25 - 4 - 2018 | 19:12
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Email In PDF.

Indonesia và Việt Nam cho thấy rằng có thể phân chia rạch ròi giữa việc cương quyết bảo vệ chủ quyền và quyền của một nước trên Biển Đông. Đã đến lúc Manila và Kuala Lumpur phải học hỏi từ những người hàng xóm của mình về cách đứng lên chống lại các chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh thông qua một quyết tâm được thể hiện rõ ràng.

 

Các động thái của Trung Quốc và Ấn Độ nhằm xuống thang căng thẳng về tình hình bế tắc tại Doklam đã làm xuất hiện những bình luận về cách thức đối phó với các chiến lược cưỡng ép của Bắc Kinh. Một số người có thể lập luận rằng xét cho cùng, Ấn Độ có thể được coi là đối thủ ngang hàng với Trung Quốc về sức mạnh tương đối, đặc biệt là quân sự. Cả hai đều là những quốc gia có vũ khí hạt nhân và nếu bị đẩy vào cuộc chiến tranh biên giới mới, họ có thể tính đến việc leo thang hành động vũ trang vượt ra ngoài ngưỡng chiến tranh toàn diện, và tệ hơn là rơi vào một cuộc xung đột hạt nhân.

Những bài học của Ấn Độ về cách đối phó với sức ép từ Trung Quốc quả thực thú vị. Nhưng nếu nhìn vào các đối thủ của Bắc Kinh trong bối cảnh có sự bất cân xứng rõ ràng về sức mạnh thì sao? Có thể lập tức nghĩ ngay đến các đối thủ ở Đông Nam Á của Trung Quốc trên Biển Đông. Khu vực đó bao gồm các quốc gia-dân tộc nhỏ hơn, yếu hơn, những nước không có hàng loạt công cụ sức mạnh và các hình thức đòn bẩy chiến lược khác như của Ấn Độ. Có thể kết luận rằng các nước Đông Nam Á này là những lựa chọn dễ dàng để Bắc Kinh thực hiện thành công chiến lược cưỡng ép của mình.

Các đối thủ ở Đông Nam Á có phải là lựa chọn dễ dàng cho Trung Quốc?

Trên thực tế, không lâu sau khi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đưa ra một tuyên bố chung về Biển Đông, điều đó như một sự nhắc nhở nhẹ nhàng dành cho Bắc Kinh. Bên cạnh đó, cả 2 bên đã chính thức thông qua khuôn khổ cho một bộ quy tắc ứng xử được đề xuất nhằm giải quyết tranh chấp sau khi tin một số tàu Trung Quốc được nhìn thấy xuất hiện gần đảo Thị Tứ do Philippines chiếm đóng. Một tàu kiểm ngư của Philippines được cho là cũng bị quấy rối.

Đây chính là điểm khác biệt giữa phản ứng của Manila và sự phản đối mau lẹ và quyết đoán của Ấn Độ với cái được cho là nỗ lực của Trung Quốc nhằm làm thay đổi nguyên trạng ở Doklam. Đúng với phong cách đặc trưng của Chính quyền Rodrigo Duterte thân Bắc Kinh, Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Alan Peter Cayetano đã không xác nhận cũng như không phủ nhận báo cáo này. Thay vào đó, ông đã hạ thấp tầm quan trọng của nó. Ông nhận xét: “Chỉ sự hiện diện của các tàu thì không có ý nghĩa gì”.

Người ta có thể cảm thông với nỗ lực của Manila nhằm bỏ qua trò hề mới của Trung Quốc trong vùng biển đang tranh chấp, vì nước này cần phải đối mặt với những thách thức an ninh trước mắt khác do những kẻ khủng bố và trùm ma túy gây ra. Duterte đã xoay từ Washington sang Bắc Kinh để có được viện trợ và đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội, bao gồm chương trình cơ sở hạ tầng toàn quốc “Xây, Xây, Xây” rình rang của ông, chương trình mà ông đã quảng bá tại Diễn đàn “Vành đai và Con đường” do người bạn mới hào phóng của ông, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, chủ trì.

Nói một cách đơn giản, một vụ ầm ĩ ở Biển Đông không phục vụ cho lợi ích của chính quyền ông. Duterte và các cộng sự thân thiết của ông, chẳng hạn như một Cayetano cũng ủng hộ Trung Quốc không kém, không muốn làm xáo trộn tình hình và gây ra nguy cơ khiến Bắc Kinh rút lại những củ cà rốt mà họ đã hứa hẹn với Manila. Do đó có lẽ việc Philippines đầu hàng Trung Quốc là không thể tránh khỏi, không chỉ gác lại phán quyết của Tòa trọng tài vốn đã trao cho nước này chiến thắng áp đảo về pháp lý trước nước láng giềng phương Bắc lớn hơn và hùng mạnh hơn nhiều; mà nếu cần thiết, họ sẽ phải chịu đựng trong im lặng trước điều mà chuyên gia Robert Haddick cho là những chiến lược “vùng xám cắt lát salami” vùng xám thường được Bắc Kinh sử dụng để đánh bại các đối thủ của mình trong vùng biển tranh chấp.

Các chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc

Durtete không chỉ có một mình. Ông có thể tìm được một người bạn tâm giao thân thiết là Thủ tướng Malaysia Najib Razak, người mà khi cuộc tổng tuyển cử đang tới gần, cũng đã quay sang Bắc Kinh vì viện trợ và đầu tư để chống đỡ cho vị thế của đảng cầm quyền của ông. Najib đã nỗ lực lấy lòng Trung Quốc, chẳng hạn như thông qua chính sách “ngoại giao sầu riêng”. Ông đã ngăn cấm những nhà phê bình trong nước lo sợ rằng ông đang bán rẻ chủ quyền của Malaysia để đổi lấy sự bố thí của Trung Quốc, thậm chí đến mức bộc lộ sự mâu thuẫn – dưới danh nghĩa không gây đối đầu – về các cuộc xâm nhập thường xuyên của cảnh sát biển Trung Quốc gần các cấu trúc địa hình nằm trong quyền tài phán trên biển của Malaysia.

Liệu đây có phải vận mệnh đã định trước của các quốc gia nhỏ và yếu hơn như Philippines và Malaysia, là đầu hàng trước các chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc hay không? Ban Cố vấn an ninh quốc tế đã xác định các cách tiếp cận “vùng xám” trong báo cáo tháng 1/2017 lên Bộ Ngoại giao Mỹ là “sử dụng kỹ thuật để đạt được các mục tiêu của một quốc gia và làm nản lòng các đối thủ của mình bằng cách sử dụng các công cụ sức mạnh – thường có tính chất không cân xứng và mơ hồ - mà không phải sử dụng trực tiếp các lực lượng quân sự thông thường đã biết”. Chương trình xây dựng đảo của Trung Quốc trên Biển Đông được coi là một ví dụ như vậy, chưa kể chính sách ngoại giao pháo hạm của họ, trong đó bao gồm sử dụng lực lượng dân quân đánh bắt cá nổi tiếng của họ.

Manila và Kuala Lumpur nằm vừa vặn trong hạng mục các đối thủ “dễ bảo” mà Bắc Kinh vô cùng khao khát – không muốn leo thang các tranh chấp của họ vượt ra ngoài “giới hạn đỏ” hay chiến tranh nóng toàn diện, và không cản trở nhiệm vụ tìm kiếm lợi ích của họ từ Trung Quốc. Nhưng trước khi bắt đầu cho rằng phản ứng của Malaysia và Philippines đối với Trung Quốc là đang lập ra chuẩn mực tại Đông Nam Á, chúng ta phải cân nhắc liệu có cần thiết phải kết hợp một mặt là giữ vững chủ quyền và quyền của một nước, mặt khác là thúc đẩy quan hệ kinh tế hay không.

Indonesia và Việt Nam, vốn có lợi ích lớn trên Biển Đông, đã chứng tỏ rằng không có sự phân đôi sai lầm đó và không phải là trường hợp để Bắc Kinh có thể áp dụng như Philippines và Malaysia.

Phản ứng của Indonesia trước Bắc Kinh

Có thể nói, quan hệ Trung Quốc-Indonesia đã nở rộ trong khoảng một thập kỷ qua. Jakarta không chỉ tìm kiếm đầu tư từ Bắc Kinh, mà thậm chí họ còn mua vũ khí của Trung Quốc. Tuy vậy, họ đã không trở thành một kẻ nhu nhược khi sự cố tàu đánh cá nổ ra vào tháng 3/2016. Năm đó, cảnh sát biển Trung Quốc đã đâm thủng tàu đánh cá Kway Fey 10078 của nước này ngay trong vùng biển thuộc quyền kiểm soát của Jakarta ngoài khơi đảo Natuna, can thiệp mạnh mẽ vào việc Indonesia thực thi luật thủy sản. Thay vì hạ nhiệt vụ việc, Tổng thống Joko Widodo, mà tính hợp pháp trong tầm nhìn “trục biển toàn cầu” của ông có nguy cơ bị chệch hướng bởi bất kỳ điều gì ít hơn quyết tâm chống lại sự xâm phạm của Bắc Kinh, đã tới thăm đảo Natuna trên một con tàu chiến.

Trong một dấu hiệu còn đáng ngại hơn rằng Jakarta sẽ không dung thứ cho hành động vô lý từ Bắc Kinh, Hải quân Indonesia đã tăng cường sự hiện diện của mình trên quần đảo này. Tháng 6 cùng năm, hải quân nước này đã nổ súng cảnh cáo một số tàu đánh cá Trung Quốc đang hoạt động bất hợp pháp trong vùng biển của Natuna, được cho là đã làm bị thương một ngư dân trong quá trình này. Bắc Kinh đã phản đối, nhưng Jakarta không hề nao núng. “Chúng tôi sẽ không ngần ngại hành động quyết liệt chống lại các tàu nước ngoài, bất kể tàu đó mang cờ và quốc tịch nước nào, khi họ vi phạm lãnh thổ của Indonesia”, người phát ngôn của Hải quân Indonesia, Đô đốc Edi Sucipto, phát biểu sau vụ việc. Kể từ đó, không có thêm báo cáo nào về sự vi phạm của Trung Quốc.

Nhưng sau đó không có hệ quả nào lớn. Đầu tư của Trung Quốc vào Indonesia không bị ảnh hưởng; trên thực tế, những khoản đầu tư này đã tăng 291% từ tháng 1-9/2016, đạt 1,6 tỷ USD vào tháng 1/2017. Tuy vậy, Jakarta muốn báo hiệu cho Bắc Kinh rằng đừng nên đùa với họ. Tháng 10/2016, Jakarta đã tìm kiếm thêm nhiều khoản đầu tư hơn từ Nhật Bản và 1 tháng sau, tuyên bố họ ưu tiên Nhật Bản để cùng ký kết một dự án tàu bán cao tốc. Tháng 1/2017, cả 2 nước đã nhất trí tăng cường hợp tác an ninh hàng hải. Bắc Kinh đã tính toán hết sức sai lầm rằng chiến thuật “vùng xám” của họ sẽ chống lại Indonesia hiệu quả, như những gì họ đã làm vào tháng 3/2013, do đó đã đẩy Indonesia thành đối thủ của Trung Quốc.
Các mối quan hệ song phương đã dần khôi phục, với việc Indonesia thu được thành công sự quan tâm lớn hơn của Trung Quốc để tăng cường đầu tư. Đồng thời, quốc gia Đông Nam Á này cũng không hề lơ là lợi ích trên Biển Đông của mình, thậm chí đổi tên một phần ở vùng biển này thành biển Bắc Natuna. Ngoài việc chỉ trích động thái này, Bắc Kinh đã ngừng trả đũa.

Cuộc đấu tranh của Việt Nam chống lại Trung Quốc

Còn Việt Nam thì sao? Từ thời xa xưa, quốc gia Đông Nam Á can trường này đã duy trì thành tích đáng nể là chống sự gây hấn của Trung Quốc. Khi Trung Quốc đặt giàn khoan dầu biển sâu của nước này, Hải Dương-981, trong vùng biển ngoài khơi Việt Nam và gần quần đảo Hoàng Sa vào tháng 5/2014, Hà Nội đã phản ứng quyết liệt – và ít nhất cũng tương xứng với trò hề “vùng xám” của Bắc Kinh. Họ đã cẩn thận tránh cử các lực lượng quân sự đến đối mặt với Trung Quốc – thay vào đó triển khai các tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư – và thậm chí cả lực lượng dân quân biển của riêng họ.

Thế bế tắc này kéo dài cho đến khi chính sách ngoại giao “kênh sau” – chủ yếu là giữa 2 đảng cộng sản – dẫn đến việc cả 2 bên đều lùi bước vào cuối tháng 7. Tuy vậy, Hà Nội có lý do để tự hào, cho dù phải trả giá. Thế bế tắc kéo dài buộc Việt Nam phải ngừng việc bảo dưỡng định kỳ các tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư, gây ảnh hưởng đến khả năng sẵn sàng hoạt động của chúng cho các nhiệm vụ khác. Nếu thế bế tắc duy trì, Việt Nam, vốn bất lợi về khả năng vũ lực, có thể sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Dù vậy, nước cờ của Hà Nội đã có hiệu quả. Bắc Kinh đã tôn trọng hơn đối thủ từ lâu của mình ở Đông Nam Á.

Việt Nam không phải chịu tác động từ tình trạng bế tắc. Việc có quan hệ kinh tế với Trung Quốc, với đặc trưng là thâm hụt thương mại có lợi cho Trung Quốc, không ngăn Việt Nam thử thách người láng giềng phương Bắc hùng mạnh của mình hết lần này đến lần khác. Tháng 9-10/2014, các nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam và Ấn Độ đã trao đổi các chuyến viếng thăm lẫn nhau và ký kết nhiều hiệp định, bao gồm hợp tác an ninh quốc phòng và hàng hải chặt chẽ hơn. Gây quan tâm đặc biệt là một hiệp ước kêu gọi công ty ONGC Videsh Limited thuộc sở hữu nhà nước của Ấn Độ “mở rộng sự hiện diện của họ ở Việt Nam và củng cố hơn nữa hợp tác trong việc thăm dò và các lĩnh vực khác giữa 2 nước trong ngành năng lượng”. Cần nhớ lại rằng Trung Quốc triển khai giàn khoan dầu là để đáp lại việc Việt Nam đề nghị cung cấp thêm các lô ngoài khơi cho công ty Ấn Độ ở những vùng biển Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền.

Trong những năm sau đó, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với các đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc như Ấn Độ và Nhật Bản. Tuy nhiên họ không phải chịu bất cứ phản ứng nào của Trung Quốc. Trên thực tế, thương mại biên giới giữa hai nước tiếp tục nở rộ. Đáng chú ý là thương mại với tỉnh Quảng Tây đã tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước lên tới gần 6,9 tỷ USD trong nửa đầu năm 2015 – mức cao nhất của bất kỳ thành phố biên giới nào ở Trung Quốc. Đầu năm 2017, Bắc Kinh vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Hà Nội; Hà Nội đã tăng lượng xuất khẩu sang Bắc Kinh 34,4% so với cùng kỳ năm trước.

Indonesia và Việt Nam cho thấy rằng có thể phân chia rạch ròi giữa việc cương quyết bảo vệ chủ quyền và quyền của một nước trên Biển Đông, và việc tăng cường quan hệ kinh tế với Bắc Kinh. Đã đến lúc Manila và Kuala Lumpur phải học hỏi từ những người hàng xóm của mình về cách đứng lên chống lại các chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh thông qua một quyết tâm được thể hiện rõ ràng.

Koh Swee Lean Collin là nghiên cứu viên Chương trình An ninh Biển, Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore. Bài viết được đăng trên The National Interest.

Trần Quang (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Trong thời gian từ giờ đến năm 2025, có khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách hiện tại, tức là từng bước củng cố quyền kiểm soát đối với các biển Hoa Đông và Biển Đông đồng thời tuyên bố các ý định hòa bình của nước này và viện đến lịch sử như một lời biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của nước này. Nước này sẽ tiếp tục tăng cường sự hiện diện của các tàu cảnh sát biển và tàu đánh cá với khả năng phòng thủ có vũ trang.

Đọc tiếp...

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Trong 20 năm qua, Bắc Kinh đã gặt hái được một số thành công trong việc thay đổi hiện trạng khu vực bằng chính sách láng giềng tốt. Nhưng rắc rối trong vấn đề Biển Đông dường như lại ngăn cản quá trình thực hiện những tham vọng của chủ nghĩa xét lại đối với khu vực trong những thập kỷ tới.

Đọc tiếp...

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc về vấn đề Biển Đông

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc  về vấn đề Biển Đông

Bản sắc kép của Trung Quốc là nguyên nhân cho  các tranh luận và mơ hồ về chiến lược trong nội bộ về vấn đề Biển Đông. Thêm vào đó, Trung Quốc chưa xác định liệu rằng vấn đề Biển Đông có thuộc lợi ích quốc gia cốt lõi của mình hay không cũng như chưa giải quyết được câu hỏi về thứ tự ưu tiên giữa các yêu sách trên Biển Đông và quan hệ Trung – Mỹ.

Đọc tiếp...

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Nhiều thực thể đảo (đảo/đá) và bãi cạn nửa nổi nửa chìm (đá ngầm, bãi cạn) ở Biển Đông từ lâu là đối tượng chú ý và tranh chấp của các nước khu vực. Bài viết sẽ tập trung vào hai vấn đề chính: (a) các quốc gia ven biển đã tuyên bố và hành động như thế nào đối với các thực thể đảo ở Biển Đông; (b) và một số đánh giá về địa vị pháp lý các thực thể này.

Đọc tiếp...

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Trong thời điểm mà cạnh tranh địa chính trị và chuyển giao quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương đang ngày càng gay gắt, lợi ích quốc gia của Anh không nên chỉ gói gọn trong việc theo chân các đồng minh quyền lực nhất mà phải đảm bảo rằng lợi ích của họ sẽ không ảnh hưởng tới lợi ích nền tảng của các quốc gia đồng minh.

Đọc tiếp...

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Trước những nguy cơ chiến lược tại Biển Hoa Đông và Biển Đông mà châu Âu, nhất là Pháp đang đối mặt, Pháp buộc phải dành lại sự quan tâm của mình đối với khu vực này.

Đọc tiếp...

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá  và hợp tác môi trường ở Biển Đông

Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông” là sản phẩm đầu tiên của Nhóm chuyên gia về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Mỹ (CSIS) điều phối. Mục đích của Bản Kế hoạch này là cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.

Đọc tiếp...

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Indonesia và Việt Nam cho thấy rằng có thể phân chia rạch ròi giữa việc cương quyết bảo vệ chủ quyền và quyền của một nước trên Biển Đông. Đã đến lúc Manila và Kuala Lumpur phải học hỏi từ những người hàng xóm của mình về cách đứng lên chống lại các chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh thông qua một quyết tâm được thể hiện rõ ràng.

Đọc tiếp...

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đã kêu gọi đất nước sẵn sàng cho một cuộc "chiến tranh nhân dân" trên biển. Các nhà lãnh đạo khu vực và Washington không được xem nhẹ những phát ngôn của Thường Vạn Toàn.

Đọc tiếp...

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Mìn được coi là “ninja” trong các cuộc chiến tranh, bởi tính chất thầm lặng, chí mạng và có phần khủng khiếp của nó. Vũ khí thầm lặng này không chỉ hiệu quả trong việc gây ra những thiệt hại nặng nề mà còn reo rắc nỗi sợ hãi và bất ổn.

Đọc tiếp...

Những thăng trầm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Những thăng trầm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Bài viết này sẽ xem xét phạm vi và các hạn chế trong việc giải thích cơ chế giải quyết tranh, đặc biệt là trong Vụ kiện ra Tòa Trọng tài về Biển Đông. Nghiên cứu sẽ đặt ra câu hỏi về phạm vi của cơ chế giải quyết tranh chấp theo phần XV của UNCLOS và hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Philippines đối mặt với thực tế mới ở Biển Đông

Philippines đối mặt với thực tế mới ở Biển Đông

Cách duy nhất mà Philippines có thể đối phó với Trung Quốc là phải tăng cường các mối liên minh của mình, không chỉ là quan hệ với Mỹ. Philippines có các mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và nhiều nước khác.

Đọc tiếp...

Không có Brexit từ Biển Đông

Không có Brexit từ Biển Đông

Những tuyên bố gần đây của các quan chức cấp cao Anh liên quan đến việc triển khai tàu chiến của nước này tới vùng Biển Đông tất nhiên đã gây ra một phản ứng mạnh mẽ từ Trung Quốc. Tuy nhiên không giống như Mỹ, Anh không có chương trình tự do hàng hải.

Đọc tiếp...

Không có COC thực chất?

Không có COC thực chất?

Trung Quốc có thể sẽ chấp nhận COC một khi họ thành công trong việc đạt được mục tiêu của mình trên Biển Đông. Đến lúc đó, COC sẽ thực sự chẳng còn ý nghĩa.

Đọc tiếp...

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Ngày 6/8/2017 tại Manila, Ngoại trưởng các nước ASEAN và Trung Quốc đã thông qua dự thảo khung COC. Nội dung của dự thảo khung và ý nghĩa đằng sau một số ngôn từ được sử dụng là gì? Những nội dung nào còn chưa được đề cập?

Đọc tiếp...

Năm trụ cột chiến lược của Mỹ tại Biển Đông

Năm trụ cột chiến lược của Mỹ tại Biển Đông

Chiến lược của Mỹ tại Biển Đông nên được triển khai dựa vào 5 trụ cột chính sau đây: luật pháp quốc tế, chính sách ngăn chặn, chính sách khuyến khích, cam kết ngoại giao và tập trung vào việc lấy ASEAN làm trung tâm.

Đọc tiếp...

ASEAN không nên rơi vào cái bẫy của Trung Quốc trên Biển Đông

ASEAN không nên rơi vào cái bẫy của Trung Quốc trên Biển Đông

Một COC mang tính ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không nằm trong lợi ích của Trung Quốc. Họ sẽ không thể tự do tiến hành hoạt động ở những nơi mà họ đang can dự ở Trường Sa.

Đọc tiếp...

Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông

Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông

Bài viết đánh giá sự phát triển và hiệu quả các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển nhằm đảm bảo an toàn và hoạt động lưu thông trên biển ở khu vực, giảm thiểu căng thẳng và ngăn ngừa xung đột. Cụ thể, tác giả sẽ phân tích các hiệp định đa phương ràng buộc LOSC, COLREG, hiệp định đa phương không ràng buộc CUES cũng như các hiệp định song phương giữa Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Mối nguy hại từ phát triển chung Trung Quốc - Philippines trên Biển Đông

Mối nguy hại từ phát triển chung Trung Quốc - Philippines trên Biển Đông

Bất chấp sự lạc quan của Duterte về các cơ hội trước mắt, vốn được Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị nhắc lại trong chuyến thăm của ông tới Manila vừa qua, điều này che đậy những rủi ro nghiêm trọng liên quan đến quá khứ, bối cảnh hiện tại và tương lai gần.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 9608 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin