18 - 10 - 2018 | 18:44
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Email In PDF.

Nhiều thực thể đảo (đảo/đá) và bãi cạn nửa nổi nửa chìm (đá ngầm, bãi cạn) ở Biển Đông từ lâu là đối tượng chú ý và tranh chấp của các nước khu vực. Bài viết sẽ tập trung vào hai vấn đề chính: (a) các quốc gia ven biển đã tuyên bố và hành động như thế nào đối với các thực thể đảo ở Biển Đông; (b) và một số đánh giá về địa vị pháp lý các thực thể này.

 

Tóm tắt

Nhiều thực thể đảo (đảo/đá) và bãi cạn nửa nổi nửa chìm (đá ngầm, bãi cạn) ở Biển Đông từ lâu là đối tượng chú ý và tranh chấp của các nước bao gồm Brunei, Trung Quốc (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung hoa Dân Quốc - Đài Loan), Malaysia, Philippines và Việt Nam. Bài viết sẽ xem xét các thực thể nói trên từ góc độ luật biển và đưa ra khái quát chung về các nguyên tắc pháp lý quốc tế áp dụng đối với các đảo, đá và bãi cạn nửa nổi nửa chìm dựa trên Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, tập quán pháp và quá trình phân xử quốc tế. Sau đó, tác giả xem xét hành động và tuyên bố của các quốc gia ven biển đối với các thực thể đảo ở Biển Đông, và đưa ra một số đánh giá trong bối cảnh Vụ kiện Trọng tài của Philippines và Trung Quốc.

Từ khóa: Biển Đông - đảo - đá - bãi cạn nửa nổi nửa chìm

Giới thiệu

Nhiều thực thể đảo (đảo/đá) và bãi cạn nửa nổi nửa chìm (đá ngầm, bãi cạn) ở Biển Đông từ lâu là đối tượng quan tâm và tranh chấp giữa các nước bao gồm Brunei, Trung Quốc (Cộng hòa nNhân dân Trung Hoa và Trung hoa Dân Quốc – Đài Loan), Malaysia, Philippines và Việt Nam. Về cơ bản, có ba nhóm thực thể đảo ở Biển Đông: Quần đảo Trường Sa, Quần đảo Hoàng Sa, và Bãi cạn Scarborough. Trong hơn 40 năm qua, các vụ đối đầu ở mức độ khác nhau giữa hải quân, cảnh sát biển, ngư dân và các lực lượng tiến hành hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của các quốc gia ven biển là khá phổ biến. Tầm quan trọng của Biển Đông đối với địa chính trị khu vực và thế giới, tài nguyên sinh vật biển, nguồn dầu khí tiềm năng, tự do hàng hải, hoạt động giao thương biển là không phải bàn cãi. Bên cạnh ý nghĩa chiến lược quốc tế và tài nguyên, Biển Đông và các thực thể có tầm quan trọng đối với chính trị nội bộ, lịch sử và nhận thức của các quốc gia biển.

Tranh chấp giữa các quốc gia ở Biển Đông đối với các thực thể biển liên quan tới hai vấn đề: chủ quyền và quyền tài phán biển. Trước tiên, gần như tất cả các thực thể ở Biển Đông đều bị một hoặc nhiều quốc gia yêu sách chủ quyền. Đối với Quần đảo Trường Sa, Trung Quốc và Việt Nam yêu sách chủ quyền toàn bộ các thực thể, Malaysia và Philippines yêu sách một số thực thể, trong khi Brunei chỉ yêu sách một thực thể. Đối với Quần đảo Hoàng Sa, chỉ có hai bên yêu sách là Việt Nam và Trung Quốc. Đối với Bãi cạn Scarborough, các quốc gia yêu sách là Trung Quốc và Philippines. Thứ hai, luật pháp quốc tế (chủ yếu dựa trên Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 - UNCLOS)[1] phân loại các thực thể khác nhau để xác định quyền tài phán được hưởng đối với các vùng biển. Điều này sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần sau bởi bài viết sẽ tập trung vào các vấn đề biển thay vì vấn đề về chủ quyền.

Bài viết tập trung vào hai vấn đề chính: (a) các quốc gia ven biển đã tuyên bố và hành động như thế nào đối với các thực thể đảo ở Biển Đông; (b) và một số đánh giá về các thực thể đảo trong bối cảnh Vụ kiện của Philippines và Trung Quốc.[2]

Luật pháp Quốc tế: Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa Nổi Nửa Chìm

Có sự khác biệt lớn giữa tranh chấp chủ quyền một thực thể đất có biển bao quanh và tranh chấp chủ quyền không gian biển liền kề với thực thể đó. Với thực tế là đất tạo ra các vùng biển, theo đó, “quyền sở hữu” một thực thể có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Có nhiều vụ phân xử quốc tế về tranh chấp “quyền sở hữu” đối với các thực thể biển. Một vụ phân xử trọng tài gần đây ở Châu Á là tranh chấp giữa Singapore và Malaysia tại Tòa Công lý Quốc tế (International Court of Justice - ICJ).[3] Chúng ta không cần thiết đánh giá vụ việc và luật pháp, ngoại trừ lưu ý các lý do và bằng chứng có thể xác định được bên phân xử thứ ba sử dụng và chấp nhận khi đánh giá các luận điểm trong đa phần tranh chấp và đưa ra kết luận về chủ quyền.[4] Hai trong số các vụ kiện gần đây liên quan tới một nhóm thực thể,[5] trong khi các vụ phân xử, trọng tài khác chủ yếu tập trung vào một hoặc hai thực thể riêng biệt hoặc tách rời.

Ngoài vấn đề chủ quyền lãnh thổ, không phải tất cả thực thể đảo có khả năng tạo ra vùng biển như nhau. Điều 121 của UNCLOS xác định rõ các loại thực thể được hưởng vùng lãnh hải 12 hải lý, vùng EEZ 200 hải lý và trường hợp nào, được hưởng vùng thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý, và các thực thể là đá chỉ được hưởng vùng lãnh hải 12 hải lý.[6] Mặc dù UNCLOS đưa ra một số hướng dẫn phân biệt đảo và đá, tuy nhiên vấn đề này chưa thực sự rõ ràng và vẫn gây nhiều tranh cãi.

Theo UNCLOS, các bãi cạn nửa nổi nửa chìm khác biệt so với đảo/ đá. Điều 13 mô tả các bãi cạn nửa nổi nửa chìm là “vùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị ngập nước.” Điều 13 (2) quy định rõ, không phải thực thể theo Điều 121, một bãi cạn nửa nổi nửa chìm không có lãnh hải riêng trừ khi thực thể đó nằm hoàn toàn hoặc một phần bên trong lãnh hải 12 hải lý của bờ biển, trong trường hợp đó, bãi cạn nửa nổi nửa chìm có thể được sử dụng là một điểm cơ sở để xây dựng lãnh hải 12 hải lý.[7] Tòa ICJ trong vụ kiện Nicaragua và Colombia tuyên bố rằng, “bãi cạn nửa nổi nửa chìm không thể chiếm hữu, mặc dù ‘Quốc gia ven biển có chủ quyền đối với bãi cạn nửa nổi nửa chìm nằm trong vùng lãnh hải bởi nước này có chủ quyền đối với khu vực lãnh hải đó.”[8] Trên cơ sở đó, tòa xác định chủ quyền đối với một bãi cạn nửa nổi nửa chìm dựa trên lãnh hải mà thực thể đó nằm bên trong[9] và không xác định chủ quyền cũng nhưng vùng biển xung quanh của thực thể nửa nổi nửa chìm nằm ngoài lãnh hải của quốc gia.[10] “Tài liệu Lập trường về Vụ kiện Trọng tài ở Biển Đông do Philippines khởi xướng” của Trung Quốc tháng 12 năm 2014 lưu ý rằng ICJ, từng tuyên bố trong vụ kiện giữa Nicaragua và  Colombia rằng “bãi cạn nửa nổi nửa chìm không thể chiếm hữu”, không chỉ ra bất cứ cơ sở pháp lý nào đối với tuyên bố kết luận này. Tuyên bố cũng không đề cập tới vị thế pháp lý của các bãi cạn nửa nổi nửa chìm như một bộ phần của quần đảo, hay chủ quyền hoặc yêu sách chủ quyền đã có từ lâu đối với các thực thể như vậy trong một vùng biển.[11]

Trong khi chúng ta có thể dễ dàng tuyên bố về ba loại thực thể - đảo, đá, bãi cạn nửa nổi nửa chìm, cũng như hiệu lực pháp lý được quy định khác nhau cho mỗi loại thực thể, vấn đề là cách thức để xác định một thực thể thuộc loại nào. Mặc dù UNCLOS có hướng dẫn, thực tiễn quốc gia cho thấy các ví dụ, tòa án/ tòa trọng tài, ngoại trừ đối với các thực thể nửa nổi nửa chìm, không có ý định giải thích chi tiết khi nào các thực thể được phân loại. Các quốc gia cho thấy tầm quan trọng của việc khi nào các thực thể được phân loại. Bên cạnh đó, các đảo, đá và các bãi cạn nửa nổi nửa chìm đóng vai trò quan trọng trong các cuôc đàm phán phân định ranh giới biển, theo đó các quốc gia liên quan có thể nhất trí về một phân loại và chế độ cho một thực thể mà không quan tâm tới UNCLOS hoặc các thực tiễn phổ biến.[12]

Đôi khi người ta đề cập đến quyền của một số thực thể ở Biển Đông, những thực thể ngập nước hoàn toàn, chưa từng nhô trên mặt biển.[13] Yêu sách quyền sở hữu các thực thể như vậy, như một bãi ngầm, không hình thành quyền của một quốc gia đối với vùng lãnh hải hoặc EEZ và không được sử dụng là điểm cơ sở để vẽ đường cơ sở. Trong trường hợp thềm lục địa mở rộng quá 200 hải lý, các thực thể như dải núi ngầm và các địa hình nhô cao dưới mặt nước là một phần rìa lục địa của một quốc gia tiếp giáp sẽ tạo ra khác biệt về vị trí của giới hạn ngoài cùng của thềm lục địa quốc gia và được giải thích rõ ràng trong Điều 76 của UNCLOS. Tuy nhiên, không phải bản thân thực thể tạo ra khu vực thềm ngoài 200 hải lý, chính các thực thể hoàn toàn ngập nước là một phần của rìa lục địa kéo dài tới thực thể sẽ được xem xét khi xác định ranh giới ngoài. Giá trị pháp lý trong “yêu sách” của quốc gia đối với một thực thể hoàn toàn ngập nước không được xác định giống như “yêu sách” một thực thể đảo; thay vào đó người ta đánh giá liệu thực thể ngập nước này có nằm bên trong ranh giới ngoài của lãnh hải, EEZ hay thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý của một quốc gia. Chúng ta cần lưu ý rằng Điều 77 (3) của UNCLOS, bắt nguồn từ Điều 2 (3) của Công ước Thềm Lục Địa năm 1958,[14] ngụ ý rằng các quốc gia ven biển có quyền cố hữu hoặc đương nhiên đối với khu vực thềm liền kề, chứ không phải quyền hình thành qua việc chiếm hữu lãnh thổ. Ông O’Connell chỉ ra rằng việc bác bỏ các yêu sách vùng nước lịch sử, danh nghĩa hoặc quyền lịch sử của các quốc gia ven biển không tiếp giáp với thềm lục địa của một quốc gia khác là mục đích của các quyền cố hữu được quy định trong Điều 2 (3) của Công ước Thềm Lục Địa năm 1958.[15]

Vấn đề ở Biển Đông (và các khu vực khác) phức tạp hơn do hoạt động cải tạo, nâng cấp của con người đối với các thực thể nằm trên mặt biển như xây dựng, bao gồm kè ngăn xói mòn, nạo vét…[16] Điều này phát sinh câu hỏi liệu một thực thể, với hoạt động can thiệp của con người, có thay đổi về bản chất trong mục phân loại. Một học giả đã gọi các thực thể được cải tạo này là “các thực thể ghép khô.”[17] Điều 60 và Điều 80 trong UNCLOS xác định, trong vùng EEZ và thềm lục địa ngoài mở rộng ngoài 200 hải lý của mình, các quốc gia ven biển có quyền xây dựng và quy định về các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình. Các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình có một vùng an toàn rộng 500m, nhưng “không được hưởng quy chế đảo” và “không có lãnh hải riêng và sự tồn tài của chúng không ảnh hưởng đối với việc phân định ranh giới lãnh hải, EEZ hoặc thềm lục địa.”[18] Không thể nói các quy định này trả lời rõ ràng câu hỏi liệu các thực thể có thể thay đổi mục phân loại do sự can thiệp của con người hay không, mặc dù có thể hiểu rằng ở thời điểm đàm phán UNCLOS (vào thập niên 1970), quan điểm đối với vấn đề này không có lợi.[19]

Các Thực thể Đảo ở Biển Đông và Các Quốc gia Ven Biển[20]

Một điều người ta thừa nhận từ lâu rằng nếu mọi thực thể biển ở Biển Đông (đặc biệt là các thực thể thuộc Quần đảo Trường Sa) được coi là đảo, đá, bãi cạn nửa nổi nửa chìm chỉ hưởng vùng biển giới hạn (12 hải lý), điều này sẽ thay đổi các tranh cãi ở Biển Đông. Theo kịch bản này, các khu vực 200 hải lý và vùng thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý sẽ đều dựa trên đường cơ sở dọc bờ biển lục địa. Tranh chấp chủ quyền đối với các thực thể đa phần không liên quan tới vị trí các khu vực 200 hải lý và tranh chấp Biển Đông chủ yếu là các phân định song phương.[21] Như giải thích ở phần sau, đây thực sự là quan điểm của các nước Malaysia, Philippines và Việt Nam.

Malaysia, Philippines và Việt Nam

Tháng 5 năm 2009, Malaysia và Việt Nam đã làm rõ các yêu sách ở Biển Đông bằng một Bản Đệ trình Chung gửi Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa mô tả ranh giới ngoài của rìa lục địa vượt quá 200 hải lý ở phía nam của Biển Đông[22] và Bản Đệ trình riêng của Việt Nam về thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý ở khu vực trung tâm của Biển Đông.[23] Trong Bản Đệ trình Chung, Malaysia và Việt Nam xác định giới hạn 200 hải lý và một khu vực thềm lục địa (gọi là "khu vực xác định") tiếp giáp với những ranh giới này, trong tương lai, có thể là khu vực đàm phán của Malaysia-Việt Nam và một thỏa thuận ranh giới biển. Việt Nam trong bản đệ trình riêng đã xác định giới hạn 200 hải lý ở phần trung tâm của Biển Đông.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Ted L McDorman[24] Giáo sư, Khoa Luật,  Trường Đại học Victoria, Canada. Email:  Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. . Bài viết trích trong The International Journal of Marine and Coastal Law, Volume 32, Issue 2 và được đăng trên Brill Online Books and Journals.

Tuấn Anh (dịch)

Trần Quang (hiệu đính)

Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.



[1] Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (Vịnh Montego, ngày 10/12/1982, có hiệu lực ngày 16/11/1994) 1833 UNTS 397 (sau đây gọi là “UNCLOS”).

[2] Vụ kiện Trọng tài Biển Đông (Cộng hòa Philippines và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), Vụ kiện PCASố 2013–19, xem tại http://www.pcacases.com/web/view/7.

[3] Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/ Singapore) [năm 2008] Hồi đáp 12 ICJ.

[4] Tham khảo về các bình luận, xem NJ Schrijver V Prislan, ‘Cases concerning sovereignty over islands be- fore the International Court of Justice and the Dokdo/Takeshima issue’ (năm 2015) 46(4) Ocean Development and International Law 281–314.

[5] Maritime Delimitationand Territorial Questions (Qatar v. Bahrain) [năm 2001] ICJ Rep 40; Territorial and Maritime Dispute (Nicaragua v. Colombia) [2012] Hồi đáp 624 ICJ.

[6] ICJ tuyên bố Điều 121(2) là một phần của tập quán pháp quốc tế trong vụ Qatar và Bahrain (n 5), tại đoạn 185.

[7] ICJ tuyên bố Điều 13 một phần của tập quán pháp quốc tế trong vụ kiện ở trên, tại đoạn 201.

[8] Nicaragua v. Colombia (n 5), tại đoạn 26, trích  Qatar Bahrain (n 5), tại đoạn 204.

[9] Malaysia/Singapore (n 3), tại đoạn 297; Nicaragua Colombia (n 5),  tại đoạn 182–183.

[10] Vụ Nicaragua Colombia (n 5), tại đoạn 183.

[11] Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, ‘Position paper of the Government of the People’s Republic of China on the matter of jurisdiction in the South China Sea Arbitration initiated by the Republic of the Philippines’ (ngày 7/12/ 2014), tại đoạn 25, xem tại http://www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/zxxx_662805/t1217147.shtml.

[12] Xem JRV PrescottGD Triggs, ‘Islands and rocks and their role in maritime de- limitation’ in DA Colson and RW Smith (chủ biên), International Maritime Boundaries, Quyển 5 (Nijhoff, Leiden, năm 2005) 3245–3280.

[13] K Zou, ‘How coastal states claim maritime geographic features: Legal clarity or conun- drum?’ (2012) 11(4) Chinese Journal of International Law 749–765,  tại đoạn 761–765.

[14] Công ước Thềm Lục địa (Geneva, ngày 29/4/1958, có hiệu lực ngày 10/6/1964) 499 UNTS 311.

[15] DP O’Connell, The International Lawof the Sea, Quyển I (IA Shearer biên tập) (Clarendon Press, Oxford, năm 1982) 482: “Việc xây dựng học thuyết thềm lục địa như một thể chế pháp lý tự chủ, độc lập với các phương thức thụ đắc lãnh thủ khác, hàm ý về quyền cố hữu của Quốc gia ven biển đối với thềm lục địa. Một trong mục đích đằng sau việc phổ biến học thuyết là loại bỏ kịp thời bất kỳ ưu tiên yêu sách hay bản chất các quyền của Quốc gia ven biển, như vậy, học thuyết về quyền lịch sử hay thời hiệu thụ đắc sẽ không tồn tại.”

[16] Zou (n 13), ở trang 759 viết rằng: “Trung Quốc đã chiếm giữ một số thực thể ở Trường Sa kể từ năm 1988, và vì mục đích đồn trú quân sự hay các mục đích khác, nước này đã xây dựng các công trình nhân tạo trên các rạn đá này (Đá Gạc Ma/ Đá Xu Bi, Đá Ga Ven, Đá Châu Viên, Đá Tư Nghĩa và Đá Chữ Thập). Một số thực thể đã được mở rộng trở thành các đảo nhân tạo, như đảo nhân tạo tại Đá Chữ Thập. Đá Hoa Lau (Tiếng Malaysia là Terumbu LayangLayang) hiện Malaysia kiểm soát đã được cải tạo khá nhiều, có một cảng cá, khu nghỉ dưỡng gồm 15 phòng và một đường băng dài 1,5 km.”

[17] Tlđd, trang 758.

[18] UNCLOS (n 1),  Điều  60(8).

[19] Xem thêm Zou (n 13), trang 759–761

[20] Các phần của đoạn này được trích lại, với đôi chút thay đổi, từ TL McDorman, ‘The South China Sea after 2009: Clarity of claims and enhanced prospects for regional cooperation?’ (năm 2010) 24 Ocean Yearbook 507–535.

[21] MJ Valencia, JM Van DykeNA Ludwig, Sharing the Resources of the South China Sea

(Nijhoff, The Hague, năm 1997) trang 143–146 261.

[22] Chính phủ Malaysia và nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, ‘Joint submission in re- spect of the southern part of the South China Sea, part I: Executive summary’ (tháng 5/ 2009), xem tại http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/ mys_vnm2009excutivesummary.pdf.

[23] Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, ‘Partial submission in respect of Vietnam’s extended continental shelf: North Area (VNM-N), part I: Executive summary’ (tháng 4/2009), xem tại http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/ vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf.

[24] Bài viết được hoàn thành và đưa ra trước khi có Phán quyết về Vụ kiện Trọng tài Biển Đông. Xem South China Sea Arbitration (The Cộng hòa Philippines và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), Phán Quyết (12/7/2016), Vụ kiện PCA số 2013–19, xem tại http://www.pcacases.com/web/view/7.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự nhằm hủy hoại các quyền mà luật pháp quốc tế dành cho các quốc gia, đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới.

Đọc tiếp...

Biển Đông liệu có trở thành "ao nhà" của Trung Quốc?

Biển Đông liệu có trở thành

Nếu không hành động sớm, rất có thể Biển Đông sẽ thực sự trở thành một cái ao của Trung Quốc, vừa ô nhiễm vừa dần cạn kiệt nguồn cá.

Đọc tiếp...

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Mỹ cần chủ động có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn Trung Quốc. Nếu không, sự thụ động và mặc nhận sẽ làm suy yếu vị thế của Mỹ, khiến Trung Quốc trở nên táo bạo hơn nữa trong việc thực hiện ý đồ của mình mà không gặp phải bất kỳ thách thức hay trở ngại nào.

Đọc tiếp...

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc - cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua - đều có tác động nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và tâm lý đối với khu vực.

Đọc tiếp...

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7967 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin