27 - 5 - 2019 | 2:43
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Vai trò của Singapore trong tranh chấp Biển Đông

Vai trò của Singapore trong tranh chấp Biển Đông

Email In PDF.

Là một quốc gia nhỏ bé, khan hiếm tài nguyên, Singapre luôn nhận thực không thể dựa vào sức mạnh bản thân để phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc gia. Đây chính là đặc trưng “văn hóa khủng hoảng” nước nhỏ của Singapre. Và đó chính là nguyên nhân khiến Singapre rất lo sợ cục diện cân bằng nước lớn ở Biển Đông bị phá vỡ.

 

 

Hiện nay, tranh chấp Biển Đông đang dần nguội đi, thái độ của Philippines - nước thúc đẩy đưa vấn đề biển Đông ra tòa án quốc tế, đã có sự chuyển biến mang tính mâu thuẫn, Tổng thống Duterte đã kết thúc chuyến thăm Trung Quốc, bày tỏ rõ ràng việc gác lại tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, điều này đã khiến vấn đề Biển Đông phát triển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Tại thời điểm này, Singapore lại khiến người ta bất ngờ khi quan tâm sâu sắc vấn đề Biển Đông trong các hội nghị quốc tế. Sau khi có kết quả của Tòa trọng tài phán quyết về vấn đề Biển Đông, trong các nước ASEAN chỉ có Singapore bày tỏ sự công nhận đối với phán quyết của Tòa trọng tài. Trong Hội nghị Trung Quốc-ASEAN diễn ra hồi tháng 9/2016, Singapore vô cùng bất mãn về việc tuyên bố chung không đề cập đến phán quyết của Tòa Trọng tài về vấn đề Biển Đông. Sau đó, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long trong các chuyến thăm Mỹ, Nhật Bản nhiều lần đề cập đến Biển Đông, kêu gọi các nước liên quan tôn trọng phán quyết của Tòa trọng tài. Gần đây, trong Hội nghị thượng đỉnh Phong trào không liên kết diễn ra tại Venezuela, đại diện Singapore gây sức ép để đưa phán quyết của Tòa trọng tài về vấn đề Biển Đông vào tuyên bố hội nghị, đương nhiên bị nhiều nước phản đối. Bài viết từ lôgích Biển Đông của Singapore tiến hành phân tích những khó khăn tâm lý mà Singapore phải đối mặt khi các nước lớn trỗi dậy và Trung-Mỹ đọ sức, tiếp đó giải mã những ẩn ý liên tục phát ra của Singapore trong vấn đề Biển Đông. 

I/ Ý thức khủng hoảng nước nhỏ của Singapore 

Chủ nghĩa hiện thực của quan hệ quốc tế nhấn mạnh chính trị quyền lực, cho rằng hệ thống quốc tế ở trong trạng thái vô chính phủ và quốc gia là chủ thể vận hành chủ yếu của hệ thống quốc tế, mục tiêu chính của quốc gia là duy trì quyền lực và an ninh, mục tiêu ngoại giao phải được xác định dựa trên lợi ích quốc gia, và đủ sức mạnh để hỗ trợ. “Quyền lực” là khái niệm cốt lõi trong tư tưởng chính trị của nhà lập quốc Lý Quang Diệu, Lý Quang Diệu nhấn mạnh cộng đồng quốc tế lấy chính trị quyền lực làm cơ sở, quốc gia mạnh hay yếu sẽ quyết định khuynh hướng ngoại giao. 

Ý thức khủng hoảng nước nhỏ của Singapore rất mạnh mẽ. Nước nhỏ trong chủ nghĩa hiện thực chính là đất nước không thể có được an ninh và sinh tồn bằng cách vận dụng sức mạnh bản thân. Do những khiếm khuyết vốn có như khan hiếm tài nguyên, thiếu chiều sâu chiến lược, nước nhỏ không thể dựa vào sức mạnh của mình để thực hiện phát triển kinh tế và an ninh quốc gia, dẫn đến tính yếu ớt của nước nhỏ. Quốc gia có thực lực yếu kém luôn là vật hy sinh trong các cuộc tranh bá của các nước lớn. Singapore là một nước nhỏ, từ ngày đầu tiên ra đời đã có ý thức khủng hoảng nước nhỏ mạnh mẽ. Singapore là một trong những quốc gia nhỏ nhất thế giới, được coi là “chấm nhỏ đỏ” trên bản đồ. Nhìn vào diện tích lãnh thổ, Singapore được hợp thành từ đảo chính và hơn 60 hòn đảo nhỏ lân cận, diện tích toàn quốc chỉ 719,1 km², dân số 5,533 triệu người, mật độ dân số đến 7.697 người/km². Bốn bề là biển, nguồn nước ngọt thiếu hụt nghiêm trọng, lượng nước ngọt trên bình quân đầu người đứng áp chót thế giới. Singapore thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương, khu vực này ngoài các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ… , các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản cũng cũng thường xuyên xuất hiện, thế lực Mỹ cũng nhúng tay vào. Các nước láng giềng Indonesia, Malaysia là nước lớn của khu vực Đông Nam Á, cũng là đất nước Hồi giáo, có mô hình phát triển kinh tế cũng như thể chế chính trị, tôn giáo và chủng tộc không giống với Singapore, hơn nữa trong lịch sử Singapore có quan hệ không thân thiện lắm với hai nước này. Ở trong khu vực điểm nóng như vậy, Singapore có “cảm giác bị bao vây” sâu sắc.

Khởi nguồn ý thức khủng hoảng nước nhỏ của Singapore. Con đường xây dựng đất nước không được bằng phẳng khiến Singapore cảm nhận sâu sắc sự yếu ớt của mình, đồng thời nảy sinh một cách bản năng ý thức khủng hoảng nước nhỏ. Trong thế kỷ 20, Singapore sau khi thoát khỏi sự cai trị của chính quốc, đã từng coi việc hợp nhất với Malaysia là con dường duy nhất để độc lập. Nhưng cuối cùng do mâu thuẫn chủng tộc, tranh giành quyền lực và xung đột tính cách của các nhà lãnh đạo, Singapore buộc phải ra khỏi liên bang Malaysia. Singapore không thể không dựa vào tài nguyên ít ỏi để nuôi dưỡng phần lớn dân số thời điểm đó, bắt đầu từ ngày đầu tiên độc lập đã đối diện với thử thách sinh tồn, Lý Quang Diệu không thể kiềm chế những giọt nước mắt trước truyền thông. Quá trình sáp nhập và tách khỏi Malaysia khiến Singapore có cảm giác bị bao vây và không an toàn. Điều kiện sinh tồn kém, con đường xây dựng đất nước gian nan, khiến cho Singapore nảy sinh cảm giác khủng hoảng mạnh mẽ, quan tâm đến vấn đề sinh tồn, luôn lo lắng về các mối đe dọa. Bóng đen nhận thức về khủng hoảng nước nhỏ của Singapore bao trùm lên các nhà lãnh đạo của Singapore, và phát triển thành một kiểu văn hóa chiến lược. Tất cả chính trị, kinh tế, ngoại giao của Singapore đều dựa trên “văn hóa khủng hoảng” này. 

Lo lắng bởi “vấn đề Biển Đông” gây nên sự phân hóa ASEAN. Singapore cho rằng dựa vào sức mạnh bản thân khó mà đảm bảo an ninh quốc gia, chỉ có thể tìm kiếm an ninh tập thể. Cựu Thủ tướng Ngô Tác Đống so sánh Singapore với một con cá nhỏ, cá nhỏ muốn sống phải đi cùng các con cá khác, hòa mình vào trong đàn cá, dựa vào sự kết thành đàn để tự bảo vệ mình. Chiến lược “đàn cá” trở thành một phần quan trọng trong chiến lược an ninh của Singapore. Dưới sự chỉ đạo của lý luận này, Singapore là một trong những nước đầu tiên không ngừng thúc đẩy hợp tác kinh tế và chính trị các nước ASEAN, đồng thời mở rộng lĩnh vực hợp tác đến an ninh khu vực. ASEAN đem đến sân chơi giao lưu kết nối cho các nhà lãnh đạo các nước Đông Nam Á, phát huy vai trò to lớn trong việc duy trì ổn định khu vực. Phát triển đến nay, sự gắn kết của các nước ASEAN không ngừng tăng lên, trở thành một lực lượng quan trọng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. ASEAN đã xây dựng cơ chế đối thoại với các nước lớn ngoài khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, tầm ảnh hưởng không ngừng mở rộng. Đồng thời, ASEAN cũng đem đến một nền tảng ngoại giao vô cùng tốt cho Singapore. Tư cách thành viên của ASEAN khiến Singapore có quyền phát ngôn lớn hơn trong các công việc quốc tế. Lý Hiển Long nói: “Khi Singapore và các nước ASEAN khác trở thành một tập thể, bất cứ nước lớn nào đều sẽ có phần kiêng nể, nhưng khi Singapore không có sự chống đỡ của ASEAN, có thể bị các nước lớn xem nhẹ”. Bộ trưởng Ngoại giao Singapore George Yong-Boon Yeo cũng nói rằng: “Chúng tôi đặt ASEAN ở vị trí quan trọng, Singapore là trung tâm của ASEAN, đó là lý do vì sao lợi ích của ASEAN và lợi ích của Singapore hoàn toàn giống nhau”. Đối với Singapore, chiến lược sinh tồn, an ninh và kinh tế của nước này gắn liền với chiến lược của ASEAN. Về vấn đề Biển Đông, nội bộ ASEAN tồn tại bất đồng, không thể thống nhất lập trường trong vấn đề Biển Đông. Lý Hiển Long nói: “Nếu ASEAN đến việc ngay trước cửa nhà còn không xử lý được, sau này sẽ không còn ai xem trọng ASEAN nữa”. Tháng 4/2016, Trung Quốc tuyên bố Brunei, Lào, Campuchia đạt được nhận thức chung trong cách giải quyết tranh chấp lãnh thổ Biển Đông, tức là do riêng các nước tuyên bố chủ quyền đàm phán giải quyết, chứ không phải toàn thể ASEAN tham gia. Cựu quan chức Ngoại giao Singapore cho rằng hành động này là muốn chia rẽ ASEAN, và nói Trung Quốc can thiệp vào nội chính ASEAN, gây áp lực cho các nước ASEAN. 

II/ Singapore lo sợ cục diện cân bằng nước lớn bị phá vỡ 

Trải qua nhiều năm, chiến lược an ninh của Singapore đã xác định lấy ASEAN làm nền tảng, thông qua “lấy nội đối ngoại”, lợi dụng ASEAN để tranh thủ càng nhiều lợi ích khu vực, lại thông qua thúc đẩy “cân bằng nước lớn” đế “lấy ngoại đối nội”, lợi dụng sự tranh giành giữa các nước lớn để có được hòa bình và ổn định khu vực. Cân bằng nước lớn trở thành một khâu không thể thiếu trong chiến lược an ninh của Singapore, nước này rất lo sợ Trung Quốc mở rộng thế lực ở Biển Đông sẽ phá vỡ cục diện cân bằng. 

Chiến lược “ngoại giao cân bằng nước lớn” của Singapore là không gạt bỏ sự hiện diện và ảnh hưởng của nước lớn tại Đông Nam Á, chủ động cùng với những nước này phát triển quan hệ về các mặt chính trị, kinh tế và an ninh, đồng thời lợi dụng ưu thế các nước lớn và mâu thuẫn giữa các nước này để thực hiện cân bằng thế lực nước lớn tại Đông Nam Á, ngăn chặn bất cứ thế lực của nước lớn nào quá mạnh để bảo vệ ổn định và an ninh khu vực. Lý Quang Diệu bày tỏ: “Nếu khu vực Đông Nam Á hình thành cục diện đa cực, năng lực ngăn chặn sức ép từ các nước lớn của chúng ta sẽ càng mạnh hơn. Trong tình hình tồn tại cùng lúc nhiều nước lớn, vai trò của mỗi nước lớn sẽ bị giảm đi, hơn nữa bằng cách khéo léo lợi dụng vai trò của các nước lớn, các nước nhỏ có thể tự do vận hành một cách tối đa”. Từ góc độ hiện thực của quan hệ quốc tế, Singapore thừa nhận ảnh hưởng của thế lực nước lớn tại Đông Nam Á, mà giữa các nước lớn tồn tại sự cạnh tranh, cho rằng sự tồn tại của thế lực nước lớn chưa chắc có hại. Sức ảnh hưởng của nước lớn đối với cộng đồng quốc tế rất lớn, trong sự phát triển quan hệ quốc tế, nước lớn đóng vai trò không thể thiếu. Kennedy từng nói: “Chỉ cần nước lớn là chủ thể hành vi chính, kết cấu của chính trị quốc tế sẽ được xác định theo nó”. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Lý Quang Diệu từng dự đoán: “Suy cho cùng, vận mệnh thế giới sẽ được quyết định bởi cường quyền và việc cường quyền có vận dụng sức mạnh của mình hay không. Thế lực của Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc sau này, cũng như sự kiểm soát của những nước này đối với bản thân và các nước đồng minh sẽ quyết định tình hình hòa bình và cạnh tranh thế lực. Chúng ta cần phải nhận thức rằng vận mệnh của Đông Nam Á sẽ không phải do người Đông Nam Á tự quyết định”. Singapore xuất phát từ tình thế của mình, tranh thủ sự can dự tích cực của nhiều nước lớn vào Singapore và Đông Nam Á để có được viện trợ kinh tế và sự hỗ trợ đa phương về chính trị, nhưng không kết đồng minh, tránh gánh vác nghĩa vụ quân sự và bị cuốn vào xung đột nước lớn. Đồng thời cố gắng tìm kiếm sự cân bằng thế lực giữa các nước lớn, ngăn chặn một thế lực nước lớn nào đó trong khu vực quá lớn mạnh, bởi nếu mất cân bằng, sẽ có thể dẫn đến sự mất ổn định. Tommy Kok, cựu Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Singapore tại Liên Hợp Quốc nói: “Không loại trừ sự can thiệp của nước lớn vào các công việc của khu vực, mà cần phải cân bằng sức ảnh hưởng của những nước này, đồng thời khiến cho những nước này đóng góp vào việc bảo vệ ổn định và phồn vinh của Đông Nam Á”. 

Để bảo đảm lợi ích và an ninh của Singapore cũng như khu vực Đông Nam Á, Singapore khuyến khích các nước ngoài khu vực tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN, cho phép nước khác mở căn cứ quân sự lâu dài tại Singapore. Giai đoạn mới độc lập, Singapore để lực lượng của Mỹ vào bù đắp khoảng trống quyền lợi tạo thành do Anh rút quân. Trong khái niệm ngoại giao của Lý Quang Diệu, phát triển quan hệ ngoại giao với Mỹ, Nhật Bản là mấu chốt trong việc thực hiện ngoại giao cân bằng nước lớn của Singapore. Nhưng ông không mong muốn thế lực Mỹ bá quyền độc tài ở Đông Nam Á. Một Lý Quang Diệu giỏi về quyền mưu ý thức rõ được rằng cùng với việc thế lực Mỹ không ngừng mở rộng, khu vực Đông Nam Á cuối cùng sẽ rơi vào cảnh phụ thuộc Mỹ. Để bảo vệ ổn định khu vực Đông Nam Á, thực hiện phát triển tự do của Singapore tại khu vực này, khu vực Đông Nam Á cần phải có sự tồn tại của một thế lực lớn mạnh. Thông qua sự cạnh tranh lẫn nhau giữa hai dòng thế lực để hình thành sự cân bằng lực lượng, nước nhỏ có thể giành được không gian quốc tế của mình trong sự cân bằng giữa các nước lớn, từ đó tránh việc nghe theo một nước mạnh nào đó cuối cùng dẫn đến có hại cho cục diện vốn bất lợi của an ninh và chủ quyền quốc gia. Thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Liên Xô với thực lực kinh tế và quân sự lớn mạnh trở thành lựa chọn tốt nhất để cân bằng lực lượng Mỹ-Nhật, cũng là một mắt xích quan trọng trong việc thực hiện ngoại giao cân bằng nước lớn của Singapore. Nếu không có sự can dự của thế lực Liên Xô, cả khu vực Đông Nam Á sẽ rơi vào trạng thái mất cân bằng, ngoại giao cân bằng nước lớn của Singapore sẽ mất đi ý nghĩa thiết thực. Vì vậy Singapore chủ động thân với Liên Xô, Liên Xô vốn có ý đồ mở rộng đối với Đông Nam Á và Ấn Độ Dương cũng tỏ ra có hứng thú với việc thực hiện tốt quan hệ hai nước. Tháng 6/1968, Singapore và Liên Xô chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, hai bên trao đổi đại sứ. Liên Xô xây dựng tại Singapore Đại sứ quán Liên Xô to nhất châu Á, điều này cho thấy rõ quan hệ hai nước không ở mức thông thường. Đồng thời, Lý Quang Diệu cũng chú ý đến Trung Quốc, cho rằng thế giới không có sự tham gia của Trung Quốc thì không hoàn chỉnh. Tháng 5/1969, khi Lý Quang Diệu có chuyến thăm Mỹ và hội đàm với Nixon, kiến nghị Nixon nhanh chóng điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc, chú ý đến sức mạnh của Trung Quốc hơn. “Trung Quốc càng lớn mạnh, càng có lợi cho việc cân bằng thế lực giữa 3 nước lớn Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, đó sẽ là cục diện càng an toàn đối với thế giới và Singapore”. Sau khi đế quốc Liên Xô sụp đổ, Singapore có phần e ngại sức mạnh Trung Quốc. Lý Quang Diệu từng bày tỏ: “Sức mạnh của Trung Quốc khiến cho các nước châu Á khác bao gồm cả Nhật Bản và Ấn Độ trong 20 năm tới không thể so bì, chúng ta cần Mỹ để cân bằng Trung Quốc”. Do đó trong chuyến thăm Mỹ năm 2009, Lý Quang Diệu kêu gọi Mỹ tích cực tham gia các công việc của Đông Nam Á để hình thành thế cân bằng với Trung Quốc, đồng thời nhắc nhở các nước láng giềng châu Á cần phải đề cao cảnh giác đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Theo quan điểm của Lý Quang Diệu: “Nếu Mỹ hoàn toàn rút quân ra khỏi bản đồ Đông Nam Á, và Trung Quốc trở thành cường quốc chủ đạo duy nhất, như vậy tình hình chắc chắn sẽ trở nên càng nghiêm trọng, bởi vì nếu lỡ có lỗi lầm nhỏ chọc giận Trung Quốc, họ không cần phát động tấn công xâm lược cũng có thể đối phó được”. 

Có sự cân bằng nước lớn mang tính định hướng. Lâu nay Singapore đều tự đặt mình vào thế trung lập. Trên thực tế, cân bằng nước lớn của Singapore mang tính chọn lọc và phân cấp, là cân bằng lấy Mỹ làm trung tâm. Bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế nhà nước là mục tiêu cuối cùng của Singapore. Có thể gạt bỏ được mối lo an ninh của Singapore, mang lại sự thịnh vượng về kinh tế chắc chắn là mục tiêu cao nhất trong hệ thống cân bằng nước lớn của Singapore, và Mỹ chính là một nước lớn như vậy. Mỹ là siêu cường duy nhất, nước chế định chính của trật tự thế giới và thống trị thế giới, có năng lực tấn công quân sự toàn cầu mà không nước nào có thể so bì, tổng lượng kinh tế vững chắc ở ngôi vị đầu bảng. Lý Quang Diệu hoàn toàn tin tưởng thực lực của Mỹ: “Chỉ cần thế giới tiếp tục lấy kinh tế làm chủ đạo, chỉ cần Mỹ vẫn có thể tiếp tục giữ được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực đổi mới khoa học kỹ thuật, như vậy kể cả EU hay Nhật Bản, Trung Quốc, trong 10 năm tới không có nước nào có thể thay thế vai trò của Mỹ”. Mỹ cũng cần có “điểm tựa” tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Singapore có vị trí địa lý mang tính chiến lược toàn cầu, lại là “quân sư” của ASEAN, có thể giúp Mỹ mở rộng tầm ảnh hưởng khu vực tại Đông Nam Á. Singapore dựa vào đó để ràng buộc lợi ích của mình với lợi ích của Mỹ ở Đông Nam Á, từ đó mưu cầu tối đa hóa lợi ích. Tuy Singapore cũng từng dẫn dắt Liên Xô, Trung Quốc cân bằng sức ảnh hưởng của Mỹ, Nhật Bản, nhưng chỉ là để tránh lực lượng Mỹ quá mạnh khiến Singapore cảm thấy “nghẹt thở”. Singapore mong muốn dưới sự chủ đạo của Mỹ để duy trì sự “ổn định lâu dài” của nước mình. Ngoại giao cân bằng nước lớn của Singapore luôn xoay quanh Mỹ, Mỹ là trung tâm chuyển động và kéo dài của ngoại giao cân bằng nước lớn của Singapore. Thực lực đang không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc tại Biển Đông về khách quan đã tạo thành thách thức cho sự cân bằng nước lớn khu vực Đông Nam Á mà Mỹ chủ đạo, động chạm đến bố cục cân bằng mà Singapore lâu nay tạo dựng. 

III/ Chính sách Biển Đông của Singapore 

Chính sách ngoại giao của Singapore về vấn đề Biển Đông có thể tổng kết như sau: Singapore không phải là nước tranh chấp, không có đòi hỏi về chủ quyền tại Biển Đông, giữ lập trường trung lập không nghiêng về bên nào; Singapore quan tâm vấn đề Biển Đông là vì Singapore phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế, tự do hàng hải và tự do hàng không tại Biển Đông liên quan đến lợi ích kinh tế của nước này; Singapore hy vọng các bên tranh chấp kiềm chế; Singapore kêu gọi các bên giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ Công ước Liên hợp quốc về luật biển. Trên thực tế nhìn biểu hiện hành vi của Singapore, biểu hiện hành vi ngoại giao của nước này trong vấn đề Biển Đông đã dần xa rời lập trường trung lập, nghiêng sang thân Mỹ kiềm chế Trung Quốc. Singapore cho rằng địa vị nước lớn và nước nhỏ không ngang nhau, đàm phán giữa nước nhỏ và nước lớn không thể công bằng. Chỉ có thông qua luật quốc tế, quyền lợi nước nhỏ mới có thể được bảo đảm.

Trong 5 năm qua, Singapore vừa giương cao lá cờ “trung lập”, vừa dần hướng về phương Tây. Năm 2011, tàu tuần tra “Hải tuần 31” của Trung Quốc đến thăm Singapore. Sau đó, Bộ Ngoại giao Singapore tuyên bố Singapore không có đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông, nhưng bất cứ vấn đề nào ảnh hưởng đến tự do hàng hải và hàng không trong vùng biển quốc tế đều liên quan đến lợi ích then chốt của Singapore. Tuyên bố này được hiểu là Singapore và Trung Quốc “vạch rõ giới hạn”. Năm 2012, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long cùng với Ngoại trưởng Sanmugam trong các dịp khác nhau đã bày tỏ rằng Singapore trong vấn đề Biển Đông luôn giữ lập trường trung lập, không lựa chọn đứng về bên nào, đề xướng các nước liên quan đến tranh chấp tự giải quyết. Nhưng cùng năm đó, Bộ Quốc phòng Singapore đồng ý cho Mỹ bố trí 4 tàu chiến đấu ven biển. Năm 2013, thái độ công khai trong vấn đề Biển Đông của Bộ Ngoại giao Singapore vẫn là giữ lập trường trung lập, kêu gọi giải quyết tranh chấp bằng luật quốc tế. Sau đó, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đến thăm Mỹ, bày tỏ hoan nghênh Mỹ quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương và chào đón sự ra đời của TPP. Năm 2014, tuyên bố công khai của Bộ Ngoại giao Singapore đối với vấn đề Biển Đông là: “Singapore quan tâm đến sự phát triển của tình hình Biển Đông. Kêu gọi các bên kiềm chế, tránh các hành vi có thể khiến tình hình căng thẳng ở Biển Đông leo thang. Nhắc nhở các bên tranh chấp xử lý tranh chấp một cách hòa bình trong khuôn khổ luật quốc tế”. Tháng 3/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Singapore trong một cuộc phỏng vấn công khai đã “mời” Ấn Độ tham gia can thiệp vào vấn đề Biển Đông, “Ấn Độ là một nước lớn có tầm ảnh hưởng, hy vọng sự hiện diện và tham gia của nước này ở Biển Đông có thể tăng cường lòng tin và thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”. Tháng 8/2015, Ngoại trưởng Singapore Sanmugam bày tỏ “các nước ngoài khu vực có quyền lên tiếng về vấn đề Biển Đông”. Cuối năm 2015, Singapore đồng ý cho Mỹ bố trí máy bay săn ngầm P-8 Poseidon. Từ năm 2016 đến nay, thái độ thân Mỹ kiềm chế Trung Quốc của Singapore càng rõ rệt. Mặc dù Singapore một dạo nêu chiêu bài không giữ lập trường trong vấn đề Biển Đông, không “lựa chọn đứng về bên nào”. Nhưng với các hành vi trên, thái độ thân Mỹ kiềm chế Trung Quốc đã lộ rõ chân tướng. 

Về chính sách đối với Trung Quốc của Singapore, Singapore luôn thi hành chính sách kinh tế trên hết, tách rời chính trị với kinh tế trong quan hệ với Trung Quốc. Sau khi độc lập, Singapore tuyên bố chào đón tất cả bạn bè, hy vọng thông thương với các nước trên thế giới, trong đó bao gồm Trung Quốc. Đồng thời, Singapore bày tỏ phải là nước ASEAN cuối cùng chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, tỏ ra vô cùng thận trọng trong việc phát triển quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và Singapore. Sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu với nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã xây dựng một tình bạn sâu sắc, Trung Quốc rất xem trọng mô hình phát triển của Singapore. Năm 1985, nhà kinh tế nổi tiếng, Bộ trưởng Tài chính đầu tiên, Phó Thủ tướng Singapore Ngô Khánh Thụy sau khi nghỉ hưu đã nhận lời mời đến Trung Quốc, vạch ra kế hoạch cải cách mở cửa cho Trung Quốc. Thương mại song phương giữa hai nước phát triển nhanh chóng. Từ 2013 đến nay, Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Singapore, Singapore cũng là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong các nước ASEAN. Trong chiến lược thúc đẩy “Một vành đai, một con đường”, Singapore cũng phát huy vai trò quan trọng. Do nhất quán sách lược tách rời chính trị với kinh tế, Singapore sẽ không vì quan hệ chặt chẽ về kinh tế thương mại mà dễ dàng thay đổi lập trường trong vấn đề Biển Đông, nhưng quan hệ hai nước chưa đến mức xấu đi quá nhiều. 

Singapore luôn theo đuổi sách lược “cân bằng nước lớn”, chủ trương xây dựng bố cục cân bằng Mỹ-Trung Quốc-Nhật Bản-Ấn Độ tại châu Á-Thái Bình Dương. Sách lược cân bằng nước lớn của Singapore có lợi và cũng có hại đối với Trung Quốc. Khi thế lực Liên Xô còn lớn mạnh, để kiềm chế sự bành trướng của Liên Xô, Singapore ra sức cải thiện quan hệ Trung-Mỹ, lập công lớn trong việc xây dựng quan hệ Trung-Mỹ. Thời kỳ Chiến tranh Lạnh, quan hệ ASEAN với Trung Quốc lạnh nhạt. Sau Chiến tranh Lạnh, Singapore trở thành “cầu nối” cho quan hệ qua lại giữa Trung Quốc và ASEAN, để Trung Quốc và ASEAN luôn duy trì được quan hệ đối thoại, đóng vai trò xây dựng quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển quan hệ Trung Quốc-ASEAN. Nhưng cùng với việc thực lực Trung Quốc không ngừng tăng lên, Singapore cũng không ngừng điều chỉnh sách lược, thực hiện kiềm chế Trung Quốc. Lý Quang Diệu từng bày tỏ: “Trong quan hệ ngoại giao, không có tình bạn cá nhân, chỉ có lợi ích quốc gia”. Singapore hết sức khuyến khích ASEAN nhất trí trong chính sách đối với Trung Quốc, “hợp lực” giải quyết vấn đề Biển Đông. Đối với tranh chấp lãnh thổ Biển Đông, Trung Quốc luôn chủ trương tiến hành thỏa hiệp song phương với các nước đòi hỏi chủ quyền, phản đối quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, đó là nguyên tắc cơ bản của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, đồng thời cũng là ngưỡng giới hạn không thể vượt qua của Trung Quốc trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Cách làm khuyến khích các nước ASEAN “thống nhất” và lôi kéo nước lớn ngoài khu vực của Singapore trên thực tế làm trầm trọng thêm tính phức tạp trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Trung Quốc, gây tổn hại cho lợi ích quốc gia của Trung Quốc. 

Sự liên hệ mật thiết về ngôn ngữ, văn hóa, kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và Singapore chính là trụ cột mạnh mẽ cho sự phát triển lâu dài quan hệ hai nước. Xây dựng quan hệ Trung Quốc-Singapore lành mạnh ổn định là sự bảo đảm cơ bản trong việc phát triển lòng tin chính trị, hợp tác sâu sắc về kinh tế của hai nước Trung Quốc và Singapore. Hai nước phải xây dựng quan hệ lành mạnh ổn định, điều kiện trước tiên là đôi bên không gây tổn hại lợi ích quốc gia của nhau, đặc biệt là lợi ích cốt lõi của quốc gia. Vấn đề Biển Đông liên quan đến toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc cũng quan tâm đến nỗi “lo ngại” của Singapore, từ tầm cao chiến lược phát triển hòa bình ổn định khu vực Đông Nam Á, dùng tình cảm và lý lẽ để Singapore thấu hiểu, đề cao hợp tác kinh tế Trung Quốc-Singapore, mở rộng phát triển đa phương diện chính trị và văn hóa Trung Quốc-Singapore, tích cực thúc đẩy quan hệ Trung Quốc-Singapore đạt được phát triển lành mạnh ổn định.

Gao Qun Bin, Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Học viện Quan hệ Quốc tế, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA). Chen Han Bing, Chủ nhiệm Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Học viện Quan hệ Quốc tế, PLA. Bài viết được đăng trên First Thinktank (Trung Quốc)

Hoàng Lan (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Tại sao Trung Quốc lại tập trung vào Biển Đông đến như vậy và tại sao lại vào thời điểm này? Nghiên cứu cho thấy, một phần Trung Quốc được thúc đẩy bởi nhận thức về cơ hội, một phần vì nhận thức về sự suy yếu của Mỹ và một phần bởi nhu cầu lên tiếng về những tuyên bố pháp lý của nhà nước.

Đọc tiếp...

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Người ta thường cho rằng cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại phần XV Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) được áp dụng rất hạn chế, phản ánh ý đồ của những người soạn thảo UNCLOS. Vì vậy, các tòa trọng tài cần diễn giải phần XV một cách thận trọng, lưu ý đến những giới hạn về thẩm quyền của toà. Tuy nhiên, Phán quyết Vụ kiện Biển Đông đã đi ngược lại với cách tiếp cận này.

Đọc tiếp...

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Bài viết lập luận rằng các bất ổn cường độ thấp sẽ xảy ra trong tranh chấp biển hoặc cạnh tranh sức mạnh trên biển; tuy nhiên, ít có khả năng tạo ra chu kỳ leo thang kéo dài bởi đặc điểm của môi trường chiến lược biển khu vực.

Đọc tiếp...

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Thời điểm hiện tại, tình hình Biển Đông đang đi vào thời điểm quan trọng khi những bước tiến của Trung Quốc đang tích tụ dần còn dư địa cho Mỹ hành động đang giảm đi, và các nhà quan sát tại khu vực thì đang tự hỏi liệu Mỹ đã sẵn sàng đối mặt với thách thức này hay chưa. Và Mỹ vẫn đang loay hoay đi tìm một chiến lược.

Đọc tiếp...

"Không độc chiếm" Biển Đông?

Dù có sự khác biệt giữa Vương quốc Trung Hoa và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng Simon nhận thấy Trung Quốc vẫn giữ khuynh hướng sơ khởi đó là thưởng cho "những quốc gia sẵn sàng thừa nhận vị thế bá chủ khu vực của mình" trong khi phạt "những quốc gia từ chối tuân phục". Để thấy rõ nhất cách tiếp cận này của Trung Quốc, ta có thể nhìn ngay vào quan hệ của nước này tại Đông Nam Á trong năm 2018.

Đọc tiếp...

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Bài viết phân tích 3 trường hợp nghiên cứu trong lĩnh vực - du lịch, khai thác năng lượng và cơ sở hạ tầng - từ đó nêu bật vai trò các chủ thể doanh nghiệp Trung Quốc đã làm thay đổi chính sách Biển Đông của Trung Quốc như thế nào.

Đọc tiếp...

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Bài phân tích đánh giá việc Bắc Kinh xác định chiến lược biển của mình trong các tuyên bố công khai của lãnh đạo. Mục đích là nhằm hiểu được nhiều hơn về ý đồ và ưu tiên chiến lược của Trung Quốc trong lĩnh vực biển; đồng thời cung cấp cho giới hoạch định chính sách và các chuyên gia an ninh quốc gia vốn kiến thức cụ thể và đầy đủ nhất để đối trọng với Trung Quốc trong các vấn đề trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông khiến các nước trong khu vực cảnh giác. Thực tế này thúc đẩy Philippines kiện Trung Quốc. Vào năm 2016, tòa đã đưa ra phán quyết. Hành động và phản ứng của các bên liên quan tới phán quyết và các sự kiện chính trị khác đã khiến năm 2016 trở thành một năm đáng chú ý. Cuộc bầu cử Tổng thống ở Philippines và Mỹ cũng bổ sung những động lực khác khiến tình hình khu vực thay đổi.

 

Đọc tiếp...

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Bài viết so sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Mỹ, cụ thể là các hình thức hội nhập kinh tế và cách tiếp cận địa chính trị tại Đông Nam Á. Các tác giả so sánh động cơ và lý do các cường quốc lớn và hạng hai trong khu vực chấp nhận hoặc tranh cãi về các chính sách của Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Các ghi chép của Trung Quốc cho thấy chuyến thám hiểm chính thức đầu tiên của Trung Quốc tới Hoàng Sa vào năm 1902 chưa từng diễn ra. Thay vào đó, một cuộc thám hiểm bí mật được tiến hành nhiều thập kỷ sau đó để ngụy tạo bằng chứng khảo cổ học trên quần đảo Hoàng Sa nhằm củng cố yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông dường như đang được cải thiện. Trong khu vực, người ta nói đến hợp tác kinh tế và khoa học, khai thác chung tài nguyên biển, bộ quy tắc ứng xử. Nhưng thực tế hoàn toàn khác và chúng ta không thể quên một điều cốt yếu: Sự mất cân xứng về công nghệ và quân sự, những cơ hội và nguy hiểm của việc khai thác chung... có lợi cho Bắc Kinh!

Đọc tiếp...

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Một liên minh hiệu quả ở Biển Đông sẽ là thứ giúp bảo vệ các quyền lợi mà các nước Đông Nam Á được hưởng trong vùng biển của chính họ, đồng thời khiến Bắc Kinh phải đưa ra những nhượng bộ dài hạn hoặc phải trả một cái giá cắt cổ về ngoại giao và kinh tế. Nhưng để làm được điều đó, Washington cần đưa chính sự sáng tạo và tham vọng mà họ đã thể hiện ở biển Hoa Đông đến Biển Đông.

Đọc tiếp...

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Để khôi phục được vị thế, Mỹ và các đồng minh của nước này cần phải điều chỉnh lại cách hiểu của họ về chiến dịch của Trung Quốc trên Biển Đông và định hướng lại chiến lược của Mỹ nhằm đánh bại nó.

Đọc tiếp...

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Bài phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn nhận định tình hình Biển Đông mà ông đã nắm được qua cuộc trao đổi với chuyên gia, học giả các viện nghiên cứu chính sách nhân chuyến công tác tới Mỹ, Nhật Bản và Úc gần đây, đồng thời đưa ra một số phán đoán và phân tích về tình hình địa chính trị ở Biển Đông hiện nay.

Đọc tiếp...

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Vài năm trở lại đây, vấn đề khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Philippines thu hút sự chú ý rất lớn từ các quốc gia trong và ngoài khu vực. Trên quan điểm của Trung Quốc, triển vọng khai thác chung giữa hai nước có khả thi? Cần phải giải quyết những thách thức nào để đi đến thỏa thuận khai thác trên thực tế?

Đọc tiếp...

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7060 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin