25 - 9 - 2018 | 22:09
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Thế Lưỡng nan về Đối ngoại của ông Tập Cận Bình: Lựa chọn Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” hay Biển Đông?

Thế Lưỡng nan về Đối ngoại của ông Tập Cận Bình: Lựa chọn Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” hay Biển Đông?

Email In PDF.

Bài viết đánh giá Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” hay việc thúc đẩy lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ giúp củng cố vị thế chính trị của ông Tập Cận Bình hiệu quả hơn. Đây là vấn đề rất quan trọng đối với các quốc gia khu vực, đặc biệt là các bên tranh chấp ở Biển Đông.

 

 

 

Bài viết xem xét các yếu tố về lãnh đạo, hiệu quả chính trị và lợi ích quốc gia của Trung Quốc để tìm hiểu quá trình ra quyết sách đối ngoại của nước này. Trái với phân tích về vai trò trung tâm của nhà nước, bài viết cho rằng quan điểm của nhà lãnh đạo tối cao về hiệu quả chính trị là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quá trình ra quyết sách đối ngoại. Và cái gọi là lợi ích quốc gia thường được sử dụng để phục vụ các nghị trình chính trị đặc biệt. Cụ thể, bài viết đánh giá Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” (One Belt, One Road - OBOR) hay việc thúc đẩy lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ giúp củng cố vị thế chính trị của ông Tập Cận Bình hiệu quả hơn. So sánh hai vấn đề này cùng với các yếu tố về tính khả thi, tầm quan trọng và chuẩn mực đạo đức. Cuối cùng, bài viết kết luận rằng OBOR dường như được sử dụng hiệu quả hơn để tăng cường vị thế chính trị của ông Tập, điều này sẽ ảnh hưởng quan trọng đến xu hướng chính sách đối ngoại Trung Quốc trong tương lai.

Từ khóa: Tập Cận Bình, Một Vành đai, Một Con đường, Biển Đông, quá trình ra quyết sách đối ngoại của Trung Quốc.

Kể từ khi ông Tập Cận Bình trở thành Chủ tịch nước, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc và người đứng đầu Quân ủy Trung ương Trung Quốc vào năm 2012-2013, người ta quan tâm rất nhiều đến phong cách lãnh đạo và chính sách đối ngoại của ông.[1] Dưới sự lãnh đạo của ông Tập, một số sáng kiến quan trọng về ​​chính sách đối ngoại đã được triển khai, trong đó áp dụng chính sách nghiêm khắc hơn với Bắc Triều Tiên và thiết lập một Vùng Nhận diện Vòng không (ADIZ) ở Biển Hoa Đông. Ngoài ra, trong cuộc gặp thượng đỉnh giữa hai nhà lãnh đạo Mỹ - Trung vào tháng 6 năm 2013, ông Tập kêu gọi xây dựng "mối quan hệ nước lớn kiểu mới", theo đó Trung Quốc và Mỹ sẽ cố tránh xung đột, tăng cường hợp tác và phát triển mối quan hệ đôi bên cùng có lợi.[2] Có thể nói rằng, kể từ ông Tập trở thành nhà lãnh đạo Trung Quốc, chính sách đối ngoại của Trung Quốc đã thay đổi rõ ràng, từ chính sách “dấu mình chờ thời” (taoguang yanghui) đã được duy trì suốt hai thập kỷ sang “nỗ lực đạt thành công” (fenfa  youwei).[3]

Đối với khu vực Đông Nam Á, và đặc biệt là tranh chấp Biển Đông, Ông Tập có một số quyết sách khá cứng rắn. Ví dụ, tháng 5 năm 2014 Trung Quốc triển khai giàn khoan HYSY-981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ), gây ra cuộc khủng hoảng lớn trong quan hệ Việt - Trung. Đáng chú ý hơn, từ cuối năm 2013, Trung Quốc bắt đầu cải tạo bảy thực thể mà nước này kiểm soát ở Quần đảo Trường Sa thành những đảo nhân tạo lớn khiến các nước cáo buộc rằng Bắc Kinh đang "quân sự hóa" các tranh chấp.[4] Và vào tháng 1 năm 2013, Trung Quốc đã từ chối tham gia vụ kiện mà Philippines khởi xướng theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) để phản bác yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông, và sau đó nước này đã bác bỏ phán quyết cuối cùng mà Tòa đưa ra vào ngày 12 tháng 7 năm 2016.[5]

Cùng với việc theo đuổi một chính sách quyết đoán hơn ở Biển Đông, ông Tập cũng phát đi tín hiệu rõ ràng về thiện chí và mong muốn hợp tác với các nước Đông Nam Á. Có lẽ quan trọng nhất là đề xuất của ông Tập về "Vành đai kinh tế Con đường Tơ lụa" và "Con đường Tơ lụa trên Biển của thế kỷ 21" công bố trong tháng 10 năm 2013 - được gọi chung là Sáng kiến "Một vành đai, Một con đường" ​​(OBOR) - nhằm mục đích thúc đẩy phát triển chung, sự thịnh vượng và hợp tác giữa Trung Quốc và nhiều quốc gia ở châu Á. OBOR cũng nhằm định hướng lại cơ cấu kinh tế trong nước của Trung Quốc bằng cách tăng cường sự kết nối và hợp tác giữa Trung Quốc và phần còn lại của lục địa Á-Âu. OBOR còn là một công cụ hữu ích để Trung Quốc định hình các quy tắc và chuẩn mực quốc tế, cũng như tăng ảnh hưởng đối với trật tự kinh tế toàn cầu, tất cả điều này đều rất quan trọng đối với hai mục tiêu lớn của ông Tập là hoàn tất “Giấc mơ Trung Hoa” và “công cuộc phục hưng dân tộc” trên bình diện quốc tế.[6]

Nhưng chính sách quyết đoán của ông Tập trong vấn đề Biển Đông và sáng kiến OBOR có đối lập nhau hay không? Ông Tập ở trong tình thế rất khó khăn khi vừa phải thúc đẩy hợp tác đối với sáng kiến OBOR, đồng thời triển khai chính sách quyết đoán ở Biển Đông. Trong thập kỷ qua, các yêu sách lãnh thổ và quyền tài phán của Trung Quốc ở Biển Đông luôn gây nhiều tranh cãi, khiến căng thẳng không ngừng gia tăng giữa Bắc Kinh và các bên tranh chấp khác ở Đông Nam Á (như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và thậm chí là Indonesia), và giữa Trung Quốc với các bên khác có lợi ích liên quan như Mỹ và Nhật Bản. Một số học giả thậm chí đã cảnh báo về nguy cơ nổ ra chiến tranh ở Biển Đông.[7] Một cuộc chiến như vậy, đặc biệt giữa Trung Quốc và Mỹ, sẽ hủy hoại toàn bộ khu vực. Điều này cũng đặt dấu chấm hết cho sáng kiến ​​hợp tác rất lớn của Trung Quốc là OBOR.

Ở Trung Quốc, người ta cũng có ý kiến ​​khác nhau về việc nên ưu tiên OBOR hay vấn đề Biển Đông. Một số học giả dường như không đánh giá cao OBOR và cho rằng việc bảo vệ yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông cần được ưu tiên hơn.[8] Các chuyên gia khác ở Trung Quốc lại cho rằng OBOR quan trọng hơn so với Biển Đông, và theo đuổi một chính sách cứng rắn đối với các tranh chấp sẽ ảnh hưởng tới sáng kiến trên. Họ lập luận Trung Quốc không nên để tình hình Biển Đông xấu hơn nữa, và cần làm mọi cách để tránh chiến tranh.[9] Để đảm bảo thành công của sáng kiến OBOR, những người ủng hộ cho rằng chính phủ Trung Quốc nên lưu ý phương châm của cựu lãnh đạo tối cao Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đó là Trung Quốc cần gác lại tranh chấp, hợp tác khai thác chung các nguồn tài nguyên biển, cùng Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) xây dựng một bộ quy tắc ứng xử (COC) ở Biển Đông, bớt gay gắt trong các hoạt động tuyên truyền mà chính phủ tài trợ để xoa dịu căng thẳng và tạo lập một môi trường thuận lợi để tiến tới giải pháp hòa bình.[10]

Tất cả những ý kiến ​​trái chiều này đều có giá trị riêng. Tuy nhiên, những quan điểm này có những điểm yếu giống nhau: thiếu sự chặt chẽ về mặt lý thuyết khi mà các nhà phân tích chỉ thảo luận về tầm quan trọng tương đối của Biển Đông và OBOR. Ngoài ra, nhiều người tiếp cận vấn đề từ quan điểm lợi ích quốc gia của Trung Quốc để đưa ra các lựa chọn chính sách tương lai. Mặc dù đây là phương pháp phân tích truyền thống nhưng một số vấn đề cần được nghiên cứu trong thực tế. Ví dụ, đối tượng nào sẽ xác định các lợi ích quốc gia? Nếu quyền quyết định này được trao cho các chính trị gia, vấn đề có thể nảy sinh bởi họ sẽ lựa chọn như thế nào nếu những lợi ích quốc gia này xung đột với lợi ích của đảng hoặc các cá nhân, có lẽ đây là trường hợp của Trung Quốc.

Như một khung lý thuyết, bài viết này xem xét quan điểm của nhà lãnh đạo tối cao về hiệu quả chính trị để phân tích các lựa chọn chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong tương lai. Khuôn khổ này là quan trọng, xét cả về mặt lý thuyết và thực tiễn, bởi trong hệ thống quyền lực có tính tập trung cao như ở Trung Quốc, lãnh tụ tối cao thường là người có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết sách đối ngoại. Những lãnh đạo như vậy là người đi đầu trong chính sách ngoại giao của đất nước và thường công bố các quyết sách đối ngoại quan trọng.[11] Giống như các chính trị gia khác trên thế giới, ưu tiên của các nhà lãnh đạo thường bị lợi ích riêng của nhà lãnh đạo đó chi phối, chứ không phải lợi ích của đất nước.

Phần đầu tiên của bài viết đánh giá tính cách của ông Tập qua lăng kính về hiệu quả chính trị ngoại giao, chủ yếu thông qua các hoạt động đối ngoại của Trung Quốc sau khi ông chính thức nắm quyền lực. Phần thứ hai phân tích những cách thức, dựa vào đó hiệu quả chính trị có thể được củng cố trên ba khía cạnh. Phần thứ ba sẽ so sánh OBOR và tranh chấp Biển Đông trên cơ sở về tính khả thi, tầm quan trọng và chuẩn mực đạo đức. Phần cuối cùng của bài viết tóm lược về kết quả so sánh và các tác động có thể có đối với xu hướng chính sách đối ngoại trong tương lai của Trung Quốc.

Nỗ lực Hướng tới Hiệu quả Chính trị của ông Tập

Hiệu quả Chính trị là một khái niệm gắn bó chặt chẽ với tính chính danh chính trị. Theo nhà xã hội học Max Weber, tính chính danh chủ yếu đề cập về "mối quan hệ trực tiếp giữa mệnh lệnh và sự phục tùng” dựa trên niềm tin về tính hợp pháp của nó.[12] Ông Weber cũng chia ra ba loại quyền lực hợp pháp dựa trên nội hàm về tính phục tùng lệ thuộc và các phương thức thống trị bên ngoài: quyền lực truyền thống; quyền lực có sức hút; và quyền lực hợp pháp. Mặc dù thực tế những định nghĩa của Weber vẫn còn gây tranh cãi, các khái niệm về tính hợp pháp là một phần quan trọng của triết học chính trị hiện đại và là trọng tâm trong nhiều nghiên cứu theo kinh nghiệm về chính trị.[13]

Các nghiên cứu về Trung Quốc không vượt ra khỏi mô hình lý thuyết về tính chính danh. Ví dụ, ông Zhao Dingxin đã thay thế ba yếu tố đặc trưng lý tưởng về tính chính danh của ông Weber - tính truyền thống, uy tín và tính hợp pháp - bằng một khái niệm bao gồm ba thành tố là ý thức hệ, tính chính danh do bầu cử hợp pháp và hiệu quả, để phân tích đời sống chính trị của Trung Quốc.[14] Trong khi đó, một số nghiên cứu thực chứng lập luận rằng kể từ bắt đầu thời kỳ đổi mới vào cuối năm 1970, Trung quốc đã thông qua một chiến lược thực dụng về "tính chính danh hiệu quả", theo đó chính phủ dựa vào việc hoàn thành các mục tiêu cụ thể như tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội, tăng cường sức mạnh quốc gia và "quản trị tốt" (quản trị năng lực và trách nhiệm) để duy trì tính chính danh trong nước.[15] Có thể lập luận rằng tính chính danh hiệu quả là chìa khóa giúp chúng ta hiểu về chính trị nội bộ Trung Quốc. Bài viết này khác với các nghiên cứu trước đây bằng việc đánh giá thêm khía cạnh quốc tế của tính chính danh hiệu quả, nghĩa là việc sử dụng hiệu quả chính sách đối ngoại để tăng cường tính chính danh của giới lãnh đạo.[16]

Bên cạnh vấn đề tính chính danh, có những lý do khác khiến chúng ta cần nghiên cứu việc ông Tập hướng tới hiệu quả chính trị trên trường quốc tế. Đầu tiên, ông Tập, người đại diện cho thế hệ lãnh đạo mới nhất Trung Quốc, đang đứng trước cơ hội lịch sử chưa từng có trong ​​hai nhiệm kỳ tới đây. Vào năm 2021, ĐCS Trung Quốc sẽ kỷ niệm một trăm năm ngày thành lập, ở thời điểm đó Trung Quốc có thể đã trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Một vị thế như vậy đòi hỏi các sáng kiến ​​ngoại giao lớn bởi Trung Quốc sẽ gánh vác trách nhiệm toàn cầu lớn hơn. Thứ hai, cả Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đã để lại cho Trung Quốc di sản lớn về chính sách đối ngoại. Trong kỷ nguyên của Mao, Thủ tướng Chu Ân Lai đề xuất Năm Nguyên tắc sống Hòa bình, xét từ quan điểm của Trung Quốc, đây được coi là một sáng kiến ​​lớn trong lịch sử quan hệ quốc tế và đóng góp mang tính lịch sử trong việc hình thành một trật tự quốc tế mới phù hợp và công bằng.[17] Trong thời gian nắm quyền, Đặng Tiểu Bình đề xuất chiến lược taoguang yanghui (che giấu thực lực và chờ thời) và gezhi zhengyi gongtong kaifa (gác tranh chấp và phát triển chung), cho đến khi ông Tập nắm quyền, được coi là tạo nền tảng cho chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong hơn hai thập kỷ. Các sáng kiến ​​về đối ngoại của Mao và Đặng là hình mẫu tuyệt vời cho ông Tập, người đã trở thành thế hệ lãnh đạo thứ ba sau Mao và Đặng.[18]

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Wenjuan Nie là Phó Giáo sư tại Học viện Quan hệ Quốc tế, Đại học Ngoại giao Trung Quốc, Bắc Kinh. Địa chỉ: Học viện Quan hệ Quốc tế, Đại học Ngoại giao Trung Quốc. Bài viết được đăng trên Contemporary Southeast Asia: A Journal of International and Strategic Affairs.

Tuấn Đinh (dịch)

Trần Quang (hiệu đính)

Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.



[1] Michael  D.  Swaine,  “The  18th  Party  Congress  and  Foreign  Policy:  The  Dog that Did  Not  Bark?”,  China  Leadership  Monitor  40  (Mùa đông  2013):  1–12; Alice  L.   Miller,   “How  Strong  is   Xi   Jinping?”,  China  Leadership    Monitor 43 (Mùa xuân 2014): 1–2; Yan Xuetong, “From Keeping a Low Profile to Striving for Achievement”, The  Chinese  journal  of  international  Politics  7, số 2 (tháng 4 năm 2014): 153–84; Irene Chan và Li Mingjiang, “New Chinese Leadership, New Policy in the South China Sea Dispute?”, journal of Chinese Political Science 20, số 1 (tháng 3 năm 2015):  35–50;  Jean-Marc  F.  Blanchard, “The People’s Republic of China Leadership Transition and its External Relations: Still Searching for Definitive Answers”, journal of Chinese Political Science 20, số 1 (tháng 3 năm 2015): 1–16; Nele Noesselt, “China’s Foreign Strategy After the 18th Party Congress: Business as Usual?”, journal of Chinese Political Science 20,  số 1 (tháng 3 năm 2015): 17–33; Julian V. Advincula Jr., “China’s Leadership Transition and the Future of US–China Relations: Insights from the Spratly Islands Case”, journal  of  Chinese  Political  Science  20,  1 (tháng 3 năm 2015): 51–65.

[2] Ohn Daewon Mason Richey, “China’s Evolving Policy towards the Democratic People’s Republic of Korea under Xi Jinping”, asian  Studies  Review  39,  số  3 (tháng 7 năm 2015):  483–502.

[3] Yan,  “From  Keeping  a  Low  Profile”,  trong tài liệu đã dẫn,  tr. 153–84.

[4]Pentagon Chief Urges End to Island-Building in South China Sea”, Reuters, 28/5/2015, xem tại <http://www.reuters.com/article/us-asia-usa-pentagon- idUSKBN0OC2L620150528>.

[5] “Chinese Leaders Reject S. China Sea Arbitration Award”, Xinhuanet, 12 July 2016, xem tại <http://news.xinhuanet.com/english/2016-07/12/c_135507946. htm>.

[6] Về phân tích cặn kẽ hơn, xem Zhao   Zhouxian      Liu   Guangming, “Yidai Yilu Lianjie Zhongguomeng He Shijiemeng” [One Belt One Road is a Bridge Connecting China’s Dream with the World  Dream],  Renminribao,  24/12/2014.

[7] Robert  D.  Kaplan,  “The  South  China  Sea  is  the  Future  of  Conflict”,  Foreign Policy 188 (15/8/2011), xem tại <http://foreignpolicy.com/2011/ 08/15/the-south-china-sea-is-the-future-of-conflict/>.

[8] “‘Yidai  Yilu’  Ying  Bimian  He  Nanhan  Wenti  Guagou”  [The  OBOR Initiative Should Be Avoided Being Linked with the South China Sea Issue], Dagongwang, 30/5/2015, xem tại <http://news.takungpao.com/mainland/focus/ 2015-05/3001095.html>.

[9] “‘Yidai Yilu’: Zhanlue Gouxiang Ruhe ‘Zoujin Xianshi’” [The OBOR Initiative: How The Strategic Plan “Come into  Reality”],  Guangmingwang,  4/2/2015, xem tại <http://news.gmw.cn/2015-02/04/content_14733100.htm>.

[10] “Zhongguo  Junfang  Xuezhe:  Nanhai  Shi  Tuixing  Yidai  Yilu  Zhi   Guanjian” [From the Chinese Military Scholars: The South China Sea is the Key to the Implementation  of  the  OBOR],  Fenghuangwang,  6/1/2015,  xem tại <http://phtv.ifeng.com/a/20150106/40932657_0.shtml>.

[11] Lee  Jung-nam,  “Outlook  on  Chinese  Foreign  Policy  in  the  Coming  Era   of Xi Jinping  from  China’s  Perspective”,  The  Korean  journal  of  Defense  analysis 24,  số  3  (tháng 9 năm 2012): 375.

[12] Max Weber, Economy and Society (Oakland, California: University of California Press, 1978); C.S. Bryan Ho, “Re-Conceptualizing ‘Legitimacy’ for Studying Electoral Politics  in  Rural  China”,  journal  of  Chinese  Political  Science  16, số 2 (tháng 6 năm 2011): 207–27.

[13] Gilley Bruce, “The Meaning and Measure of State Legitimacy: Results for 72 Countries”, European  journal  of  Political  Research  45  (tháng 5 năm  2006): 499–525.

[14] Zhao Dingxin, “The Mandate of Heaven and Performance Legitimation in Historical and Contemporary China”, american Behavioral Scientist 53, số 3 (tháng 11 năm 2009): 416–33.

[15] Zhu Yuchao, “‘Performance Legitimacy’ and China’s Political Adaptation Strategy”, journal of Chinese Political Science 16,  số  2  (tháng 6 năm 2011):  123–40;  Gunter Schubert, “One-Party Rule and the Question of Legitimacy in Contemporary China: Preliminary Thoughts on Setting Up a New Research Agenda”, journal of Contemporary  China  17,  số 54  (February  2008):  191–204;  Wang  Gungwu and Zheng Yongnian, Reform, Legitimacy and Dilemmas:  China’s  Politics  and Society  (Singapore:  World  Scientific,  2000).

[16] Nele Noesselt nhấn mạnh mối liên hệ giữa tính chính danh của đảng cầm quyền và chính sách đối ngoại.Xem Nele  Noesselt,  “China’s  Foreign  Strategy  after  the 18th Party Congress:  Business  as  Usual?”,  journal  of  Chinese  Political  Science 20,  số 1 (2015): 17–33.

[17] Xem  “Xi’s  Speech  on  ‘Five  Principles  of  Peaceful  Coexistence’ Anniversary”, China.org.cn, 7/7/2014, xem tại <http://www.china.org.cn/world/ 2014-07/07/content_32876905.htm>.

[18] Ông Tập không phải lãnh đạo thế hệ thứ ba theo trật tự nhà lãnh đạo Trung Quốc kể từ khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hòa được thành lập vào năm 1949. Tuy nhiên ông Tập là lãnh đạo quyền lực nhất kể từ thời Mao và Đặng. Để biết thêm thông tin, xem “Zheng  Yongnian: Xi Jinping de Zhengzhi Luxiantu” [Xi Jinping’s Political Roadmap], Fenghuangwang, 16/10/2014, xem tại <http://news.ifeng.com/a/20141016/42218742_0.shtml>.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự nhằm hủy hoại các quyền mà luật pháp quốc tế dành cho các quốc gia, đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới.

Đọc tiếp...

Biển Đông liệu có trở thành "ao nhà" của Trung Quốc?

Biển Đông liệu có trở thành

Nếu không hành động sớm, rất có thể Biển Đông sẽ thực sự trở thành một cái ao của Trung Quốc, vừa ô nhiễm vừa dần cạn kiệt nguồn cá.

Đọc tiếp...

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Mỹ cần chủ động có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn Trung Quốc. Nếu không, sự thụ động và mặc nhận sẽ làm suy yếu vị thế của Mỹ, khiến Trung Quốc trở nên táo bạo hơn nữa trong việc thực hiện ý đồ của mình mà không gặp phải bất kỳ thách thức hay trở ngại nào.

Đọc tiếp...

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc - cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua - đều có tác động nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và tâm lý đối với khu vực.

Đọc tiếp...

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Trong thời gian từ giờ đến năm 2025, có khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách hiện tại, tức là từng bước củng cố quyền kiểm soát đối với các biển Hoa Đông và Biển Đông đồng thời tuyên bố các ý định hòa bình của nước này và viện đến lịch sử như một lời biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của nước này. Nước này sẽ tiếp tục tăng cường sự hiện diện của các tàu cảnh sát biển và tàu đánh cá với khả năng phòng thủ có vũ trang.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 6722 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin