22 - 9 - 2018 | 10:10
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Tại sao ASEAN không thể thống nhất về vấn đề Biển Đông?

Tại sao ASEAN không thể thống nhất về vấn đề Biển Đông?

Email In PDF.

Thất bại của ASEAN không chỉ đơn giản là kết quả của nỗ lực của Trung Quốc nhằm chia rẽ các nước thành viên ASEAN. Nhiều yếu tố khác nhau cùng tồn tại ở 3 cấp độ – cấp nhà nước, cấp quốc tế và cấp tổ chức – cùng đóng một vai trò trong việc cản trở sự đoàn kết của ASEAN.

 images(13).jpg 

Trong khi các nhà phân tích trên khắp thế giới đã chỉ trích sự mất đoàn kết của ASEAN khi đối đầu với Trung Quốc, phần lớn họ đã không chú ý tới bức tranh lớn hơn về cuộc khủng hoảng của ASEAN với tư cách là một tổ chức khu vực. Tranh chấp Biển Đông bộc lộ một thế tiến thoái lưỡng nan cơ bản hơn, giữa hội nhập sâu hơn và duy trì chủ quyền quốc gia. Như vậy, thất bại của ASEAN không chỉ đơn giản là kết quả của nỗ lực của Trung Quốc nhằm chia rẽ các nước thành viên ASEAN. Nhiều yếu tố khác nhau cùng tồn tại ở 3 cấp độ – cấp nhà nước, cấp quốc tế và cấp tổ chức – cùng đóng một vai trò trong việc cản trở sự đoàn kết của ASEAN.

Các nhân tố cấp nhà nước

Do ASEAN là một tổ chức liên chính phủ, vấn đề lâu dài nhất nằm ở cấp nhà nước. Đó là mỗi nước thành viên ASEAN theo đuổi lợi ích quốc gia của riêng mình và miễn cưỡng giao phó chủ quyền quốc gia cho cơ chế ra quyết định của ASEAN. Do các cuộc xung đột liên nhà nước trong lịch sử giữa các thành viên ASEAN, tính đa dạng đang tồn tại trong các bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội, cũng như các mức độ hợp tác khác nhau của các nước này với Trung Quốc, các nhà nước ASEAN không sẵn sàng cam kết theo đuổi một lập trường thống nhất đối với Trung Quốc.

Mỗi nước có lợi ích của riêng mình trong vấn đề Biển Đông. Một điểm quan trọng là quy chế chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ rõ ràng kể từ khi tranh chấp lần đầu nổi lên nhiều thập kỷ trước. Một số thành viên ASEAN có tuyên bố chủ quyền chồng lấn đối với các hòn đảo trên Biển Đông, khiến xung đột trở nên nan giải. Kể từ năm 1970, Philippines đã tuyên bố chủ quyền đối với phần phía Tây của quần đảo Trường Sa. Sau Trung Quốc, Việt Nam có yêu sách chủ quyền lớn nhất đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cho dù Malaysia đã duy trì một lập trường ít thu hút sự chú ý trong xung đột, nước này cũng chiếm đóng một số cấu trúc kể từ những năm 1980. Trong khi đó Brunei tuyên bố chủ quyền đối với các hòn đảo nằm bên trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của nước này, như được xác định bởi Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS).

Có một số lý do để các nước cạnh tranh trên Biển Đông. Ngoài việc là biểu tượng cho sự toàn vẹn lãnh thổ, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được cho là có trữ lượng dầu mỏ đáng kể và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác bao quanh chúng. Hơn nữa, Biển Đông là một tuyến vận tải quan trọng, đặc biệt đối với năng lượng nhập khẩu và có tầm quan trọng chiến lược. Kiểm soát được Biển Đông tương đương với kiểm soát được các tuyến đường liên lạc trên biển cho thương mại, vận chuyển dầu và đánh cá. Vì vậy, khó có thể có một giải pháp thích hợp thỏa mãn tất cả các bên, ngay cả giữa các nước thành viên ASEAN, chứ chưa nói tới tất cả các thành viên ASEAN và Trung Quốc.

Các nước thành viên ASEAN cũng có mức độ quan hệ đối tác khác nhau với Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc luôn nằm trong danh sách 5 đối tác thương mại quan trọng nhất của các nước ASEAN, mức độ phụ thuộc của họ vào hàng hóa và thị trường Trung Quốc có sự khác biệt đối với từng nước. Xu hướng hiện nay là chỉ các nước thành viên ASEAN giàu có hơn mới xoay xở có được một nhóm đa dạng các đối tác thương mại và có thặng dư thương mại với Trung Quốc. Các nước khác nghèo hơn phụ thuộc nặng nề vào hàng hóa Trung Quốc và có thâm hụt thương mại gia tăng với nước này. Đặc biệt kể từ khi Khu vực thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) có hiệu lực vào năm 2010, mức độ phụ thuộc vào thương mại với Trung Quốc đã gia tăng mạnh mẽ. Năm 2013, tổng giá trị thương mại của ASEAN với Trung Quốc có mức thâm hụt là 45 tỷ USD, mà có thể quy cho ACFTA theo nghiên cứu của trường Đại học Quốc phòng Australia. Mức độ hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc và mỗi nước ASEAN là một dấu hiệu tốt, tuy không hoàn hảo, về sự ủng hộ chính trị dành cho Trung Quốc.

Campuchia phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc về kinh tế và lựa chọn đứng ngoài xung đột Biển Đông. Lào là một ví dụ điển hình khác về việc sự phụ thuộc quá mức về kinh tế vào Trung Quốc được chuyển thành một lập trường chính trị như thế nào liên quan tới tranh chấp Biển Đông. Quan hệ thương mại giữa Lào và Trung Quốc có thể được miêu tả tốt nhất là trao đổi nguyên liệu thô lấy hàng hóa. 76% hàng hóa xuất khẩu của Lào năm 2011 là nguyên liệu thô như kim loại, khoáng sản và gỗ, trong khi các sản phẩm chế tạo của Trung Quốc chiếm khoảng 37% tổng lượng sản phẩm chế tạo nhập khẩu của Lào. Do Lào là một quốc gia có thu nhập thấp và không giáp biển, Lào lựa chọn ủng hộ Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông.

Các thành viên khác trong ASEAN có mức độ phụ thuộc khác nhau vào Trung Quốc, nhưng tất cả đều phải xem xét các quan ngại của người khổng lồ kinh tế. Indonesia và Myanmar xuất khẩu một lượng đáng kể nhiên liệu và khoáng sản sang Trung Quốc. 2 nước này có những vấn đề nội bộ của riêng mình và dựa vào Trung Quốc như là bên cho vay quan trọng, vì vậy không thể đóng một vai trò tích cực trong việc dàn xếp tranh chấp. Thái Lan và Malaysia có giá trị thương mại thặng dư với Trung Quốc trong năm 2013 và vì vậy miễn cưỡng thể hiện sự phản đối của họ đối với sự hung hăng của Trung Quốc. Do giá dầu đi xuống trong năm 2014 và Trung Quốc nhiệt tình đầu tư vào Brunei, vương quốc này lựa chọn một lập trường ít thu hút sự chú ý và ủng hộ các lợi ích của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Bằng chứng là Brunei đã phá vỡ sự đồng thuận của ASEAN bằng cách không tham gia Nhóm làm việc đầu tiên của các bên có tuyên bố chủ quyền của ASEAN trong năm 2014, do Philippines chủ trì để tạo dựng sự đồng thuận giữa các bên có tuyên bố chủ quyền. Chỉ 1 tháng trước đó, Brunei cũng đã từ chối tham gia một cuộc họp bên lề với 3 nước có tuyên bố chủ quyền khác tại Hội nghị hẹp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Myanmar.

Do sự hợp tác kinh tế tích cực của nước này với Trung Quốc, Singapore đã duy trì một vai trò trung lập trong tranh chấp Biển Đông. Một mặt, Singapore là một nhà đầu tư lớn và một đối tác quan trọng đối với các dự án cơ sở hạ tầng then chốt tại Trung Quốc như dự án thành phố sinh thái Thiên Tân Trung Quốc-Singapore, đảo Datansha và Thành phố Tri thức Quảng Châu Trung Quốc-Singapore. Mặt khác, Trung Quốc là đối tác xuất khẩu lớn thứ 2 và đối tác nhập khẩu lớn nhất của Singapore. Sự phụ thuộc lẫn nhau hữu cơ của Singapore với thị trường Trung Quốc đã ngăn cản nhà nước-thành phố này khuyến khích một giải pháp có ý nghĩa đối với xung đột.

Ngay cả Philippines, nước phản đối các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc mạnh mẽ nhất dưới thời Tổng thống Benigno Aquino, cũng đã lựa chọn mở cửa cho đầu tư của Trung Quốc cho các dự án cơ sở hạ tầng đắt đỏ dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte. Các lý do kinh tế đã làm cơ sở cho cái gọi là chiến lược “xoay trục” của Philippines sang Trung Quốc.

Thế còn Việt Nam, bên tuyên bố chủ quyền chính khác trong ASEAN, thì sao? Trung Quốc đã là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam kể từ năm 2004. Trong năm 2014, bất chấp xung đột trên Biển Đông, giá trị thương mại giữa 2 nước vẫn gia tăng; nhập khẩu và xuất khẩu thực lần lượt tăng 16,8% và 12,6%. Năm 2014, gần 30% nhập khẩu của Việt Nam đến từ Trung Quốc. Vì vậy, bất chấp tranh chấp với Trung Quốc, Việt Nam không thể hợp tác đầy đủ với Mỹ và Philippines để cân bằng với Trung Quốc. Như người ta có thể thấy, các cấp độ hợp tác kinh tế khác nhau giữa Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN ảnh hưởng trực tiếp tới phản ứng của họ đối với tranh chấp Biển Đông. Việc này tới lượt nó ngăn cản toàn bộ ASEAN đạt được một sự đồng thuận.

Cấp độ quốc tế

Các cường quốc cũng đóng một vai trò trong việc ngăn cản một ASEAN đoàn kết. Trung Quốc gây áp lực về kinh tế và chính trị lên các đồng minh của mình, các nước đồng thời là thành viên của ASEAN; và Mỹ, trong khi tích cực hỗ trợ khí tài cho các nước thành viên ASEAN, lại do dự trước việc lãnh đạo nỗ lực chống đối Trung Quốc.

Nhân tố Trung Quốc

Chắc chắn là có xung đột về lợi ích giữa Trung Quốc và ASEAN: Trung Quốc muốn các cuộc đàm phán song phương để giải quyết tranh chấp Biển Đông, trong khi ASEAN muốn các cuộc đàm phán đa phương. Tuy nhiên, nếu ASEAN phục tùng đòi hỏi của Trung Quốc giải quyết tranh chấp Biển Đông trên cơ sở song phương, ASEAN sẽ tự động mất đi tính hợp pháp của mình với tư cách là một tổ chức khu vực. Giải quyết tranh chấp trên cơ sở đa phương là điều quan trọng để ASEAN thể hiện vai trò trung tâm của mình như là một bên đóng vai trò lãnh đạo trong khu vực.

Có 2 lời giải thích hợp lý cho sự khăng khăng của Trung Quốc đối với các cuộc đàm phán song phương. Trước hết, bởi Trung Quốc vượt trội hơn các nước ASEAN về mọi mặt (kinh tế, dân số, quân đội, ảnh hưởng chính trị), nên các cuộc đàm phán song phương đem lại cho Trung Quốc một lợi thế rất lớn trước bất cứ nhà nước ASEAN đơn lẻ nào. Điều này khiến Trung Quốc chơi trò chơi cây gậy và củ cà rốt dễ dàng hơn, đe dọa hay khuyến khích các nhà nước đơn lẻ phục tùng ý muốn của Trung Quốc. Nói ngắn gọn, trong các cuộc đàm phán song phương, Trung Quốc gần như có thể đảm bảo một vị thế chiến thắng tuyệt đối.

Lời giải thích thứ hai là Trung Quốc nghi ngờ Mỹ đứng sau việc thiết kế bộ quy tắc ứng xử, với ý đồ can thiệp và thao túng bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông theo hướng có lợi cho Washington. Trung Quốc vẫn luôn ý thức về sự can dự của Mỹ trong tranh chấp Biển Đông và sự ủng hộ của các bên tranh chấp khác, chẳng hạn như Việt Nam và Philippines, đối với sự hiện diện của Mỹ trong khu vực, điều đi ngược lại lợi ích quốc gia của Trung Quốc trong việc đạt được vị thế bá chủ trong khu vực.

Do sự thiếu thiện chí hợp tác kéo dài của Trung Quốc, các nước có tuyên bố chủ quyền trong ASEAN đã bắt đầu rút ra một giả định nguy hiểm rằng không thể giải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua các cuộc đàm phán hòa bình. Sự nghi ngờ này được thể hiện một cách tinh tế trong một tuyên bố của Chính phủ Philippines gửi tới Tòa Trọng tài năm 2013: “Trong 17 năm trao đổi quan điểm như vậy vừa qua, mọi khả năng về một dàn xếp thông qua đàm phán đã được thăm dò và trở nên vô vọng”.

Nhân tố Mỹ

Sự hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông là một mối quan ngại của Mỹ, nước lo sợ sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ tới với cái giá phải trả là ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Kết quả là Mỹ đã kiên trì phản đối để bảo vệ quyền tự do hàng hải bằng cách thực hiện các cuộc tuần tra chung đều đặn với Nhật Bản và Philippines, và gia tăng sự hỗ trợ tài chính cho các bên tuyên bố chủ quyền của ASEAN. Tuy vậy, niềm tin vào cam kết của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã giảm dần do Washington không thể hiện sự quyết tâm trong việc ngăn chặn Trung Quốc tiếp tục các hoạt động trái phép trên Biển Đông. Một số người lập luận rằng Mỹ do dự đưa ra phản ứng mạnh mẽ do lo ngại làm gián đoạn quan hệ song phương Mỹ-Trung, đặc biệt là các quan hệ kinh tế. Một số khác khẳng định rằng Mỹ không thể hành động như là “cảnh sát” bảo vệ luật pháp quốc tế trong tranh chấp Biển Đông đơn giản vì Mỹ không phải là bên tham gia UNCLOS.

Tóm lại, tình trạng đình trệ hiện tại trong giải pháp cho tranh chấp Biển Đông là một phần của sự tiếp diễn trò chơi sức mạnh lịch sử giữa Mỹ và các nước khác trong khu vực. Chừng nào mà các nước thành viên ASEAN khác nhau còn có sự hợp tác khác nhau với 2 nước lớn này, sẽ khó có thể đạt được một thỏa thuận về tranh chấp Biển Đông.

Cấp tổ chức

Không may thay, đã không có ban lãnh đạo bên trong ASEAN. Do đó, vào thời điểm xảy ra các cuộc khủng hoảng như tranh chấp Biển Đông, không có nhà lãnh đạo nào hướng dẫn các nước thành viên ASEAN hướng tới một lập trường thống nhất. Hơn nữa, thực tế rằng năng lực của tổ chức này trong tất cả các thước đo (phát triển kinh tế, sức mạnh chính trị, dân số) đều yếu hơn đáng kể so với Trung Quốc và rằng Trung Quốc là đối tác thương mại then chốt của ASEAN cũng là lý do căn bản giải thích tại sao ASEAN đã không giải quyết được tranh chấp Biển Đông.

Ngoài sự thiếu vắng ban lãnh đạo và các khả năng bất lợi, ASEAN cũng có những vấn đề cố hữu với cơ chế ra quyết định và cơ cấu tổ chức. ASEAN hoạt động một cách nghiêm ngặt theo sứ mệnh trong Hiến chương ASEAN, đòi hỏi phải “tôn trọng ý nghĩa quan trọng căn bản của tình hữu nghị và hợp tác, và các nguyên tắc về chủ quyền, sự bình đẳng, tính toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp, sự đồng thuận và thống nhất trong đa dạng”. Do đó, cơ chế ra quyết định của ASEAN được dựa trên sự tham vấn và đồng thuận, điều trên thực tế thường cản trở các nước thành viên ASEAN đạt được một thỏa thuận. Những ví dụ về việc ASEAN không có khả năng tìm thấy tiếng nói chung có thể được nhận ra trong việc họ không đưa ra được thông cáo chung cuối cùng sau hội nghị ASEAN năm 2012 và 2016.

Một điểm quan trọng khác là ASEAN đi theo mô hình quản lý xung đột. Điều đó có nghĩa rằng tổ chức này nhấn mạnh việc quản lý xung đột hơn là giải quyết xung đột. Khuôn khổ hợp tác của ASEAN với tư cách là một tổ chức an ninh được ghi thành nguyên tắc trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á, hiệp ước đưa ra hướng dẫn cách thức quản lý mối quan hệ giữa các nước ở Đông Nam Á. Tới năm 2010, 19 nước không thuộc khối ASEAN (gồm cả các bên tham gia then chốt như Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ) đã gia nhập hiệp ước này.

Hiệp ước nói như sau về các cuộc xung đột:

Trong trường hợp không đạt được giải pháp nào thông qua đàm phán trực tiếp, Hội đồng cấp cao sẽ công nhận tranh chấp hoặc tình huống này và sẽ khuyến nghị cho các bên trong tranh chấp biện pháp dàn xếp thích đáng như các cơ quan có khả năng, trung gian hòa giải, cuộc điều tra hoặc sự hòa giải. Tuy nhiên, Hội đồng cấp cao có thể đưa ra các cơ quan có khả năng của mình, hoặc theo thỏa thuận của các bên trong tranh chấp, tự mình tạo thành một ủy ban làm trung gian hòa giải, điều tra hoặc hòa giải. Khi được cho là cần thiết, Hội đồng cấp cao sẽ khuyến nghị các biện pháp thích đáng cho việc ngăn chặn tranh chấp hoặc tình hình trở nên xấu đi.

Trong bài viết này, Hội đồng cấp cao được đề cập như là cơ quan quan trọng chịu trách nhiệm quản lý và dàn xếp các xung đột. Quyền lực của Hội đồng cấp cao được ghi thành nguyên tắc trong Điều 14, nói rằng: “Để dàn xếp những tranh chấp thông qua các tiến trình khu vực, các nước ký kết sẽ thiết lập, như là một cơ quan có tính liên tục, Hội đồng cấp cao gồm có một đại diện cấp bộ trưởng từ mỗi nước ký kết để công nhận sự tồn tại của các tranh chấp hoặc các tình huống có khả năng gây rối loạn cho hòa bình và sự hài hòa khu vực”. Cụm từ “dàn xếp tranh chấp thông qua các tiến trình khu vực…” và “một Hội đồng cấp cao gồm một đại diện ở cấp bộ trưởng từ mỗi nước tham gia ký kết” nhấn mạnh một lần nữa bản chất chia rẽ vốn có của thẩm quyền ra quyết định và tiến trình hành chính quan liêu chậm chạp của việc ra quyết định, thậm chí là vào thời điểm xảy ra các cuộc tranh chấp và xung đột.

Không may thay, cơ chế dàn xếp xung đột của hiệp ước này thông qua Hội đồng cấp cao chưa bao giờ được áp dụng để giải quyết bất kỳ tranh chấp nào, kể cả tranh chấp Biển Đông, mặc dù hiệp ước này được cho là hiệu quả không chỉ đối với các nước thành viên ASEAN mà còn đối với các bên ký kết khác, kể cả Trung Quốc. Việc ASEAN không thể thiết lập và trao thẩm quyền cho Hội đồng cấp cao với tư cách là một Tòa trọng tài khu vực đã định hình hình thái dàn xếp xung đột thông qua thảo luận song phương hoặc dàn xếp bên thứ ba. Kết quả là, không có gì đáng ngạc nhiên khi Trung Quốc khăng khăng chỉ tiến hành thảo luận song phương với từng bên tuyên bố chủ quyền.

Như có thể thấy, tranh chấp Biển Đông là thử nghiệm quan trọng cho ASEAN do tranh chấp này đẩy tất cả các cuộc xung đột lợi ích ở mỗi cấp trong ba cấp lên tới đỉnh điểm, đặt tổ chức này trước quyết định nó sẽ tự sửa đổi và nâng cấp, hay sẽ đánh mất ảnh hưởng trung tâm của mình trong khu vực. Các nhân tố quốc tế là mối đe dọa bên ngoài đối với ASEAN trong khi các nhân tố cấp nhà nước và cấp tổ chức có thể được xếp vào loại các mối đe dọa bên trong. Kết quả là, ASEAN sẽ tập trung vào giải quyết các mối đe dọa nội bộ thay vì các mối đe dọa bên ngoài, điều mà tổ chức này hầu như không có quyền kiểm soát./.

Linh Tong là Biên tập viên về Đông Á của “Eurasia Diary” và trợ lý nghiên cứu tại Đại học ADA. Bài viết đăng trên trang “The Diplomat (ngày 22/12).

Mỹ Anh (gt)

 

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự nhằm hủy hoại các quyền mà luật pháp quốc tế dành cho các quốc gia, đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới.

Đọc tiếp...

Biển Đông liệu có trở thành "ao nhà" của Trung Quốc?

Biển Đông liệu có trở thành

Nếu không hành động sớm, rất có thể Biển Đông sẽ thực sự trở thành một cái ao của Trung Quốc, vừa ô nhiễm vừa dần cạn kiệt nguồn cá.

Đọc tiếp...

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Mỹ cần chủ động có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn Trung Quốc. Nếu không, sự thụ động và mặc nhận sẽ làm suy yếu vị thế của Mỹ, khiến Trung Quốc trở nên táo bạo hơn nữa trong việc thực hiện ý đồ của mình mà không gặp phải bất kỳ thách thức hay trở ngại nào.

Đọc tiếp...

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc - cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua - đều có tác động nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và tâm lý đối với khu vực.

Đọc tiếp...

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Trong thời gian từ giờ đến năm 2025, có khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách hiện tại, tức là từng bước củng cố quyền kiểm soát đối với các biển Hoa Đông và Biển Đông đồng thời tuyên bố các ý định hòa bình của nước này và viện đến lịch sử như một lời biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của nước này. Nước này sẽ tiếp tục tăng cường sự hiện diện của các tàu cảnh sát biển và tàu đánh cá với khả năng phòng thủ có vũ trang.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7478 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin