Ấn Độ và Biển Đông

Thứ ba, 06 Tháng 3 2018 15:13
In

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Các tranh chấp đang diễn ra tại Biển Đông được coi là một trong những xung đột khu vực lâu dài và phức tạp nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Các tranh chấp liên quan đến Trung Quốc cùng với một số quốc gia trong khu vực và bao gồm các vấn đề như tuyên bố chủ quyền lãnh thổ chồng lấn và tiếp cận các nguồn tài nguyên quan trọng như năng lượng và thủy sản. Trong môi trường khó kiểm soát này, Ấn Độ đã và đang mở rộng tầm ảnh hưởng của mình thông qua việc thực hiện "Chính sách hướng Đông" của mình (LEP). Trung Quốc, nước đã nhiều năm cố kiềm chế sự can dự gia tăng của New Delhi vào Biển Đông, đã không để tâm đầy đủ đến điều này. Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp như vậy, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển của nó. 

Biển Đông nằm trong một khu vực có lợi ích chiến lược lớn đối với Ấn Độ. Về mặt địa lý, nó nối liền Ấn Độ Dương và biển Hoa Đông qua eo biển Malacca, là một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất trên thế giới. Đường thủy quan trọng này đóng vai trò như một đường huyết mạch kinh tế quan trọng cho quốc gia Nam Á này. Có đến 97% tổng khối lượng thương mại quốc tế của Ấn Độ là đi đường biển, trong đó một nửa đi qua eo biển nói trên. Ngoài ra, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ, với tổng kim ngạch thương mại trị giá 71 tỷ USD trong năm 2016-2017. 

Năng lượng là một yếu tố khác mà Ấn Độ quan tâm ở Biển Đông. Năm 2015, Ấn Độ trở thành nước tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ ba trên thế giới, với các chuyên gia trong ngành dự đoán mức tiêu thụ năng lượng của nước này sẽ tiếp tục tăng 4,2% mỗi năm. 80% tổng nhu cầu dầu mỏ của Ấn Độ là từ nhập khẩu nên nước này nhiều khả năng sẽ cần phải đảm bảo các nguồn năng lượng mới khi nhu cầu trong nước tăng lên. Các trữ lượng năng lượng tiềm năng ở Biển Đông đã thu hút được sự quan tâm của New Delhi. Trong năm 2013, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) ước tính khu vực này có thể chứa tới 11 tỷ thùng dầu và 19.000 tỷ feet khối khí đốt dự trữ. Như vậy, Ấn Độ đã và đang liên tục tham gia các dự án phát triển năng lượng ngoài khơi ở Biển Đông kể từ đầu những năm 1990, đấu thầu các lô dầu khí mới và tiến hành thăm dò dầu mỏ trong khu vực này. 

Tầm quan trọng kinh tế của khu vực này đã chuyển thành lợi ích an ninh quốc gia đối với New Delhi. Với một nửa thương mại đường biển của mình đi qua eo biển Malacca, bất kỳ sự bất ổn nào ở Biển Đông sẽ tác động tiêu cực đến các tuyến đường vận chuyển và gây ảnh hưởng đến kinh tế Ấn Độ. Tương tự như vậy, nếu một sức mạnh tiềm ẩn khả năng thù địch đến kiểm soát khu vực này, nó có thể đe dọa việc Ấn Độ tiếp cận tuyến đường biển sống còn này. Do đó sự tham gia của New Delhi vào Biển Đông tập trung vào ba mục tiêu. Thứ nhất, để đảm bảo hòa bình và ổn định trong khu vực và giữ cho các tuyến đường biển sống còn này luôn rộng mở; thứ hai, để duy trì quan hệ thân thiết với các cường quốc khu vực; và thứ ba, để đảm bảo rằng không có sức mạnh bên ngoài hung hăng tiềm ẩn nào chi phối khu vực này. 

Thông qua LEP, New Delhi đã theo đuổi các mục tiêu này bằng cách tìm kiếm tăng cường can dự với các quốc gia ASEAN. Bên cạnh tăng cường hợp tác kinh tế, hợp tác chiến lược đã được mở rộng thông qua các cuộc tập trận chung, các khoản tín dụng hào phóng, huấn luyện quân sự và bán vũ khí quân sự cho các nước trong khu vực. Hơn nữa, sự hiện diện mạnh mẽ các “tài sản” quân sự của Ấn Độ trong khu vực không chỉ để bảo vệ các tuyến đường biển này mà còn mang lại "nhận thức lĩnh vực" về những phát triển tiềm năng của khu vực. 

Sự can dự này cũng là để đối phó với tầm ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực. Mối quan hệ của Ấn Độ với người hàng xóm khổng lồ của mình là khó khăn và mong manh. Cả hai bên đều bị lôi kéo vào một cuộc tranh chấp biên giới kéo dài, từng dẫn đến một cuộc chiến tranh vào năm 1962 và cho đến ngày nay, vẫn là nguồn gốc căng thẳng đôi lúc dẫn đến những cuộc khủng hoảng. Điều này đã duy trì cảm giác nghi ngờ và không tin tưởng giữa hai nước. Như cuộc đối đầu ở Doklam trong năm 2017 cho thấy cuộc xung đột giữa hai bên vẫn là một viễn cảnh thực sự. Do đó, theo quan điểm của New Delhi, điều cấp bách là Biển Đông không trở thành một cái "hồ của Trung Quốc". 

Kiềm chế những tranh chấp lãnh thổ trong khu vực đòi hỏi phải có nhận thức ngoại giao khôn ngoan và cân bằng tinh tế từ Ấn Độ. Một mặt, quốc gia Nam Á này muốn duy trì quan hệ hữu nghị với các bên có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông; mặt khác, nước này phải tránh gây kích động thái quá cho người láng giềng Trung Quốc của mình. Theo quan điểm của New Delhi, trong khi các hoạt động như thăm dò năng lượng và bán vũ khí cho khu vực sẽ bị Bắc Kinh phản ứng thì những việc mạo hiểm như trên sẽ khó có thể gây ra gì hơn ngoài một tuyên bố của Trung Quốc. Quan điểm về những tranh chấp lãnh thổ là vấn đề khác. Trung Quốc đã nhiều lần miêu tả Biển Đông là một "lợi ích cốt lõi", cho thấy sẵn sàng sử dụng vũ lực để bảo vệ các tuyên bố của mình. Do đó, quan điểm của Ấn Độ về vấn đề này là một sự mơ hồ có chủ ý - không thiên vị bất kỳ bên nào mà thay vào đó ủng hộ tự do hàng hải và giải quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Về phán quyết của Tòa trọng tài liên quan tới tranh chấp ở Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc năm 2016, Ấn Độ, không đứng về bên nào trong tranh chấp này, đã kêu gọi tất cả các bên tôn trọng và duy trì phán quyết của tòa án dựa trên UNCLOS. 

Tuy nhiên, những diễn tiến gần đây ở Biển Đông là nguồn cơn khiến New Delhi quan ngại. Trung Quốc, nước tuyên bố chủ quyền đối với 85% khu vực tranh chấp này, đã và đang xây dựng và quân sự hóa các cấu trúc mà nước này chiếm hữu. Từ năm 2013 đến năm 2016, Trung Quốc được cho là đã xây dựng 7 hòn đảo và dựng các cơ sở quân sự gồm các sân bay, hệ thống radar và các căn cứ tên lửa trên các đảo chiếm hữu được cải tạo trong khu vực. Hơn nữa, các tàu của Trung Quốc trong khu vực này đã được biết là hành động hung hăng, quấy rối và đe dọa tàu của các quốc gia khác đi vào gần các đảo mà họ tuyên bố có chủ quyền. Đáp lại, những bên tuyên bố có chủ quyền ở Biển Đông khác cũng đã bắt đầu tăng cường khả năng răn đe trên các hòn đảo của mình với cơ sở hạ tầng như phòng thủ ven bờ, sân bay và các hệ thống giám sát. Thay vì hòa bình, những hành động như vậy đã gây ra căng thẳng và làm mất ổn định khu vực. 

Ngay cả Mỹ, từng là bên đề xuất mạnh mẽ về "tự do hàng hải" trong khu vực, đã giúp đỡ rất ít cho Ấn Độ. Trong năm đầu tiên nhậm chức, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã không thể hiện sự sẵn sàng thách thức Bắc Kinh về hành vi của họ ở Biển Đông. Chính quyền mới dường như thiếu một chính sách rõ ràng đối với Biển Đông, thay vào đó là tập trung vào Triều Tiên. Tuy nhiên gần đây hơn, có những dấu hiệu cho thấy có thể có thay đổi. Vào cuối năm 2017, cuộc đối thoại an ninh bộ tứ từng có trước đây - một quan hệ đối tác quốc phòng liên quan đến Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Úc - đã bất ngờ xuất hiện trở lại, cho thấy lo ngại ngày càng gia tăng đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chiến lược quân sự của Mỹ được công bố gần đây cho thấy sự thay đổi trọng tâm đối với Trung Quốc và Nga. Mặc dù vẫn còn quá sớm để nói kế hoạch này sẽ được thực hiện tốt như thế nào trong chính quyền hiện nay nhưng Mỹ nhiều khả năng sẽ tìm kiếm các mối quan hệ gần gũi hơn với Ấn Độ như là một đối trọng với sự thống trị trong khu vực của Trung Quốc. Hơn nữa, nó cũng có thể báo hiệu sự quan tâm mới của Washington để ngăn chặn hành vi của Bắc Kinh ở Biển Đông. 

Tương lai nào cho Biển Đông? Quyết định của New Delhi mới đây mời tất cả 10 lãnh đạo của các nước ASEAN (tham dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ đối tác đối thoại Ấn Độ-ASEAN và dự lễ kỷ niệm Ngày Cộng hòa) cho thấy ý định của họ là thúc đẩy chính sách tăng cường quan hệ với khu vực. Chính sách của Bắc Kinh ở Biển Đông cũng dường như khó có thể thay đổi. Nước này đã làm lung lay quan điểm của các nước như Malaysia và Philippines, những nước đã mềm mỏng lập trường của mình và chọn tập trung vào hợp tác với gã khổng lồ châu Á này. Dù có hay không có Mỹ, Ấn Độ vẫn phải tiếp tục tăng cường quan hệ với khu vực này và đóng một phần vai trò trong việc quản lý vùng biển khó kiểm soát này.

Byron Chong, nhà nghiên cứu chuyên về quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ và an ninh quốc tế tại châu Á thuộc Trung tâm về châu Á và Toàn cầu hóa, Trường chính sách công Lý Quang Diệu. Bài viết được đăng trên Trung tâm về châu Á và Toàn cầu hóa.

Văn Cường (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: