28 - 5 - 2017 | 17:17
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Quy chế pháp lý của các vùng biển và sự suy giảm các quyền tự do trên biển

Quy chế pháp lý của các vùng biển và sự suy giảm các quyền tự do trên biển

Email In PDF.

Trật tự mà UNCLOS 1982  tạo ra là sự cân bằng khéo léo giữa một bên là quyền của quốc gia ven biển và bên kia là quyền tự do của tất cả các quốc gia khác. Quyền tự do hàng hải tiếp tục là thành tố cơ bản của quyền tự do trên biển, tuy nhiên các quyền tự do này đang ngày càng suy giảm trong những năm gần đây.

 

Tóm tắt

Nguyên tắc tự do biển cả được khai sinh từ đầu thế kỷ XVII. Thuyết tự do biển cả (mare liberum) vẫn chiếm ưu thế và không bị thách thức cho đến tận thế kỷ 20. Trật tự biển cũ mà bốn Công ước năm 1958 đặt ra, vì nhiều lý do, đã sụp đổ và được thay thế bởi các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Trật tự hiện nay là sự cân bằng khéo léo giữa một bên là quyền của quốc gia ven biển và bên kia là quyền tự do của tất cả các quốc gia khác. Quyền tự do hàng hải tiếp tục là thành tố cơ bản của quyền tự do trên biển, tuy nhiên các quyền tự do này đang ngày càng suy giảm trong những năm gần đây.

Phần I. Giới thiệu

Trước khi đề cập đến quy chế pháp lý của các vùng biển và sự suy giảm các quyền tự do trên biển, tác giả muốn nêu một số ý giới thiệu khái quát liên quan đến chủ đề này.

Chúng ta cần nhớ rằng trước khi nhân loại vươn ra biển, quyền tự do trên không gian bao la này đã từng bị thách thức bởi sự thống trị đất liền. Một số nguyên tắc chính của luật biển được hình thành từ sự giằng co giữa hai trường phái đối lập - sau này còn được gọi là thuyết "tự do biển cả” (mare liberum) và "kiếm soát biển cả” (mare clausum). Thuyết "tự do biển cả" được xây dựng và củng cố vào năm 1609 bởi luật gia nổi tiếng gốc Hà Lan Hugo Grotius - người chịu ảnh hưởng của các nhà thần học Tây Ban Nha và có lẽ cả từ truyền thống xa xưa của Châu Á về quyền tự do không bị cản trở của tàu buôn và thương mại biển. Thuyết "kiểm soát biển cả" với quan điểm trái ngược được xây dựng bởi nhà lập pháp người Anh John Selden vào năm 1635. Trường phái “tự do biển cả” của Grotius dần chiếm được sự ủng hộ của số đông và trở thành một nguyên tắc của luật tập quán quốc tế.

Lợi thế vẫn nghiêng về thuyết "tự do biển cả" cho đến tận thế kỷ XX khi thuyết này bắt đầu bị thách thức. Nguyên nhân đến từ sự nhận thức ngày càng tăng về nguồn tài nguyên khổng lồ và tiềm năng kinh tế lớn lao của các vùng biển; lo ngại về những thiệt hại cho nguồn cá ven bờ do các đoàn đánh bắt xa bờ gây ra và nguy cơ ô nhiễm cũng như chất thải từ các tàu vận chuyển hàng hóa độc hại. Người ta dần bước vào một tiến trình chuyển đổi luật biển từ cái được gọi là "luật lưu chuyển" sang "luật về lãnh thổ và chiếm hữu". Trật tự trước đây của các vùng biển, như được quy định trong bốn Công ước Geneva năm 1958 và được phản ánh trong luật tập quán quốc tế, đã sụp đổ trước sức ép của ba nhân tố: tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự thất bại của luật cũ trong việc giải quyết thỏa đáng quan ngại của các quốc gia ven biển trong sử dụng tài nguyên biển và sự thay đổi cơ cấu của cộng đồng quốc tế với ngày càng nhiều các quốc gia đang phát triển. Luật biển hiện đại được thể hiện  trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS)[1], tuy đã ghi nhận nhiều thay đổi đáng kể có lợi cho các quốc gia ven biển song vẫn cố gắng cân bằng khéo léo giữa quyền của các quốc gia ven biển và quyền tự do của tất cả các quốc gia khác, vì thế không sai khi gọi Công ước này là một "bản Hiến pháp của các đại dương"[2].

Phần II. Quy chế pháp lý của các vùng biển

UNCLOS được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc: tự do biển cả, chủ quyền của các quốc gia ven biển và di sản chung của nhân loại. Nguyên tắc tự do biển cả nhằm mục đích đảm bảo duy trì các quyền sử dụng biển của tất cả các quốc gia trong các lĩnh vực: hàng hải, hàng không, đặt cáp ngầm và ống dẫn, xây dựng đảo nhân tạo, đánh bắt cá và nghiên cứu khoa học biển. Nguyên tắc chủ quyền của các quốc gia ven biển là căn cứ cho việc mở rộng quyền tài phán quốc gia ra các vùng biển. Và nguyên tắc di sản chung của nhân loại nhằm thúc đẩy các lợi ích chung của loài người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

UNCLOS 1982 chia không gian biển thành vùng với mức độ khác nhau về quyền tài phán quốc gia - nội thủy, lãnh hải, vùng nước quần đảo, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và các vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia - bao gồm biển cả và "Vùng", tức đáy biển, đại dương vùng đất dưới đáy biển nằm ngoài ranh giới tài phán quốc gia. Nhóm thứ nhất còn có thể chia nhỏ thành các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia - bao gồm nội thủy, lãnh hải và vùng nước quần đảo và các vùng biển nơi quốc gia ven biển chỉ được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán có giới hạn - bao gồm vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Khi nhắc đến quy chế pháp của các vùng biển, câu hỏi đầu tiên cần giải quyết là làm sao xác định được giới hạn của chúng. Ranh giới ngoài của lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) đều được đo từ đường cơ sở, và vùng nước nằm phía trong đường cơ sở là nội thủy. UNCLOS phân biệt giữa đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng. Điều 5 quy định rằng, trừ khi được quy định khác bởi Công ước, "đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc bờ biển như được thể hiện trên hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận"[3]. Theo Điều 7 – điều khoản chủ yếu dựa trên phán quyết năm 1951 của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) trong vụ Ngư trường Anh-Na Uy, một quốc gia ven biển được sử dụng đường cơ sở thẳng "ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm, hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc bờ biển"[4]. Ngoài ra, còn có những quy định cụ thể về xác định đường cơ sở cho các vịnh, cửa sông, công trình cảng, bãi lúc chìm lúc nổi, đảo và đá.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng "tuyến các đường cơ sở thẳng không được đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển, và các vùng biển ở bên trong các đường cơ sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức được đặt dưới chế độ nội thủy"[5]. Mặc dù UNCLOS xem việc sử dụng đường cơ sở thẳng chỉ được giới hạn trong những hoàn cảnh địa lý bất thường và ICJ trong vụ Qatar-Bahrain năm 2001 đã tuyên bố một cách rõ ràng rằng phương pháp đường cơ sở thẳng phù hợp với Công ước "phải được áp dụng một cách hạn chế"[6], trên thực tế nhiều quốc gia đã vẽ đường này trên toàn bộ hoặc một phần bờ biển của mình. Hệ quả thực tế của việc áp dụng đường cơ sở thẳng này là vùng biển nơi quốc gia ven biển được hưởng các mức độ khác nhau của quyền tài phán quốc gia được nới rộng ra về hướng biển cả thay vì ngược lại và vùng biển nội thủy được hưởng cũng lớn hơn.

Quy chế pháp lý của nội thủy chủ yếu được dựa trên luật tập quán và điều ước song chưa được pháp điển hóa trong UNCLOS 1982 dù Công ước có đề cập đến vùng biển này trong một số điều khoản. Điều 8(2) của UNCLOS quy định rằng quyền qua lại vô hại cũng áp dụng với các vùng nước trước đó chưa phải nội thuỷ, nhưng trở thành nội thuỷ khi đường cơ sở thẳng được áp dụng. Không nghi ngờ gì về việc quốc gia có chủ quyền đầy đủ đối với nội thủy và các quốc gia khác không có quyền tiến hành các hoạt động biển trong những vùng biển này trừ khi được quy định cụ thể bởi luật tập quán hay điều ước. Quan điểm phổ biến hiện nay là luật tập quán quốc tế không cho tàu thuyền nước ngoài quyền tự do cập cảng. Ngoại trừ một ngoại lệ chung là các tàu gặp nạn sẽ có quyền tránh nạn trong cảng hoặc trong nội thủy của nước khác khác nhằm bảo vệ mạng sống con người. Quyền này đã được ghi nhận trong Thỏa thuận của Tổ chức Nông lương Quốc tế (FAO) năm 2009 về Các biện pháp của quốc gia có cảng biển nhằm ngăn chặn, cản trở và loại bỏ việc đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU)[7] và trong Quy định năm 2008 của Liên minh Châu Âu về việc đánh bắt cá IUU[8]. Trong vụ "ARA Libertad" giữa Argentina và Ghana năm 2012, Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) đã nêu rõ: “tàu chiến chỉ được hưởng quyền miễn trừ trong nội thủy "trên cơ sở phù hợp với luật quốc tế chung"[9].

Điều 3 của UNCLOS trao cho các quốc gia ven biển quyền thiết lập một vùng lãnh hải với chiều rộng tối đa 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong giới hạn đó, về nguyên tắc các quốc gia ven biển được quyền tự do thực thi luật lệ và quy định việc sử dụng và khai thác tài nguyên. Tuy nhiên các luật và quy định đó không được áp dụng đối với việc thiết kế, xây dựng, vận hành và trang thiết bị của tàu thuyền nước ngoài, trừ các trường hợp phù hợp với các quy tắc và tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi. Quyền "qua lại vô hại" trong lãnh hải - được định nghĩa là việc đi qua "không làm phương hại đến hòa bình, trật tự và an ninh của quốc gia ven biển"[10] - từ lâu đã được hình thành như một phần của luật tập quán quốc tế và đã được nhắc lại trong Điều 17 của UNCLOS và được áp dụng cho tàu thuyền của tất cả các quốc gia, dù là có biển hay không có biển. Tuy nhiên, quyền này không áp dụng cho hoạt động bay.

….

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Đại sứ. Tiến sỹ. Helmut Tuerk, nguyên Thẩm phán và Phó Chủ tịch Tòa án Luật Biển quốc tế, Áo. Bài viết được trình bày tại Hội thảo Các vấn đề Biển và Công ước Liên Hợp Quốc về  Luật biển (UCNLOS): Chia sẻ cách Tiếp cận của Châu Âu và Châu Á đối với Tranh chấp Lãnh Thổ do Học viện Ngoại giao tổ chức với sự hỗ trợ của Liên minh Châu Âu.



[1] Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, ngày 10/12/1982, xem tại www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/unclos_e.pdf, truy cập lần cuối ngày 10/5/2016. Công ước có hiệu lực từ ngày 16/11/1994.

[2] Phát biểu của Chủ tịch Hội nghị Luật biển Quốc tế lần thứ III của Liên Hợp Quốc (UNCLOS III) tại thời điểm ký kết Công ước Luật biển http://www.un.org/depts/los/convention_agreements/texts/koh_english.pdf, truy cập lần cuối ngày 10/5/2016.

[3] Điều 5, UNCLOS.

[4] Điều 7(1), UNCLOS.

[5] Điều 7(2), UNCLOS.

[6] Vụ kiện giữa Qatar và Bahrain về Phân định biên giới trên biển (Qatar v. Bahrain) [2001] ICJ Rep 103, đoạn 212.

[7] Thỏa thuận về Các biện pháp của quốc gia cảng biển nhằm ngăn chặn, cản trở và loại bỏ việc đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), 25/11/2009, Điều 10. Thỏa thuận này hiện chưa có hiệu lực. Xem tại ftp://ftp.fao.org/docrep/fao/meeting/018/k6339e.pdf, truy cập lần cuối ngày 10/5/2016.

[8] Quy định số 1005/2008 ngày 29/8/2008 của Liên minh Châu Âu về việc Xây dựng cơ chế cộng đồng đề ngăn chặn, kiềm chế và xóa bỏ đánh bắt cá IUU, OJ L286, 29/10/2008, 1.

[9] Vụ kiện‘Ara Libertad’ giữa Argentina và Ghana Case (Phán quyết về biện pháp tạm thời) [2012], đoạn 95 <https://www.itlos.org/fileadmin/itlos/documents/cases/case_no.20/C20_Order_15.12.2012.corr.pdf>.

[10] UNCLOS, Điều 19(1).

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Liệu Biển Đông có trở thành một Crimea mới?

Liệu Biển Đông có trở thành một Crimea mới?

Tình bạn đang nảy nở giữa Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Nga Vladimir Putin trong thời gian gần đây đã phản ánh những nét tương đồng trong phong cách lãnh đạo cá nhân của họ. Một kịch bản Crimea tại Biển Đông có xảy ra?

Đọc tiếp...

Trung – Mỹ cần phải thiết lập cơ chế đối thoại ổn định chiến lược ở Biển Đông

Trung – Mỹ cần phải thiết lập cơ chế đối thoại ổn định chiến lược ở Biển Đông

Hai nước cần phải khởi động đối thoại cấp cao về vấn đề chiến lược Biển Đông, chuyển chủ đề Biển Đông từ vấn đề “quân sự hóa” sang vấn đề “ổn định chiến lược”, đồng thời phát triển một bộ “quy tắc trò chơi” tương tác lẫn nhau ở Biển Đông có lợi cho ổn định chiến lược. 

Đọc tiếp...

Thế Lưỡng nan về Đối ngoại của ông Tập Cận Bình: Lựa chọn Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” hay Biển Đông?

Thế Lưỡng nan về Đối ngoại của ông Tập Cận Bình: Lựa chọn Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” hay Biển Đông?

Bài viết đánh giá Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” hay việc thúc đẩy lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ giúp củng cố vị thế chính trị của ông Tập Cận Bình hiệu quả hơn. Đây là vấn đề rất quan trọng đối với các quốc gia khu vực, đặc biệt là các bên tranh chấp ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Tuần trăng mật Trung Quốc-Philippines kết thúc?

Biển Đông: Tuần trăng mật Trung Quốc-Philippines kết thúc?

Những phát biểu gần đây về Biển Đông của Tổng thống Philippines có thể là một nỗ lực có tính toán nhằm phục hồi uy tín, xoa dịu các tướng lĩnh và giới chức an ninh, đồng thời chứng tỏ quyết tâm của ông Duterte đối với Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Chiến lược thống trị Biển Đông của Trung Quốc: Sao chép Đế quốc Anh

Chiến lược thống trị Biển Đông của Trung Quốc: Sao chép Đế quốc Anh

Trong khi sự thống trị của Anh trên biển và đại dương trong các thế kỷ XVIII và XIX được biết đến nhiều hơn, ngày nay rất ít người nhớ rằng khi đó người Hà Lan chứ không phải người Anh mới giữ vị thế cường quốc biển lớn nhất thế giới.

Đọc tiếp...

Nguy cơ Mỹ để mất các lợi ích ở Biển Đông

Nguy cơ Mỹ để mất các lợi ích ở Biển Đông

Mỹ cần nắm bắt cơ hội khi Chính quyền của ông Duterte nhận ra Bắc Kinh không hề đem lại hy vọng cho họ. Nhất là từ ngày 1/5, khi Trung Quốc bắt đầu thực thi lệnh cấm đánh bắt cá tại các khu vực, bao gồm cả tại bãi cạn Scarborough.

Đọc tiếp...

Ba lựa chọn của Mỹ để ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông

Ba lựa chọn của Mỹ để ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông

Câu hỏi được đặt ra là Washington và các đồng minh nên làm gì? Trong 5 năm qua, Trung Quốc đã xây dựng 12 cơ sở quân sự quan trọng tại Biển Đông, bao gồm 3 căn cứ kiên cố cho không quân.

Đọc tiếp...

Chiến tranh phức hợp có thể bảo vệ lợi ích của Mỹ ở Biển Đông

Chiến tranh phức hợp có thể bảo vệ lợi ích của Mỹ ở Biển Đông

Các thiết bị không người lái có thể là một giải pháp lý tưởng cho chiến tranh phức hợp. Với các thiết bị này, Mỹ có thể tăng cường việc tiếp cận các tàu của Trung Quốc, đồng thời tránh bị xem là khiêu khích hay đối mặt với các chạm không mong muốn.

Đọc tiếp...

An ninh đường biển tại châu Á: Châu Âu không thể thờ ơ

An ninh đường biển tại châu Á: Châu Âu không thể thờ ơ

Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng quyết đoán ở khu vực, những nghi ngại về cam kết đối với Châu Á của Mỹ, Châu Âu cần tham gia đối thoại và xác định lập trường của mình, đóng góp vào sự tái cân bằng lực lượng tại một khu vực châu Á mà tầm quan trọng chiến lược của nó vượt qua khuôn khổ khu vực.

Đọc tiếp...

Vai trò của Singapore trong tranh chấp Biển Đông

Vai trò của Singapore trong tranh chấp Biển Đông

Là một quốc gia nhỏ bé, khan hiếm tài nguyên, Singapre luôn nhận thực không thể dựa vào sức mạnh bản thân để phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc gia. Đây chính là đặc trưng “văn hóa khủng hoảng” nước nhỏ của Singapre. Và đó chính là nguyên nhân khiến Singapre rất lo sợ cục diện cân bằng nước lớn ở Biển Đông bị phá vỡ.

Đọc tiếp...

Lý do Indonesia và Úc không thể tuần tra chung tại Biển Đông

Lý do Indonesia và Úc không thể tuần tra chung tại Biển Đông

Từ năm 2016, Indonesia đã có những cơ hội để có thể thay đổi chính sách trong vấn đề Biển Đông, nhưng dường như có rất ít bằng chứng cho thấy Indonesia đã tận dụng điều đó. Quan điểm của Indonesia về Biển Đông vẫn còn khá mơ hồ.

Đọc tiếp...

"Pháo đài khổng lồ" của Trung Quốc trên Biển Đông

Nhờ sự kết hợp giữa các tàu mặt nước, các pháo phòng không cùng tàu ngầm tấn công thông thường và tàu ngầm hạt nhân, giá trị chiến lược của căn cứ quân sự Ngọc Lâm ở cực Nam của đảo Hải Nam ngày càng gia tăng.

Đọc tiếp...

Hội nghị hải quân - Giải pháp cho vấn đề Biển Đông?

Hội nghị hải quân - Giải pháp cho vấn đề Biển Đông?

Một hiệp ước kiểm soát vũ khí hải quân có sự tham gia của Trung Quốc có thể giải quyết vấn đề hóc búa nhất trong khu vực. Hiện nay, cuộc chạy đua vũ khí hải quân giữa Trung Mỹ đã bắt đầu hình thành và có thể phát triển theo chiều hướng nguy hiểm, giống như cuộc chạy đua tàu chiến Anh-Đức trong thập niên đầu của thế kỷ trước.

Đọc tiếp...

Chính sách Biển Đông của Lào: Nguyên nhân và tác động

Chính sách Biển Đông của Lào: Nguyên nhân và tác động

Nghiên cứu Biển Đông xin giới thiệu góc nhìn của học giả Trung Quốc Chen Xiang, Học viện Chính trị và Quan hệ Quốc tế, về chính sách Biển Đông của Lào. Trong bài viết, tác giả lập luận chính sách Biển Đông của Lào phản ánh lợi ích quốc gia và các toan tính của Lào trong quan hệ với Trung Quốc và Việt Nam. 

Đọc tiếp...

Lý do Trung Quốc sửa đổi Luật an toàn giao thông hàng hải

Lý do Trung Quốc sửa đổi Luật an toàn giao thông hàng hải

Chiến dịch dài hơi của Trung Quốc nhằm biến Biển Đông thành lãnh thổ của mình đang được tiến hành khẩn trương. Vì vậy, những quốc gia tôn trọng quyền tự do hàng hải cần bác bỏ chiến dịch này dưới mọi hình thức.

Đọc tiếp...

Vấn đề Biển Đông: Câu hỏi nhiều hơn câu trả lời

Vấn đề Biển Đông: Câu hỏi nhiều hơn câu trả lời

Mặc dù chưa rõ ASEAN - Trung Quốc có thể chính thức hóa bộ quy tắc ứng xử hay không, nhưng chắc chắn sẽ xuất hiện một số yếu tố cản trở nỗ lực này. Bộ quy tắc này không trao cho ASEAN quyền hợp pháp để kiểm tra hành vi của các bên yêu sách, chứ chưa nói đến giám sát hay buộc các bên tuân thủ.

Đọc tiếp...

Kết luận mang tính bước ngoặt ở Biển Đông: Phạm vi và Tác động của Phán quyết Toà Trọng tài

Kết luận mang tính bước ngoặt ở Biển Đông: Phạm vi và Tác động của Phán quyết Toà Trọng tài

Bài viết này nhằm ba mục đích: thứ nhất, để chỉ ra các đặc điểm của Tòa Trọng tài và địa vị pháp lý của phán quyết; thứ hai để tóm tắt những kết luận chính của Toà; thứ ba để tìm hiểu những tác động tiềm tàng của phán quyết đối với cả trong và ngoài khu vực Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính trị nội bộ trong cách tiếp cận của Indonesia đối với phán quyết của Tòa Trọng tài và vấn đề Biển Đông

Chính trị nội bộ trong cách tiếp cận của Indonesia đối với phán quyết của Tòa Trọng tài và vấn đề Biển Đông

Phản ứng tức thì của Indonesia trước phán quyết của Tòa Trọng tài ngày 12 tháng 7 năm 2016 thật sự mờ nhạt. Khi xem xét kỹ hơn, tuyên bố này có vẻ lại là một ví dụ nữa về cách tiếp cận không nhất quán của Indonesia đối với vấn đề Biển Đông cũng như đối với các hành vi xâm phạm EEZ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Giải mã sự thay đổi trong chính sách Biển Đông của Mỹ

Giải mã sự thay đổi trong chính sách Biển Đông của Mỹ

Hoạt động cải tạo và quân sự hóa các thực thể ở Biển Đông đã dẫn đến một sự đánh giá lại vai trò của Biển Đông như là một phần trong lợi ích cốt lõi lớn hơn của Mỹ, và trong đại chiến lược của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. Phản ứng của Mỹ giờ đây đã chủ động hơn nhằm ngăn chặn Trung Quốc cũng như theo đuổi mục tiêu buộc Trung Quốc phải “trả giá” cho hành động của mình.

Đọc tiếp...

Biển Đông – một số nguyên tắc chiến lược căn bản cho chính quyền mới của Mỹ

Biển Đông – một số nguyên tắc chiến lược căn bản cho chính quyền mới của Mỹ

Nhằm chống lại những nỗ lực của Trung Quốc kiểm soát Biển Đông, Mỹ cần một chiến lược bền vững để thúc đẩy các khả năng của đồng minh, bạn bè và đối tác, hợp tác hiệu quả hơn với các đối tác và đồng minh có khả năng, và củng cố trật tự khu vực.

Đọc tiếp...

Mỹ có nên tái vũ trang Đông Nam Á để đối phó Trung Quốc?

Mỹ có nên tái vũ trang Đông Nam Á để đối phó Trung Quốc?

Tái vũ trang cho các quốc gia Đông Nam Á để nhằm chống lại Trung Quốc sẽ là một chiến lược sai lầm khi mà khu vực này cần sự ổn định, cấu trúc trung tâm để duy trì sự cân bằng cán cân quyền lực trong khu vực và hơn nữa là nhằm giữ vững một môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.

Đọc tiếp...

Chủ nghĩa đơn phương có phục vụ cho lợi ích của Mỹ ở Biển Đông?

Chủ nghĩa đơn phương có phục vụ cho lợi ích của Mỹ ở Biển Đông?

Việc Tổng thống Trump nhấn mạnhnước Mỹ trên hếtkhiến nhiều người quan ngại rằng nước Mỹ dưới thời Tổng thống Trump sẽ không tái cam kết đối phó với những tác động an ninh trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng mạnh lên. Vậy, chủ nghĩa đơn phương có phục vụ cho lợi ích của Mỹ Biển Đông hay không?

Đọc tiếp...

Cách tiếp cận của Malaysia về tranh chấp Biển Đông sau phán quyết của Tòa trọng tài

Cách tiếp cận của Malaysia về tranh chấp Biển Đông sau phán quyết của Tòa trọng tài

Malaysia có truyền thống áp dụng cách tiếp cận “giữ an toàn” ở Biển Đông vừa để bảo vệ yêu sách của nước này vừa để duy trì mối quan hệ song phương quan trọng với Trung Quốc. Phán quyết của Tòa đã mở ra cơ hội cho Malaysia theo đuổi hai mục tiêu trong tiếp cận truyền thống đó: củng cố luật pháp quốc tế và hỗ trợ cho yêu sách mà Malaysia đang tìm cách bảo vệ.

Đọc tiếp...

Trung Quốc chuẩn bị thử phản ứng của tân Chính quyền Mỹ?

Trung Quốc chuẩn bị thử phản ứng của tân Chính quyền Mỹ?

Các chính phủ nước ngoài thường muốn thử phản ứng của các tân tổng thống Mỹ như là một cách để họ cách chào đón mỗi vị tổng thống Mỹ sau khi nhậm chức. Trung Quốc có thể tuyên bố một Vùng ADIZ tại Biển Đông, hay xây dựng cơ sở quân sự tại bãi cạn Scarborough. Điều này gần như chắc chắn sẽ đi quá giới hạn đối với Mỹ.

Đọc tiếp...

“Một vành đai, một con đường” và sự tái cân bằng chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

“Một vành đai, một con đường” và sự tái cân bằng chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

“Một vành đai, một con đường” phải dựa vào việc Trung Quốc và các nước ven bờ xây dựng quan hệ tốt đẹp trên cơ sở tin cậy lẫn nhau về chính trị. Như vậy, điều đầu tiên Trung Quốc cần làm là phải tạo lòng tin, mà trước hết là vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Đã đến lúc vượt qua Bắc Kinh ở Biển Đông

Đã đến lúc vượt qua Bắc Kinh ở Biển Đông

Mỹ nhất thiết phải vượt ra ngoài cái gọi là “xoay trục” và “tái cân bằng” tiến tới một sự can dự quân sự toàn diện hơn với khu vực mà có thể được gọi là Chương trình quan hệ đối tác an ninh khu vực.

Đọc tiếp...

Làm thế nào để hạ nhiệt tình hình Biển Đông?

Làm thế nào để hạ nhiệt tình hình Biển Đông?

Trong số những vấn đề phức tạp của quan hệ Trung-Mỹ, không có vấn đề nào nguy hiểm hơn vấn đề tranh chấp chủ quyền trên khu vực Biển Đông. Cần thiết phải có phương thức tránh xung đột giữa hai nước, nhưng đâu là bước đi cần thiết và khả thi?

Đọc tiếp...

Mỹ có nên quá chú trọng vào FONOP?

Mỹ có nên quá chú trọng vào FONOP?

Việc đẩy mạnh quá mức nhận thức của công chúng đối với FONOP có thể dẫn tới việc sử dụng thái quá cách thức này trong khi giới hoạch định chính sách vẫn còn nhiều lựa chọn khác để thúc đẩy tự do hàng hải và hàng không trong khu vực. 

Đọc tiếp...

Tại sao Biển Đông lại là một thử thách quan trọng đối với ASEAN?

Tại sao Biển Đông lại là một thử thách quan trọng đối với ASEAN?

Nếu thất bại trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông, ASEAN sẽ đánh mất sự tín nhiệm của mình ở cấp quốc tế với tư cách là một tổ chức khu vực hiệu quả, và giữa các nước thành viên với tư cách là bên đảm bảo đáng tin cậy cho an ninh và thịnh vượng của các thành viên.

Đọc tiếp...

ASEAN nên làm gì trong tranh chấp Biển Đông?

ASEAN nên làm gì trong tranh chấp Biển Đông?

Trong bối cảnh ASEAN đang phải đối mặt các thách thức từ tranh chấp biển, bài viết đưa ra 3 khuyến nghị về việc làm thế nào để hồi sinh ASEAN: Tăng cường hợp tác và phát triển bên trong ASEAN để thu hẹp khoảng cách lợi ích giữa các nước thành viên; tái định nghĩa thuật ngữ "tham vấn" và "đồng thuận"; trao quyền cho Hội đồng cấp cao ASEAN.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 10153 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin