20 - 8 - 2019 | 19:10
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Khi các luật sư giỏi viết sai lịch sử: các bằng chứng thiếu tin cậy và tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông

Khi các luật sư giỏi viết sai lịch sử: các bằng chứng thiếu tin cậy và tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông

Email In PDF.

Bốn mươi năm thảo luận và tranh cãi về tranh chấp lãnh thổ Biển Đông đã bị bóp méo theo hướng câu chuyện của Trung Quốc mà ít dựa trên cơ sở trên thực tế. Điều này đã đưa đến những hệ lụy vượt ra ngoài khuôn khổ của giới học thuật, tác động đến cấp cao nhất của giới hoạch định chính sách. Đây là thời điểm để thế hệ các chuyên gia pháp lý mới xem xét lại các bằng chứng và đưa đến những kết luận mới.

 

Tóm tắt

Phán quyết gần đây của Tòa Trọng tài trong vụ Philippines kiện Trung Quốc thúc đẩy các luật sư xem xét lại những bằng chứng lịch sử do các bên tranh chấp Biển Đông đưa ra. Mặc dù Tòa Trọng tài không giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền hay ranh giới lãnh thổ, nhưng Tòa vẫn có quyền đặt nghi vấn về quyền lịch sử Trung Quốc tuyên bố để củng cố yêu sách của nước này. Các bằng chứng mới từ những nguồn khác cũng cho thấy thảo luận về vấn đề này không nên chỉ giới hạn trong những lập luận được đưa ra trong một số bài viết cách đây 30 năm. Xem xét kỹ các tài liệu được sử dụng trong các bài viết này cho thấy chúng chủ yếu dựa vào các nguồn của Trung Quốc. Các nghiên cứu lịch sử gần đây đưa ra những tư liệu mới về quá trình phát triển của các yêu sách chủ quyền đối lập tại Biển Đông. Tuy nhiên, các cuộc thảo luận pháp lý quốc tế vẫn chưa xem xét những tư liệu này. Bài viết sẽ điểm một số tác phẩm nổi bật trong lĩnh vực này và kêu gọi các bên đánh giá lại những tài liệu này. Theo đó, các bên có thể thảo luận về tranh chấp dựa trên cơ sở của các bằng chứng có thể xác minh được, đồng thời được phạm vi hóa thay vì chỉ dựa vào sự khẳng định mang tính dân tộc chủ nghĩa.

Giới thiệu

Tranh chấp Biển Đông bắt nguồn từ một số lập luận về chủ quyền lãnh thổ gây nhiều tranh cãi nhất vào đầu thế kỷ 21. Có năm nước, sáu bên tranh chấp các đảo, đá ở Biển Đông bao gồm Trung Quốc (Trung Hoa Dân Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc), Malaysia, Philippines, Việt Nam và Brunei. Những yêu sách này ngày càng phức tạp bởi tranh chấp về quyền đối với vùng biển được xác định từ các thực thể cụ thể; việc phân định các vùng biển; và khả năng các quốc gia có thể ngăn cản hoạt động của các tàu quân sự trong vùng biển của mình.

Các tranh chấp này có ảnh hưởng rất lớn bởi tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông đối với Trung Quốc, Mỹ và các quốc gia khác. Một vài nhà quan ước tính giá trị thương mại đi qua Biển Đông mỗi năm là hơn 5 nghìn tỷ USD.[1] Khu vực này cũng là tuyến đường biển quan trọng để các tàu quân sự trung chuyển giữa Châu Á, Trung Đông và Châu Âu. Theo góc nhìn của các nhà phân tích phương Tây, Biển Đông cũng là phép thử chiến lược cho việc trỗi dậy thành cường quốc của Trung Quốc. Các học giả này đánh giá quan điểm của Trung Quốc đối với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS)[2] sẽ phản ảnh việc giới lãnh đạo nước này trong tương lai sẽ tuân thủ những quy tắc của hệ thống quốc tế hiện hành hay thách thức trật tự này.[3]

Nhằm làm rõ các tranh chấp, Philippines đã chính thức kiện Trung Quốc lên Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS. Mặc dù Tòa không thể giải quyết vấn đề liên quan đến chủ quyền hay phân định biển, nhưng Tòa đã làm rõ liệu Trung Quốc có thể khẳng định “quyền lịch sử” ở Biển Đông hay không. Theo phán quyết ngày 12/7/2016: “Sau khi xem xét nội dung và bối cảnh của Công ước, Tòa Trọng tài khẳng định bác bỏ mọi quyền lịch sử một quốc gia có thể từng có ở khu vực hiện nay là một phần trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia khác.”[4] Nói cách khác, Trung Quốc không thể yêu sách quyền đối với tài nguyên biển vượt quá các quyền được quy định trong UNCLOS. Việc phủ định trực tiếp quyền lịch sử này, mà Trung Quốc dựa vào để củng cố yêu sách biển mơ hồ của nước này, có thể là một động lực cho việc xem xét một cách nghiêm túc hơn về câu chuyện này.

Tranh chấp Biển Đông chỉ bắt đầu hình thành từ những năm 1900. Mặc dù các bên yêu sách hiện nay đưa ra các bằng chứng sớm hơn để củng cố yêu sách của mình, nhưng rõ ràng giữa các bên không có tranh chấp bất kỳ hòn đảo nào trước thế kỷ 20. Bài viết này chỉ ra rằng tranh chấp đầu tiên diễn ra giữa Trung Quốc (nhà Thanh) và Nhật Bản đối với đảo Pratas, bắt nguồn từ việc phát hiện một thương nhân Nhật Bản tiến hành hoạt động khai thác phân chim. Sự kiện trên dẫn đến việc Trung Quốc bồi thường cho thương nhân này và Nhật Bản công nhận yêu sách của Trung Quốc vào cuối năm 1909. Điều này cũng dẫn đến việc Trung Quốc đưa ra yêu sách đối với một số thực thể tại quần đảo Hoàng Sa vào tháng 6/1909.[5] Tranh chấp mở rộng trong những năm 1920 và 1930, với việc Pháp, các chính quyền khác nhau của Trung Quốc, và Nhật Bản theo đuổi các yêu sách tranh chấp ban đầu là Hoàng Sa và sau đó là Trường Sa.

Việc các bên tranh chãi gay gắt về lịch sử của tranh chấp ảnh hưởng lớn đến các nghiên cứu về yêu sách. Mục tiêu tìm kiếm một câu chuyện rõ ràng đã bị cản trở bởi những bí mật của chính quyền, tiếp cận hạn chế đối với các nguồn dữ liệu và rào cản ngôn ngữ. Tranh cãi trong giới luật pháp quốc tế và quan hệ quốc tế bị hạn chế do thiếu gắn kết với các lĩnh vực nghiên cứu khác; đặc biệt việc xem xét các nghiên cứu lịch sử đã bị bỏ qua. Tuy nhiên, việc số hóa tài liệu khiến các dữ liệu vốn không thể tiếp cận lần đầu tiên được tiếp cận một cách dễ dàng. Hiện nay các nhà nghiên cứu dễ dàng hơn trong việc tìm tài liệu phản biện các câu chuyện được khẳng định trước đó.

Trong nỗ lực nắm bắt nguồn gốc của tranh chấp, nhiều người viết về pháp lý đã coi các bài viết của một bên này hay bên khác trong tranh chấp là bằng chứng của sự thật. Tác giả cho rằng nhiều văn bản trong số này là nhằm tạo ra yêu sách thay vì là bằng chứng cho các yêu sách sẵn có. Để hiểu được toàn bộ nguồn gốc của tranh chấp, cần có quan điểm phản biện trước mọi bằng chứng các bên đưa ra. Bài viết chỉ ra rằng, thông qua các nghiên cứu chi tiết về các nguồn tham khảo được sử dụng trong một số bài nghiên cứu nổi bật và so sánh với kết quả từ những nghiên cứu lịch sử gần đây, các nguồn tham khảo cơ bản cho việc thảo luận về Biển Đông trong cộng đồng luật quốc tế phạm phải những sai lầm nghiêm trọng. Những sai lầm này dẫn đến việc “các luật sư giỏi” đã viết “sai lịch sử”  - hoàn toàn khác biệt với các bằng chứng đã được xác minh. Những tác giả này sử dụng những lập luận không có cơ sở, dựa vào tư duy chủ nghĩa dân tộc, hơn là đánh giá một cách trung lập. Việc viết “sai lịch sử” khiến các tác giả này đưa ra hàng loạt kết luận sai lệch.

Những phân tích đầu tiên bằng tiếng Anh

Có rất ít hoặc hầu như không có các phân tích bằng tiếng Anh về tranh chấp Biển Đông trước năm 1974. Những bài viết đầu tiên chỉ xuất hiện sau “Trận chiến Hoàng Sa” vào tháng Giêng năm 1974, khi Trung Quốc chiếm nửa phía Tây Hoàng Sa do Việt Nam kiểm soát. Các bài viết pháp lý đầu tiên là của học giả người Trung Quốc làm việc tại Mỹ Đào Thành (Tao Cheng) trong tạp chí Luật Quốc tế Texas (Texas International Law Journal) do sinh viên biên tập vào năm 1975[6] và Khâu Hoành Đạt (Hungdah Chiu), cùng đồng nghiệp người Hàn Quốc Choon-Ho Park, trong bài viết được đăng cùng tạp chí trên năm 1975.[7] Cho tới  nay, các bài viết này vẫn có ảnh hưởng lớn. Hầu hết các phân tích pháp lý về tranh chấp Biển Đông sau này đều trực tiếp trích dẫn hai công trình trên hoặc tham khảo các nghiên cứu dựa trên hai công trình này. Điều này được chứng minh thực tế là một nghiên cứu năm 2014 về tranh chấp Biển Đông, do Trung tâm Nghiên cứu Hải quân Mỹ (U.S. Center for Naval Analyses) thực hiện, đã trích dẫn nghiên cứu của Đào Thành 26 lần và của Khâu Hoành Đạt- Choon-ho Park 60 lần.[8]

Những năm sau này, các nhà nghiên cứu khác đã tham gia vào cuộc tranh luận - đáng chú ý có nhà Hán học Dieter Heinzig[9] và nhà địa lý người Mỹ Marwyn Samuels.[10] Các bài viết của hai tác giả này ảnh hưởng lớn tới các bài viết sau này về tranh chấp Biển Đông dưới góc độ của khoa học chính trị, quan hệ quốc tế và luật quốc tế. Google Scholar thống kê rằng các bài viết của Khâu Hoành Đạt- Choon-ho Park đã được trích dẫn bởi 79 bài viết khác, trong khi cuốn sách của Samuels được trích dẫn 143 lần. Loạt các bài viết lần thứ hai vào những năm 1990s - sau sự kiện Trung Quốc chiếm 6 đảo ở Trường Sa năm 1988 và Bãi Vành Khăn năm 1994[11]  - đã sử dụng các bài viết trước đó như nguồn chính để cung cấp bối cảnh lịch sử. Các tác giả có bài viết được trích dẫn có thể kể đến như Brian Murphy 1994 và Thẩm Kiến Minh (Jianming Shen) vào năm 1997[12]  và 2002[13]  với lần lượt là 34 và 35 lượt trích dẫn; Chi-kin Lo với cuốn sách xuất bản năm 1989[14]  được trích dẫn 111 lần. Các trích dẫn này có lẽ chỉ là bề nổi của tảng băng chìm vì các bài viết của thế hệ sau còn trích lại hàng trăm lần nữa. Ví dụ như cuốn sách năm 2014 của Stefan Talmon và Giả Bình Bình (Jia Bing Bing) về vụ việc Philippines kiện Trung Quốc[15] cũng dẫn các bằng chứng lịch sử từ những bài viết đã liệt kê bên trên.

Điểm chung của tất cả các tài liệu này là sử dụng các bài báo bằng Tiếng Trung làm nguồn tham khảo chính. Các tài liệu tham khảo Tiếng Trung được công khai vào thời điểm khi các thảo luận về Biển Đông đang được quan tâm. Đây không phải là các công trình nghiên cứu của các chuyên gia lịch sử nhưng lại khẳng định yêu sách có phần thiên lệch với những dẫn chứng khá hạn chế. Bài viết năm 1975 của Đào Thành[16] chủ yếu dựa vào các nguồn của Trung Quốc với các thông tin bổ sung từ báo chí Mỹ. Tài liệu tham khảo quan trọng nhất là ấn phẩm Bình luận Ngoại giao (Wai Jiao Ping lun/Foreign Affairs Review) tại Thượng Hải từ năm 1933 và 1934 và Tân Á Hàng Tháng (Xin Ya Xiya yue kan/New Asia Monthly) từ năm 1935. Các tài liệu này được bổ sung thêm các nguồn từ phiên bản 1974 của Minh Báo hàng tháng (Ming Pao Monthly) ở Hồng Kông. Các báo khác được trích dẫn lại bao gồm ấn phẩm 1933 của Tin tức Quốc gia Hàng tuần (Guo Wen Zhou Bao/National News Weekly) xuất bản ở Thượng Hải, Nhật báo Nhân dân (Renmin Ribao/People’s Daily) và Thời báo New York (The New York Times). Đào Thành đã không trích dẫn bất cứ nguồn tài liệu tiếng Pháp, tiếng Việt, và tiếng Philippines, ngoại trừ bài báo năm 1933 trên La Geographie được dịch và in lại trên ấn phẩm Bình luận Ngoại giao.

Bài báo 1975 của Khâu Hoành Đạt và Choon-Ho Park[17] chủ yếu dựa vào các nguồn tương tự. Trong các phần quan trọng, bài báo trích dẫn các bằng chứng dựa trên một bài báo công bố vào năm 1933 trên ấn phẩm Bình luận Ngoại giao[18]Tờ Ngoại giao Hàng tháng (Wai Jiao Yue Bao/Diplomacy Monthly),[19] Địa lý Hàng tháng (Fan Zhi yue Kan/Geographic Monthly) từ năm 1934,[20] cũng như Tin tức Quốc gia Hàng tuần Công báo của Bộ Ngoại giao Trung Quốc (Wai Jiao Bu Gong Bao/Gazette of the Ministry of Foreign Affairs).[21] Bài báo bổ sung thông tin từ các nguồn tài liệu thu thập của nhà địa lý Trịnh Tứ Viết (Zheng Ziyeu), làm việc cho Bộ Nội vụ Trung Hoa Dân Quốc, và công bố trên Thông tin địa lý chung về các đảo trên Biển Nam Hải (Nanhai Zhudao Dili Zhilue/General Records on the Geography of Southern Islands) năm 1947[22] và các tuyên bố của Trung Hoa Dân Quốc từ năm 1956[23] và 1974.[24]

Khâu Hoành Đạt và Choon-ho Park sử dụng một số tài liệu tiếng Việt, chủ yếu từ các thông cáo báo chí hay tờ thông tin do Đại sứ quán Việt Nam tại Washington cung cấp. Hai tác giả này cũng trích dẫn  một số “tài liệu chưa được công bố mà họ sở hữu”. Tuy nhiên, phần lớn nguồn của họ là từ báo chí Trung Quốc.

Trong một nghiên cứu một năm sau đó, Heinzig[25] đặc biệt dựa vào các ấn phẩm xuất bản của Hồng Kông được công bố sau sự kiện Hoàng Sa và nhằm mục đích ủng hộ yêu sách của Trung Quốc, bao gồm Niên đại 70 Hàng tháng (Qishi Niandai/Seventies Monthly) và Minh báo hàng tháng,[26] được công bố lần lượt vào tháng 3 và tháng 5/1974. Khuôn mẫu do Đào Thành, Khâu Hoành Đạt và Choon-ho Park, và Heinzig đặt ra được lặp lại trong cuốn sách của Marwyn Samuel trong khoảng thời gian đó. Trong phần giới thiệu sách, Samuel tự thừa nhận các nguồn tham khảo nghiêng về phía Trung Quốc, khi khẳng định:

Đây không phải một nghiên cứu chủ yếu về lịch sử biển, chính sách biển hay các lợi ích của Philippines hay Việt Nam. Ngay cả khi các yêu sách và các yêu sách phản biện được đề cập chi tiết, nghiên cứu đúng hơn hướng tới đặc điểm thay đổi trong chính sách biển Trung Quốc.[27]

Nhìn chung, Samuel thừa nhận rằng nghiên cứu Châu Á của ông chủ yếu tập trung vào các nguồn tài liệu tham khảo của Đài Loan. Tuy nhiên, các dữ liệu quan trọng liên quan đến hoạt động của Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông đầu thế kỷ 20 chỉ được giải mật vào khoảng năm 2008/2009, rất lâu sau khi công trình của ông được công bố.[28]

Bối cảnh của các nguồn tài liệu này rất quan trọng. Năm 1933 là thời điểm Pháp chính thức thôn tính nhiều thực thể ở Trường Sa - gây ra làn sóng giận dữ khắp Trung Quốc. Khoảng thời gian sau tuyên bố của Pháp, vào ngày 14/7/1933,[29] là thời điểm các học giả và quan chức chính phủ Trung Quốc bắt đầu nỗ lực chung nhằm cố gắng xác định và thiết lập các bằng chứng cho yêu sách các thực thể ở Biển Đông. Vào năm 1956, một doanh nhân Philippines Tomas Cloma đã yêu sách hầu hết Trường Sa cho đất nước độc lập của ông với tên gọi “Vùng đất tự do” - vấp phải sự phản đối của Trung Hoa Dân Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và Việt Nam Cộng hòa; và năm 1974 là năm xảy ra sự kiện Hoàng Sa. Các bài báo công khai trong ba giai đoạn này không thể coi là nguồn chứng cứ trung lập và công bằng. Hơn nữa, các bài báo này nhiều khả năng sẽ thiên vị quan điểm của một quốc gia cụ thể. Điều này không có nghĩa rằng các bài báo trên không chính xác, nhưng cần thận trọng thẩm tra lập luận trong các bài báo này với những nguồn chính. Không phải được các tác giả trích dẫn là đã được chứng thực.

Trong suốt bốn thập kỷ qua, các nguồn thông tin mới về lịch sử của Biển Đông được khai thác và các bằng chứng mới đã được công khai rộng rãi. Kết quả là, chúng ta nhận thấy tất cả các nghiên cứu trước đây đều mắc phải những vấn đề lớn. Mặc dù là những nhà luật pháp xuất sắc, các tác giả này không phải là những nhà lịch sử giỏi. Họ chủ yếu dựa vào các nguồn không đáng tin cậy, không xem xét bối cảnh và ngôn ngữ cụ thể khi đi đến kết luận. Lịch sử sai hay không hoàn thiện dẫn đến nhưng nghiên cứu kém chất lượng. Các vấn đề này sau đó tiếp tục lặp lại và phổ biến trong nhiều nghiên cứu khác. Đến một mức độ nào đó, nó sẽ trở thành một nguồn tham khảo chính thống đối với các diễn biến của tranh chấp. Đã đến lúc các nghiên cứu này cần được đánh giá lại.

Các bằng chứng trước thế kỷ 19

Trong khuôn khổ bài viết không thể đề cập mọi yêu sách các tác giả đã đưa ra trong các sự kiện trước thế kỷ 19. Tóm lại, các tác phẩm của Đào Thành, Khâu Hoành Đạt và Choon-ho Park, và Samuels có nhận định chung rằng Trung Quốc là cường quốc về hải quân, thương mại, nghề cá ở Biển Đông. Ví dụ, Đào Thành đã viết: “Biển Đông là một phần quan trọng trong tuyến đường biển từ Châu Âu sang phía Đông từ thế kỷ 16. Đây là thiên đường cho các ngư dân từ Đảo Hải Nam, và cửa ngõ cho thương nhân Trung Quốc từ phía nam Trung Quốc xuống Đông Nam Á từ những ngày đầu.”[30]

...

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Bill Hayton, nhà nghiên cứu tại Chương trình Nghiên cứu Châu Á, Viện Nghiên cứu Chatham House, London, Vương quốc Anh. Bài viết được đăng trên Ocean Development & International Law, Vol. 48, 2017.

Thùy Anh (dịch)

Tuấn Đinh (hiệu đính)

Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.

 



[1]B. S. Glaser, “Armed Clash in the South China Sea: Contingency Planning Memorandum Update” (2015), Council on Foreign Relations, www.cfr.org/sasia-and-pacific/conflict-south-china-sea/p36377.

[2] Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, 1833 U.N.T.S.397

[3]A. S. Erickson, “America’s Security Role In The South China Sea,” Naval War College Review, 69 (2016): 7–20.

[4]In the Matter of the South China Arbitration (the Philippines and China), Award, 12/7/2016, đoạn 247, trang web của Tòa Trọng tài Thường trực, www.pca-cpa.org.

[5]B. Hayton, The South China Sea: The Struggle for Power in Asia (New Haven, CT: Yale University Press, 2014), 65.

[6]Cheng Tao, “Dispute over the South China Sea Islands,” Texas International Law Journal 10 (1975): 265–277.

[7]H. Chiu và C. H. Park, “Legal Status of the Paracel and Spratly Islands,” Ocean Development & International Law 3 (1975): 1–28.

[8]Pete Pedrozo, “China Versus Vietnam: An Analysis of the Competing Claims in the South China Sea,” Center for Naval Analyses, tháng 8/2014, www.cna.org/sites/default/files/research/IOP-2014-U-008433.pdf.

[9]D. Heinzig, Disputed islands in the South China Sea: Paracels, Spratlys, Pratas, Macclesfield Bank, (Hamburg: Institut fur€ Asienkunde, 1976).

[10]Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea (New York, NY: Methuen, 1982).

[11]Brian K. Murphy, “Dangerous Ground: the Spratly Islands and International Law,” Ocean and Coastal Law Journal 1 (1994): 187–212.

[12]Jianming Shen, “International Law Rules and Historical Evidence Supporting China’s Title to the South China Sea Islands,” Hastings International and Comparative Law Review 21 (1997–1998): 1–75.

[13]Jianming Shen, “China’s Sovereignty over the South China Sea Islands: A Historical Perspective,” Chinese Journal of International Law 1 (2002): 94–157.

[14]Chi-kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes: The Case of the South China Sea Islands (London: Routledge, 1989).

[15]S. Talmon and B. B. Jia, The South China Sea Arbitration: A Chinese Perspective (London: Bloomsbury Publishing, 2014).

[16] Cheng, xem chú thích số 6.

[17] Chiu và Park, xem chú thích số 7.

[18]Wai Jiao Ping Lun [Wai-chiao p’ing-lun/The Foreign Affairs Review], Shanghai, vol. 2, no. 10 (tháng 10/1933): 64–65.

[19]Wai Jiao Yue Bao [ Wai-chiao yueh€-pao/Diplomacy Monthly], quyển 3, số. 3 (Peiping [Peking], 15/9/1933): 78.

[20]Fanzhi Yuekan [Fan-chih yueh€-k’an/Geography Monthly], quyển 7, số. 4 (Nanking, 1/4/1934): 2.

[21]Wai Jiao Bu Gongbao [Wai-chiao-pu kung-pao/Gazette of the Ministry of Foreign Affairs] quyển 6, số 3 (July–September 1933), 208.

[22]Zheng Ziyue [Cheng Tzu-yueh],€ Nanhai Zhudao Dili Zhilue [Nan-hai chu-tao ti-li chih-lueh€] (A Brief Geography of the South Sea Islands) (Shanghai: Shang wu yin shu guan [Shang-wu ying-shu-kuan], 1947).

[23]Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Hoa Dân Quốc, được tóm tắt trong “Vietnamese Claim of Sovereignty Refuted,” Free China Weekly, June 26, 1956, tr. 3; Chung-yang jih-pao, 11/6/1956, p. 6; và Shao Hsun-cheng, “Chinese Islands in the South China Sea,” People’s China, no. 13 (Peking, 1956), Foreign Languages Press.

[24]Lien-ho-pao [United Daily News], ấn phẩm nước ngoài, 25/2/1974, tr. 3; “Memorandum on Four Large Archipelagoes” Bộ Ngoại giao Trung hoa Dân quốc (tháng 2/1974).

[25]Heinzig, xem chú thích số 9.

[26]Ming Pao Yueh€-k’an, no. 101, tháng 5/1974.

[27]M. Samuels, xem chú thích số 10, tr. xii.

[28]C. P. C. Chung, “Since Time Immemorial”: China’s Historical Claim in the South China Sea, MA Thesis (University of Calgary, 2013), 8.

[29]Thông báo công khai sau khi công bố các lưu ý trên the Journal Officiel de la Republi-que Francaise vào ngày 15/7/1933, tr. 7794, and 26/7/1933, tr. 7837.

[30]Cheng, xem chú thích số 6, tr. 266.

 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Tại sao Trung Quốc lại tập trung vào Biển Đông đến như vậy và tại sao lại vào thời điểm này? Nghiên cứu cho thấy, một phần Trung Quốc được thúc đẩy bởi nhận thức về cơ hội, một phần vì nhận thức về sự suy yếu của Mỹ và một phần bởi nhu cầu lên tiếng về những tuyên bố pháp lý của nhà nước.

Đọc tiếp...

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Người ta thường cho rằng cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại phần XV Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) được áp dụng rất hạn chế, phản ánh ý đồ của những người soạn thảo UNCLOS. Vì vậy, các tòa trọng tài cần diễn giải phần XV một cách thận trọng, lưu ý đến những giới hạn về thẩm quyền của toà. Tuy nhiên, Phán quyết Vụ kiện Biển Đông đã đi ngược lại với cách tiếp cận này.

Đọc tiếp...

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Bài viết lập luận rằng các bất ổn cường độ thấp sẽ xảy ra trong tranh chấp biển hoặc cạnh tranh sức mạnh trên biển; tuy nhiên, ít có khả năng tạo ra chu kỳ leo thang kéo dài bởi đặc điểm của môi trường chiến lược biển khu vực.

Đọc tiếp...

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Thời điểm hiện tại, tình hình Biển Đông đang đi vào thời điểm quan trọng khi những bước tiến của Trung Quốc đang tích tụ dần còn dư địa cho Mỹ hành động đang giảm đi, và các nhà quan sát tại khu vực thì đang tự hỏi liệu Mỹ đã sẵn sàng đối mặt với thách thức này hay chưa. Và Mỹ vẫn đang loay hoay đi tìm một chiến lược.

Đọc tiếp...

"Không độc chiếm" Biển Đông?

Dù có sự khác biệt giữa Vương quốc Trung Hoa và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng Simon nhận thấy Trung Quốc vẫn giữ khuynh hướng sơ khởi đó là thưởng cho "những quốc gia sẵn sàng thừa nhận vị thế bá chủ khu vực của mình" trong khi phạt "những quốc gia từ chối tuân phục". Để thấy rõ nhất cách tiếp cận này của Trung Quốc, ta có thể nhìn ngay vào quan hệ của nước này tại Đông Nam Á trong năm 2018.

Đọc tiếp...

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Bài viết phân tích 3 trường hợp nghiên cứu trong lĩnh vực - du lịch, khai thác năng lượng và cơ sở hạ tầng - từ đó nêu bật vai trò các chủ thể doanh nghiệp Trung Quốc đã làm thay đổi chính sách Biển Đông của Trung Quốc như thế nào.

Đọc tiếp...

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Bài phân tích đánh giá việc Bắc Kinh xác định chiến lược biển của mình trong các tuyên bố công khai của lãnh đạo. Mục đích là nhằm hiểu được nhiều hơn về ý đồ và ưu tiên chiến lược của Trung Quốc trong lĩnh vực biển; đồng thời cung cấp cho giới hoạch định chính sách và các chuyên gia an ninh quốc gia vốn kiến thức cụ thể và đầy đủ nhất để đối trọng với Trung Quốc trong các vấn đề trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông khiến các nước trong khu vực cảnh giác. Thực tế này thúc đẩy Philippines kiện Trung Quốc. Vào năm 2016, tòa đã đưa ra phán quyết. Hành động và phản ứng của các bên liên quan tới phán quyết và các sự kiện chính trị khác đã khiến năm 2016 trở thành một năm đáng chú ý. Cuộc bầu cử Tổng thống ở Philippines và Mỹ cũng bổ sung những động lực khác khiến tình hình khu vực thay đổi.

 

Đọc tiếp...

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Bài viết so sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Mỹ, cụ thể là các hình thức hội nhập kinh tế và cách tiếp cận địa chính trị tại Đông Nam Á. Các tác giả so sánh động cơ và lý do các cường quốc lớn và hạng hai trong khu vực chấp nhận hoặc tranh cãi về các chính sách của Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Các ghi chép của Trung Quốc cho thấy chuyến thám hiểm chính thức đầu tiên của Trung Quốc tới Hoàng Sa vào năm 1902 chưa từng diễn ra. Thay vào đó, một cuộc thám hiểm bí mật được tiến hành nhiều thập kỷ sau đó để ngụy tạo bằng chứng khảo cổ học trên quần đảo Hoàng Sa nhằm củng cố yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông dường như đang được cải thiện. Trong khu vực, người ta nói đến hợp tác kinh tế và khoa học, khai thác chung tài nguyên biển, bộ quy tắc ứng xử. Nhưng thực tế hoàn toàn khác và chúng ta không thể quên một điều cốt yếu: Sự mất cân xứng về công nghệ và quân sự, những cơ hội và nguy hiểm của việc khai thác chung... có lợi cho Bắc Kinh!

Đọc tiếp...

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Một liên minh hiệu quả ở Biển Đông sẽ là thứ giúp bảo vệ các quyền lợi mà các nước Đông Nam Á được hưởng trong vùng biển của chính họ, đồng thời khiến Bắc Kinh phải đưa ra những nhượng bộ dài hạn hoặc phải trả một cái giá cắt cổ về ngoại giao và kinh tế. Nhưng để làm được điều đó, Washington cần đưa chính sự sáng tạo và tham vọng mà họ đã thể hiện ở biển Hoa Đông đến Biển Đông.

Đọc tiếp...

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Để khôi phục được vị thế, Mỹ và các đồng minh của nước này cần phải điều chỉnh lại cách hiểu của họ về chiến dịch của Trung Quốc trên Biển Đông và định hướng lại chiến lược của Mỹ nhằm đánh bại nó.

Đọc tiếp...

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Bài phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn nhận định tình hình Biển Đông mà ông đã nắm được qua cuộc trao đổi với chuyên gia, học giả các viện nghiên cứu chính sách nhân chuyến công tác tới Mỹ, Nhật Bản và Úc gần đây, đồng thời đưa ra một số phán đoán và phân tích về tình hình địa chính trị ở Biển Đông hiện nay.

Đọc tiếp...

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Vài năm trở lại đây, vấn đề khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Philippines thu hút sự chú ý rất lớn từ các quốc gia trong và ngoài khu vực. Trên quan điểm của Trung Quốc, triển vọng khai thác chung giữa hai nước có khả thi? Cần phải giải quyết những thách thức nào để đi đến thỏa thuận khai thác trên thực tế?

Đọc tiếp...

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7310 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin