hiệp định quan trọng đã được ký kết, trong đó có một thỏa thuận về hợp tác hạt nhân, những thỏa thuận đạt được sẽ thúc đẩy thương mại và nghiên cứu nông nghiệp giữa hai nước. Hai bên cũng đã ký bản ghi nhớ về hợp tác giữa Trung tâm năng lượng hạt nhân toàn cầu (GCNEP) của Ấn Độ và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) sau cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Modi và Chủ tịch Trần Đại Quang nhằm tăng cường hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử phục vụ mục đích hòa bình. Năm 2016, Ấn Độ và Việt Nam đã ký một thỏa thuận về hợp tác hạt nhân dân sự và bản ghi nhớ lần này sẽ tăng cường khả năng hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu. 

Biển Đông là một điểm nóng chính tiềm ẩn nguy cơ gây ra xung đột lớn. Trong khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền gần như hoàn toàn đối với khu vực này, một số quốc gia khác cũng tuyên bố chủ quyền đối với một số phần dẫn tới chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế. Mặc dù Ấn Độ không liên quan trực tiếp đến tuyên bố chủ quyền tại khu vực, nhưng nước này lại quan tâm nhiều đến hoạt động của Trung Quốc trong việc kiểm soát khu vực không gian đại dương là nơi giao thương hàng hóa trị giá hàng nghìn tỷ USD mỗi năm này. Ấn Độ cũng có lợi ích kinh tế riêng khi tham gia cùng Việt Nam thăm dò dầu khí ở khu vực ngoài khơi bờ biển Việt Nam thuộc Biển Đông. Dự án được Tập đoàn ONGC Videsh của Ấn Độ và Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN) thực hiện. Ấn Độ sẽ không ngồi yên và không thể không can thiệp để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình nếu lợi ích này bị một nước thứ ba đe dọa. Đây chính là lý do cho nền tảng hợp tác chung Ấn Độ-Việt Nam. Tuyên bố chung cho biết Chủ tịch nước Trần Đại Quang hoan nghênh các doanh nghiệp Ấn Độ mở rộng hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên đất liền, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. 

Trung Quốc phản đối nhưng điều đó không có giá trị pháp lý đối với các hoạt động thăm dò dầu khí của Ấn Độ. Tháng 1/2018, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã phản ứng với lời mời của Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ về việc tăng cường các dự án thăm dò chung tại khu vực chủ quyền của Việt Nam. Trung Quốc cảnh báo Ấn Độ rằng sự tham gia của Ấn Độ vào các dự án không được coi là "cái cớ để xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông và làm tổn hại hòa bình và ổn định ở khu vực". Nhìn nhận vấn đề một cách nghiêm túc, Thủ tướng Modi tuyên bố Ấn Độ và Việt Nam sẽ không chỉ tăng cường quan hệ song phương trong lĩnh vực dầu khí mà sẽ còn "làm việc cùng các nước khác về các khả năng ba bên" trong lĩnh vực hàng hải. Có thể suy đoán rằng ông Modi đã nghĩ đến Nhật Bản với sự hội tụ lợi ích của ba nước này trong các vấn đề an ninh khu vực. Vì vậy, cả Thủ tướng Modi và Chủ tịch nước Trần Đại Quang đều bày tỏ cam kết đảm bảo duy trì tôn trọng chủ quyền và luật pháp quốc tế. Đây rõ ràng là một sự liên hệ gián tiếp đến những hoạt động liên tục của Trung Quốc chống lại các quốc gia láng giềng trong các vấn đề liên quan đến Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam. Đối với Ấn Độ, Việt Nam có một vị trí quan trọng đối với chính sách "Hành động phía Đông" trong khuôn khổ tổng thể các mối quan hệ của Ấn Độ với 10 quốc gia ASEAN. 

Cuộc thảo luận giữa Thủ tướng Modi và Chủ tịch nước Trần Đại Quang cho thấy hai bên đã dựa trên những tuyên bố trước đây về an ninh hàng hải ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và nhắc lại tầm quan trọng của các tuyến đường biển tự do và rộng mở. 

Mặc dù không có thỏa thuận nào được ký kết trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng nhưng hai nước dự kiến sẽ tiếp tục làm việc để hoàn thành việc giải ngân gói tín dụng 100 triệu USD mà Ấn Độ cam kết dành cho Việt Nam, trong đó có việc sử dụng để mua sắm thiết bị tuần tra ngoài khơi (OPV) trong khi vẫn tiếp tục đàm phán về hệ thống tên lửa đất đối đất và đất đối không Akash (SR-SAM) và máy bay trực thăng tiên tiến hạng nhẹ ALH Dhruv. Việt Nam cũng từng nhiều lần thể hiện mong muốn mua các tên lửa siêu thanh BrahMos của Ấn Độ. Cả Thủ tướng Modi và Chủ tịch nước Trần Đại Quang đều nhất trí tăng cường khả năng hợp tác sản xuất và cơ hội chuyển giao công nghệ trong sản xuất quốc phòng. Sự hợp tác quân sự giữa quân đội hai nước cũng đang diễn ra. Hai nước cũng nhất trí tăng cường quan hệ trong các lĩnh vực khác nhau như năng lượng tái tạo, nông nghiệp, dệt may và xăng dầu. 

Hai bên cũng đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác kinh tế và thương mại nhằm thiết lập một cơ chế tăng cường xúc tiến kinh tế và thương mại. Về mặt thương mại, cả hai đang phấn đấu đưa thương mại song phương lên 15 tỷ USD vào năm 2020. Từ năm 2016-2017, kim ngạch thương mại song phương đạt mức 6,24 tỷ USD, tăng 40% so với năm trước. Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhấn mạnh cam kết của Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực từ công nghệ thông tin đến cơ sở hạ tầng. Trong tuyên bố chung, hai bên đã nhất trí tổ chức cuộc họp tiếp theo của Tiểu ban thương mại hỗn hợp Việt Nam-Ấn Độ tại Hà Nội vào thời gian sớm nhất trong năm 2018. Tuyên bố chung cho biết: "Với mục tiêu phát huy mọi tiềm năng để tăng kim ngạch thương mại cả về giá trị và đa dạng các mặt hàng, hai bên nhất trí giao cho các cơ quan hữu quan hai nước tìm kiếm các biện pháp cụ thể và thiết thực nhằm đạt mục tiêu kim ngạch thương mại 15 tỷ USD vào năm 2020, bao gồm các biện pháp như: sử dụng hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương đã thiết lập, tăng cường trao đổi đoàn, tiếp xúc giữa các doanh nghiệp, chia sẻ thông tin, hạn chế áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại và hàng rào phi thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu của nhau, tổ chức thường xuyên các hội chợ, triển lãm ở mỗi nước". Hai nhà lãnh đạo đề nghị các doanh nghiệp hai bên tìm kiếm những cơ hội đầu tư kinh doanh mới trong những lĩnh vực hợp tác ưu tiên. 

Một kế hoạch làm việc giai đoạn 2018-2022 giữa Hội đồng Nghiên cứu Nông nghiệp Ấn Độ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cũng đã được ký kết. Mục đích của kế hoạch làm việc này là thúc đẩy hợp tác trong việc chuyển giao công nghệ và trao đổi của các chuyên gia kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp. Việt Nam đồng ý xem xét đề nghị của Ấn Độ về việc ký Hiệp định khung của Liên minh Năng lượng mặt trời quốc tế để tăng cường hợp tác trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. 

Khi Thủ tướng Modi thăm Việt Nam vào năm 2016, "quan hệ đối tác chiến lược" Ấn Độ-Việt Nam đã được nâng lên thành "đối tác chiến lược toàn diện". Chủ tịch nước Trần Đại Quang cam kết tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác này. Năm 2016, Thủ tướng Modi đã thông báo tài trợ 5 triệu USD cho Việt Nam xây dựng Công viên Phần mềm quân đội tại Đại học Viễn thông ở Nha Trang. Một khoản tín dụng 100 triệu USD cũng đã sẵn sàng được giải ngân cho 8 tàu tuần tra ngoài khơi Việt Nam. Tháng 2/2018, quân đội hai nước đã lần đầu tiên thực hiện cuộc tập trận chung. Việt Nam cũng mua thiết bị quân sự cho hải quân và không quân của mình. Tuy nhiên, dù Việt Nam tỏ ra quan tâm đến việc mua tên lửa siêu thanh Brahmos của Ấn Độ nhưng thỏa thuận này không có nhiều tiến triển. Các cuộc đàm phán về các điều khoản và điều kiện vẫn đang được tiến hành. 

Thực tế một phái đoàn gồm 65 doanh nhân đến từ 34 công ty của Việt Nam tháp tùng Chủ tịch nước Trần Đại Quang tới Ấn Độ và tiếp xúc với các doanh nhân Ấn Độ nổi tiếng cho thấy Việt Nam đang muốn tăng cường quan hệ kinh tế và thương mại với Ấn Độ. Liên quan đến lĩnh vực thương mại, trong khi Việt Nam xuất khẩu sang Ấn Độ nhiều sản phẩm chế tạo như điện thoại di động, máy móc và máy tính, thì hàng xuất khẩu của Ấn Độ vào thị trường Việt Nam bao gồm máy móc, nguyên liệu dệt, hải sản và thuốc. Bất chấp nỗ lực của cả hai bên, giá trị thương mại đã không đạt như mong đợi. 

Ấn Độ vẫn tiếp tục là một trong 10 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Mặc dù tổng giá trị thương mại song phương thấp hơn mức mong muốn nhưng trong thập kỷ qua trung bình mỗi năm đã tăng 16% và đây là một thành tựu. Nhiều công ty lớn của Ấn Độ đã thiết lập và mở rộng hoạt động tại Việt Nam. Cũng không thể bỏ qua thực tế là Ấn Độ đã ưu tiên cho Việt Nam trong hợp tác phát triển, giáo dục đào tạo và tập trung vào các lĩnh vực như khoa học công nghệ, thông tin và truyền thông. 

Đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam vẫn còn rất thấp. Ấn Độ đứng thứ 28 trong số 126 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam trong năm 2017 với 168 dự án và tổng vốn đăng ký 756 triệu USD. Nhiều tập đoàn lớn của Ấn Độ, bao gồm Tata, ONGC và Essar đã tạo được danh tiếng ở Việt Nam. Việt Nam kỳ vọng thêm các khoản đầu tư từ Ấn Độ để đạt được mục tiêu thương mại song phương đạt 15 tỷ USD vào năm 2020. Sức mạnh của Ấn Độ trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, sản xuất, công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng có thể sức hấp dẫn đối với Việt Nam. Cả hai nước cần tăng cường kết nối song phương và khu vực cũng như kết nối cơ sở hạ tầng như liên kết hàng không, đường bộ, kết nối hàng hải và kết nối số. Dưới "Chính sách hướng Đông" của Thủ tướng Modi, lĩnh vực này là những dự án được ưu tiên và sẽ góp phần đóng góp cho mối quan hệ hai bên cùng có lợi khi các nguồn năng lượng của hai nước được giải phóng. Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang nên được xem xét từ quan điểm này.

Giáo sư Rajaram Panda thuộc Hội đồng quan hệ văn hóa Ấn Độm hiện giảng dạy tại Đại học Reitaku Nhật Bản. Bài viết được đăng trên Daily Piooner.

Trần Quang (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc - cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua - đều có tác động nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và tâm lý đối với khu vực.

Đọc tiếp...

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Trong thời gian từ giờ đến năm 2025, có khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách hiện tại, tức là từng bước củng cố quyền kiểm soát đối với các biển Hoa Đông và Biển Đông đồng thời tuyên bố các ý định hòa bình của nước này và viện đến lịch sử như một lời biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của nước này. Nước này sẽ tiếp tục tăng cường sự hiện diện của các tàu cảnh sát biển và tàu đánh cá với khả năng phòng thủ có vũ trang.

Đọc tiếp...

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Trong 20 năm qua, Bắc Kinh đã gặt hái được một số thành công trong việc thay đổi hiện trạng khu vực bằng chính sách láng giềng tốt. Nhưng rắc rối trong vấn đề Biển Đông dường như lại ngăn cản quá trình thực hiện những tham vọng của chủ nghĩa xét lại đối với khu vực trong những thập kỷ tới.

Đọc tiếp...

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc về vấn đề Biển Đông

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc  về vấn đề Biển Đông

Bản sắc kép của Trung Quốc là nguyên nhân cho  các tranh luận và mơ hồ về chiến lược trong nội bộ về vấn đề Biển Đông. Thêm vào đó, Trung Quốc chưa xác định liệu rằng vấn đề Biển Đông có thuộc lợi ích quốc gia cốt lõi của mình hay không cũng như chưa giải quyết được câu hỏi về thứ tự ưu tiên giữa các yêu sách trên Biển Đông và quan hệ Trung – Mỹ.

Đọc tiếp...

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Nhiều thực thể đảo (đảo/đá) và bãi cạn nửa nổi nửa chìm (đá ngầm, bãi cạn) ở Biển Đông từ lâu là đối tượng chú ý và tranh chấp của các nước khu vực. Bài viết sẽ tập trung vào hai vấn đề chính: (a) các quốc gia ven biển đã tuyên bố và hành động như thế nào đối với các thực thể đảo ở Biển Đông; (b) và một số đánh giá về địa vị pháp lý các thực thể này.

Đọc tiếp...

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Trong thời điểm mà cạnh tranh địa chính trị và chuyển giao quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương đang ngày càng gay gắt, lợi ích quốc gia của Anh không nên chỉ gói gọn trong việc theo chân các đồng minh quyền lực nhất mà phải đảm bảo rằng lợi ích của họ sẽ không ảnh hưởng tới lợi ích nền tảng của các quốc gia đồng minh.

Đọc tiếp...

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Trước những nguy cơ chiến lược tại Biển Hoa Đông và Biển Đông mà châu Âu, nhất là Pháp đang đối mặt, Pháp buộc phải dành lại sự quan tâm của mình đối với khu vực này.

Đọc tiếp...

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá  và hợp tác môi trường ở Biển Đông

Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông” là sản phẩm đầu tiên của Nhóm chuyên gia về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Mỹ (CSIS) điều phối. Mục đích của Bản Kế hoạch này là cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.

Đọc tiếp...

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Indonesia và Việt Nam cho thấy rằng có thể phân chia rạch ròi giữa việc cương quyết bảo vệ chủ quyền và quyền của một nước trên Biển Đông. Đã đến lúc Manila và Kuala Lumpur phải học hỏi từ những người hàng xóm của mình về cách đứng lên chống lại các chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh thông qua một quyết tâm được thể hiện rõ ràng.

Đọc tiếp...

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đã kêu gọi đất nước sẵn sàng cho một cuộc "chiến tranh nhân dân" trên biển. Các nhà lãnh đạo khu vực và Washington không được xem nhẹ những phát ngôn của Thường Vạn Toàn.

Đọc tiếp...

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Mìn được coi là “ninja” trong các cuộc chiến tranh, bởi tính chất thầm lặng, chí mạng và có phần khủng khiếp của nó. Vũ khí thầm lặng này không chỉ hiệu quả trong việc gây ra những thiệt hại nặng nề mà còn reo rắc nỗi sợ hãi và bất ổn.

Đọc tiếp...

Những thăng trầm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Những thăng trầm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Bài viết này sẽ xem xét phạm vi và các hạn chế trong việc giải thích cơ chế giải quyết tranh, đặc biệt là trong Vụ kiện ra Tòa Trọng tài về Biển Đông. Nghiên cứu sẽ đặt ra câu hỏi về phạm vi của cơ chế giải quyết tranh chấp theo phần XV của UNCLOS và hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Philippines đối mặt với thực tế mới ở Biển Đông

Philippines đối mặt với thực tế mới ở Biển Đông

Cách duy nhất mà Philippines có thể đối phó với Trung Quốc là phải tăng cường các mối liên minh của mình, không chỉ là quan hệ với Mỹ. Philippines có các mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và nhiều nước khác.

Đọc tiếp...

Không có Brexit từ Biển Đông

Không có Brexit từ Biển Đông

Những tuyên bố gần đây của các quan chức cấp cao Anh liên quan đến việc triển khai tàu chiến của nước này tới vùng Biển Đông tất nhiên đã gây ra một phản ứng mạnh mẽ từ Trung Quốc. Tuy nhiên không giống như Mỹ, Anh không có chương trình tự do hàng hải.

Đọc tiếp...

Không có COC thực chất?

Không có COC thực chất?

Trung Quốc có thể sẽ chấp nhận COC một khi họ thành công trong việc đạt được mục tiêu của mình trên Biển Đông. Đến lúc đó, COC sẽ thực sự chẳng còn ý nghĩa.

Đọc tiếp...

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Ngày 6/8/2017 tại Manila, Ngoại trưởng các nước ASEAN và Trung Quốc đã thông qua dự thảo khung COC. Nội dung của dự thảo khung và ý nghĩa đằng sau một số ngôn từ được sử dụng là gì? Những nội dung nào còn chưa được đề cập?

Đọc tiếp...

Năm trụ cột chiến lược của Mỹ tại Biển Đông

Năm trụ cột chiến lược của Mỹ tại Biển Đông

Chiến lược của Mỹ tại Biển Đông nên được triển khai dựa vào 5 trụ cột chính sau đây: luật pháp quốc tế, chính sách ngăn chặn, chính sách khuyến khích, cam kết ngoại giao và tập trung vào việc lấy ASEAN làm trung tâm.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 6684 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin