25 - 9 - 2018 | 22:38
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông

Email In PDF.

Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông” là sản phẩm đầu tiên của Nhóm chuyên gia về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Mỹ (CSIS) điều phối. Mục đích của Bản Kế hoạch này là cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.

 Biển Đông là một trong năm khu vực đánh bắt cá năng suất cao nhất trên thế giới, chiếm khoảng 12% tổng lượng đánh bắt cá toàn cầu trong năm 2015. Hơn một nửa tàu cá trên thế giới hoạt động trong vùng biển này, cung cấp công ăn việc làm cho hơn 3,7 triệu người, và hầu hết ngư dân hoạt động tại vùng biển này đều có liên quan đến đánh bắt cá bất hợp pháp, không theo quy định và không báo cáo (IUU fishing). Hệ sinh thái biển quan trọng này đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi việc đánh bắt cá quá mức. Các nguyên nhân gồm trợ cấp chính phủ cho việc đánh bắt cá, các kỹ thuật đánh bắt cá gây hại và trong những năm gần đây, là đánh bắt sò tai tượng quy mô lớn và nạo vét để xây dựng đảo.


Tổng lượng cá ở Biển Đông đã suy giảm khoảng 70-95% kể từ những năm 1950 và tỷ lệ đánh bắt đã giảm 66-75% trong vòng 20 năm qua. Việc đánh bắt sò tai tượng, nạo vét và xây dựng đảo nhân tạo trong những năm gần đây đã hủy hại hơn 160 km2 rạn san hô, với tỷ lệ bình quân là 16%/thập kỷ. Toàn bộ nghề cá Biển Đông, với số liệu chính thức là kế sinh nhai của hơn 3,7 triệu ngư dân và giúp cung cấp thực phẩm cho hàng trăm triệu người, đang đứng trước nguy cơ bị tàn phá nếu các nước yêu sách không hành động kịp thời để giải quyết sự sụt giảm này.

Điều 123 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UCNLOS) quy định rằng các quốc gia xung quanh vùng biển nửa kín như Biển Đông có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường biển và quản lý nguồn cá. Điều này được phản ánh qua mối liên hệ chặt chẽ giữa các hệ sinh thái ở vùng biển nửa kín, mà trong đó các tài nguyên sinh vật biển (và cả ô nhiễm biển) sẽ tự do di chuyển đến tất cả các khu vực khác nhau mà không cần sự cho phép của thẩm quyền quốc gia.  Điều 192 UNCLOS quy định nghĩa vụ chung cho các quốc gia “bảo vệ và bảo tồn môi trường biển”. Khác với việc khai thác dầu khí chỉ có thể thực hiện dựa trên quyền chủ quyền của quốc gia ven biển với thềm lục địa, nghĩa vụ cùng nhau quản lý nguồn tài nguyên sinh vật biển khiến cho việc quản lý nghề cá và bảo vệ môi trường trở thành một lĩnh vực dễ thúc đẩy hợp tác hơn ở Biển Đông.

Một hệ thống hiệu quả để quản lý môi trường và nghề cá ở Biển Đông không thể chỉ dựa vào các yêu sách biển và lãnh thổ chồng lấn, mà không quan tâm đến nguồn tài nguyên cá. Thay vào đó, hệ thống này cần được xây dựng xoay quanh toàn bộ hệ sinh thái biển, đặc biệt là hệ thống rạn san hô. Trên thực tế, hầu hết các sinh vật biển đều sống phụ thuộc vào các rạn san hô. Với ý chí chính trị đủ mạnh, các quốc gia xung quanh Biển Đông hoàn toàn có khả năng hợp tác hiệu quả để bảo vệ những hệ sinh thái này và quản lý nguồn cá mà không làm ảnh hưởng đến các yêu sách biển và lãnh thổ chồng lấn. Ví dụ, mặc dù trong Hiến pháp Philippines có những yêu cầu khắt khe về bảo vệ quyền chủ quyền của quốc gia này tại các vùng biển và thềm lục địa, tuy nhiên Philippines vẫn có thể đồng ý hợp tác quản lý nghề cá trong khu vực tranh chấp theo Điều 123 UNCLOS mà không ảnh hưởng đến yêu sách của nước này hay công nhận tính chính đáng của yêu sách của các nước khác, và theo đó mà không ảnh hưởng đến nội luật của Philipines.

Nghĩa vụ pháp lý quốc tế về hợp tác quản lý nghề cá và môi trường biển hoàn toàn phù hợp với nhu cầu thực tế. Các cộng đồng dân cư xung quanh Biển Đông phụ thuộc mạnh mẽ vào nguồn cá cả về an ninh lương thực và kế sinh nhai của người dân. Tuy nhiên tại khu vực, tỷ lệ đánh bắt cá sụt giảm trong những năm gần đây do sự kết hợp của hai nhân tố gồm đánh bắt cá quá mức và việc phá hủy môi trường có chủ ý. Tại Biển Đông, cá có thể đẻ trứng ở trong vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia (EEZ), sống một thời gian tại EEZ của một nước khác và dành phần đời còn lại ở một quốc gia thứ ba khác. Đánh bắt cá quá mức và phá hủy môi trường ở bất kỳ điểm nào trong chuỗi sinh sống này đều có thể ảnh hưởng đến tất cả những sinh vật khác sống trong vùng biển. Toàn bộ Biển Đông đang đứng trước nguy cơ suy giảm nghề cá, và cách duy nhất để phòng tránh điều này là thông qua hợp tác đa phương ở các vùng biển tranh chấp.

Để làm được điều đó, các quốc gia yêu sách cần nhất trí:

1.    Thiết lập Khu vực Quản lý Môi trường và Nghề cá ở Biển Đông thông qua việc thực thi và thúc đẩy các tiền lệ hợp tác đã thành công gồm Công viên Hải dương Rạn San hô Great Barrier tại Úc (Great Barrier Reef Marine Park) và Công ước về Bảo vệ Môi trường biển ở khu vực Đông Bắc Đại Tây Dương (OSPAR Convention). Khu vực quản lý bao gồm hàng loạt các khu vực nghề cá tách biệt dựa trên các hệ sinh thái khác nhau mà trong đó đã có toàn bộ các rạn san hô cần thiết cho sự tồn tại của các loài cá, bao gồm cả khu vực Hoàng Sa, Trường Sa, Bãi cạn Scarborough, Bãi cạn Luconia cũng như các vùng biển ở giữa, khu vực mà các loài cá biển bị đánh bắt.

·         Khu vực quản lý không nhất thiết phải ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trên toàn bộ phạm vi. Thay vào đó, khu vực này có thể bao gồm các khu vực được tự do đánh bắt cá. Một vài khu vực có thể bị hạn chế đánh bắt cá để tạo điều kiện cho các loài cá đang suy giảm nghiêm trọng có khả năng phục hồi. Trong các khu vực khác, có thể chỉ có một vài loài cá cụ thể bị hạn chế, trong khi một vài khu vực có thể không có bất cứ hạn chế nào. Xem Hình 1 và 2 về mô hình kế hoạch này đã được áp dụng tại Công viên Hải dương Rạn San hô Great Barrier.

·        Các nước yêu sách nên công khai nhất trí rằng việc tham gia thiết lập và triển khai Khu vực quản lý sẽ không gây ảnh hưởng đến các yêu sách biển và lãnh thổ, và không được diễn giải thành công nhận yêu sách của nước khác.

·         Việc xác định xem loại cá nào bị cấm hay được cho phép đánh bắt ở các khu vực cần được thực hiện dựa trên các tiêu chí khoa học, như tình trạng của rạn san hô hay tầm quan trọng của loài cá di cư.

·         Thành lập một cơ quan đa phương bao gồm các chuyên gia và quan chức độc lập từ các cơ quan khoa học về quản lý biển, và nghề cá từ các nước trong khu vực. Cơ quan này sẽ thực hiện quy hoạch Khu vực quản lý và tiến hành những điều chỉnh thường xuyên.

·         Tất cả các quốc gia xung quanh Biển Đông nên tham gia vào việc thiết lập và quản lý các khu vực nghề cá, bất kể phạm vi yêu sách biển và lãnh thổ của họ ở đâu tại Biển Đông, vì tất cả đều phụ thuộc vào hệ sinh thái biển trong vùng biển nửa kín ở mức độ như nhau. Điều này có nghĩa là Brunei, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Đài Loan, và Việt Nam, tất cả cùng nên tham gia vào việc nghiên cứu khoa học và quy hoạch vị trí các khu vực đánh bắt cá.

·         Thành lập một cơ quan tư vấn về quản lý các loài cá biển bao gồm các các nước yêu sách ở Biển Đông và các nước ven biển ở Vịnh Thái Lan. Các nước ở Vịnh Thái Lan không cần tham gia việc quy hoạch các khu vực nghề cá cho các loài cá sống ở các rạn san hô ở Biển Đông nhưng nên được tham vấn về các khu vực hướng đến quản lý các loài cá di cư di chuyển giữa hai vùng biển này.

 

2.    Phạm vi trách nhiệm của các bên được quy định như sau:

·         Các nước yêu sách cần chịu trách nhiệm kiểm soát và ngăn chặn các  tàu vi phạm các quy định hạn chế đánh bắt cá đã được thỏa thuận trong khu vực 12 hải lý tính từ căn cứ mà nước này kiểm soát ở các thực thể đang tranh chấp VÀ ở trong phạm vi 200 hải lý tính từ đường bờ biển. Trong khu vực chồng lấn giữa phạm vi 12 hải lý từ thực thể mà một nước yêu sách đang kiểm soát với phạm vi 200 hải lý của nước yêu sách khác, khu vực thuộc phạm vi 12 hải lý được ưu tiên hơn. Ở trong khu vực lãnh hải chồng lấn của hai thực thể do hai bên khác nhau kiểm soát, đường trung tuyến sẽ được áp dụng để tách biệt hai khu vực trách nhiệm khác nhau. Các khu vực thực thi này được minh họa trong Hình 3, Hình 4.

·         Việc quy hoạch khu vực trách nhiệm không nên bao gồm cả đánh giá về chủ quyền đối với các thực thể bị chiếm đóng hay vị thế pháp lý (như đảo, đá, bãi nửa nổi nửa chìm hay thực thể hoàn toàn chìm). Các khu vực này cũng không nên gây ảnh hưởng đến việc phân định đường biên giới biển trong tương lai.

·         Việc tuần tra và cấm các tàu vi phạm các quy định hạn chế đánh bắt cá đã thỏa thuận trong Khu vực quản lý sẽ được tiến hành bởi bất cứ bên yêu sách nào. Phạm vi sẽ  bao gồm tất cả các vùng nước và các thực thể bị chiếm đóng cách hơn 200 hải lý từ đường bờ biển. Các quốc gia yêu sách nên tìm kiếm cách phối hợp kiểm soát, bao gồm việc sử dụng cuối cùng các thỏa thuận lái tàu, và chia sẻ thông tin cảnh báo trên biển ở những khu vực này.

·         Việc khởi tố các tàu từ một quốc gia yêu sách vi phạm quy định hạn chế đánh bắt cá trong Khu vực quản lý là trách nhiệm của quốc gia chủ quản tàu. Quốc gia bắt giữ có trách nhiệm chuyển giao tàu và thủy thủ đoàn theo một cách thức hợp lý về thời gian. Việc khởi tố các cá nhân vi phạm từ những quốc gia không có yêu sách nên thuộc trách nhiệm của quốc gia bắt giữ.

3.    Nhất trí không sử dụng trợ cấp chính phủ để khuyến khích đánh bắt cá trong các khu vực đã bị đánh bắt cá quá mức ở Biển Đông.

·         Tất cả các quốc gia yêu sách nên thống nhất bãi bỏ các trợ cấp trong các khu vực nhất định mà có thể khuyến khích đánh bắt cá trong Khu vực quản lý.

·         Các nước yêu sách nên nhất trí rằng ngư dân bị phát hiện vi phạm các quy định của Khu vực quản lý sẽ mất quyền tiếp cận bất kỳ trợ cấp hiện có nào của chính phủ và các chương trình hỗ trợ ngành ngư nghiệp khác.

4.    Điều phối các nỗ lực tái đưa sò tai tượng và các loài đang bị đe dọa khác như rùa biển đến các rạn san hô có ít loài sinh sống ở Biển Đông.

·         Nỗ lực này có thể được điều phối bởi liên kết các trường đại học và tổ chức nghiên cứu, giống như việc các trường đại học và cơ quan nghiên cứu ở Trung Quốc và Đông Nam Á đã tham gia nuôi sò tai tượng nhân tạo, với sự cung cấp tài chính, điều phối và các hỗ trợ hậu cần khác từ chính phủ.

·         Mỗi nước yêu sách phải chịu trách nhiệm cho việc nuôi sò tai tượng và tái đưa các loài khác vào trong các rạn san hô mà nước này đang kiểm soát. Cuối cùng, các rạn san hô không có nước nào kiểm soát có thể được các nhóm thường dân đa quốc gia phục hồi các tài nguyên sinh vật biển. Mặc dù các ưu tiên ngắn và trung hạn cần dành cho các rạn san hô gần các thực thể đang bị kiểm soát do các thực thể này có thể được bảo vệ khỏi các tay săn trộm dễ dàng hơn. Tất cả các bên yêu sách nên nhất trí rằng các hoạt động như vậy có thể được tiến hành mà vẫn tôn trọng hay không làm ảnh hưởng đến các yêu sách chủ quyền.

5.    Tránh các hành động có thể tàn phá môi trường biển hoặc làm thay đổi đáy biển.

·         Các nước yêu sách nên kiềm chế các hành động phá hủy môi trường biển nào như nạo vét, cải tạo đảo, hay xây dựng các cơ sở trên các rạn san hô chưa có nước nào kiểm soát.

·         Các nước yêu sách nên cam kết thực hiện và công bố một cách công khai đánh giá tác động môi trường trước khi tiến hành các công việc xây dựng hay cải tạo trên các thực thể đang kiểm soát.

6.    Hợp tác về nghiên cứu khoa học biển. Nghiên cứu khoa học biển rất cần thiết để đánh giá tình trạng môi trường biển và để triển khai hiệu quả các nỗ lực bảo tồn.

·         Các nước yêu sách nên phối hợp tổ chức nghiên cứu thực địa cho các chuyên gia từ tất cả các nước yêu sách.

·         Mỗi nước yêu sách nên tạo điều kiện thuận lợi cho các chuyến thăm của các chuyên gia từ các nước yêu sách khác để tiến hành nghiên cứu trên các đảo và đá mà các nước này chiếm đóng, có tính đến việc tiếp cận hạn chế với các điểm quân sự nhạy cảm. Tất cả các nước yêu sách nên thống nhất rằng các tàu nghiên cứu nên được thiết kế mà không làm ảnh hưởng đến yêu sách khác biệt của các bên khác, và việc tham gia này không có nghĩa là các nghiên cứu viên hay quốc gia của nghiên cứu viên công nhận chủ quyền của quốc gia đứng ra tổ chức chuyến thăm

·         Các nước yêu sách nên tổ chức các hội thảo khoa học biển thường xuyên được hỗ trợ bởi tất cả các nước láng giềng với sự tham dự của các chuyên gia trong và ngoài khu vực.

·         Chính phủ các nước nên đầu tư, cả với tư cách cá nhân và tư cách tổ chức cho các chương trình gia tăng nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng và nguy cơ đối với các loài cá - một nguồn tài nguyên phổ biến, có thể tái tạo.


 

Bảng kế hoạch này là sự đồng thuận giữa các thành viên của nhóm chuyên gia về Biển Đông do CSIS điều phối, hoạt động với tư cách cá nhân, không phải đại diện của cơ quan, tổ chức, viện nghiên cứu nơi họ đang làm việc.

  Thùy Anh (dịch)

Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự nhằm hủy hoại các quyền mà luật pháp quốc tế dành cho các quốc gia, đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới.

Đọc tiếp...

Biển Đông liệu có trở thành "ao nhà" của Trung Quốc?

Biển Đông liệu có trở thành

Nếu không hành động sớm, rất có thể Biển Đông sẽ thực sự trở thành một cái ao của Trung Quốc, vừa ô nhiễm vừa dần cạn kiệt nguồn cá.

Đọc tiếp...

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Mỹ cần chủ động có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn Trung Quốc. Nếu không, sự thụ động và mặc nhận sẽ làm suy yếu vị thế của Mỹ, khiến Trung Quốc trở nên táo bạo hơn nữa trong việc thực hiện ý đồ của mình mà không gặp phải bất kỳ thách thức hay trở ngại nào.

Đọc tiếp...

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc - cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua - đều có tác động nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và tâm lý đối với khu vực.

Đọc tiếp...

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Trong thời gian từ giờ đến năm 2025, có khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách hiện tại, tức là từng bước củng cố quyền kiểm soát đối với các biển Hoa Đông và Biển Đông đồng thời tuyên bố các ý định hòa bình của nước này và viện đến lịch sử như một lời biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của nước này. Nước này sẽ tiếp tục tăng cường sự hiện diện của các tàu cảnh sát biển và tàu đánh cá với khả năng phòng thủ có vũ trang.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 6678 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin