25 - 1 - 2021 | 17:42
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Hải chiến Hoàng Sa năm 1974 - Một Đánh giá về mặt Chiến dịch

Hải chiến Hoàng Sa năm 1974 - Một Đánh giá về mặt Chiến dịch

Email In PDF.

Điều đáng lưu ý là trong cuộc chiến này, Trung Quốc đã triển khai kết hợp các lượng lượng thông thường và không chính quy để đạt được các mục tiêu tác chiến của mình, và hiện tại Trung Quốc vẫn đang sử dụng sự kết hợp này. Do đó, các nhà hoạch định chính sách cần phải chú tâm đến quá khứ hải chiến của Trung Quốc.

 

 

Vào ngày 19/1/1974, hải quân Trung Quốc và miền Nam Việt Nam đã đụng độ gần quần đảo tranh chấp Hoàng Sa. Cuộc hải chiến ngắn ngủi nhưng với cường độ lớn và kết quả là Trung Quốc đã kiểm soát các thực thể có vẻ không thực sự mang nhiều ý nghĩa ở Biển Đông. Cuộc chiến xảy ra với các loại vũ khí cũ kỹ, nhỏ và đều lỗi thời. Cuộc chiến chỉ kéo dài trong vài giờ với tổn thất không nhiều về phương tiện và con người. Cuộc chiến lúc đó không thu hút nhiều sự chú ý từ công chúng, đặc biệt là khi so với các cuộc chiến lớn trên biển như trong hai cuộc chiến thế giới. Không ngạc nhiên khi cuộc chiến này vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ, nếu không muốn nói là bị lãng quên, trong suốt chiều dài lịch sử hải chiến của thế giới.[1]

Thật tiếc khi bí ẩn về cuộc chiến vẫn chưa được khai phá. Theo các nguồn tài liệu tiếng Trung công khai gần đây, cuộc chiến cho thấy đây là một cuộc hải chiến phức tạp hơn nhiều so với những gì thường được các học giả phương Tây mô tả.[2] Những chi tiết khuyết danh cho đến nay về cuộc chiến đã minh họa cho cách thức các nhà chiến lược Trung Quốc thực hiện các chiến thuật như thế nào để cưỡng ép, ngăn chặn và đánh bại đối thủ yêu sách lãnh thổ ở Biển Đông. Điều đáng lưu ý là Trung Quốc đã triển khai kết hợp các lượng lượng thông thường và không chính quy để đạt được các mục tiêu tác chiến của mình. Các phương pháp kết hợp như vậy không chỉ phổ biến trong lịch sử hải quân Trung Quốc, mà nó còn là dấu hiệu về các phương thức hải chiến kết hợp mà Trung Quốc sử dụng gần đây để đối phó với các quốc gia biển láng giềng ở châu Á như Nhật Bản, Việt Nam và Philippines. Trên thực tế, những hoạt động của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa cho thấy một nguyên mẫu mà Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục thực hiện trong tương lai. Do đó, các nhà hoạch định chính sách cần phải chú tâm đến quá khứ hải chiến của Trung Quốc.

Cuộc hải chiến Trường Sa năm 1974 là bước đi đầu tiên trong nỗ lực hàng thập kỷ của Trung Quốc nhằm thiết lập và mở rộng sự hiện diện của mình ở Biển Đông. Năm 1988, Trung Quốc đã chiếm 6 bãi đá và bãi san hô ở quần đảo Trường Sa sau cuộc hải chiến với Việt Nam tại Bãi Gạc Ma. Cuối năm 1994, Trung Quốc xây dựng các công trình trên bãi Vành Khăn mà Philippines cũng có yêu sách, buộc một Philippines yếu kếm không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận sự đã rồi. Năm 2012, Trung Quốc đã cưỡng bức Philippines phải đi đến kết cục mất quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough cho Trung Quốc sau cuộc khủng hoảng về quyền đánh bắt cá tại bãi cạn này. Bắt đầu từ cuối năm 2013, Trung Quốc tiến hành dự ánh cải tạo đảo trên quy mô lớn ở quần đảo Trường Sa, xây dựng các đảo nhân tạo, mở rộng lên hàng ngàn mẫu. Một số đảo nhân tạo có đường băng ở cấp độ quân sự, cảng nước sâu kết hợp với tàu chiến, phương tiện để xây dựng các tiền đồn quân sự và các cơ sở hạ tầng hỗ trợ khác. Sự phát triển về sức mạnh trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông, một sự phát triển được tiếp đà trong những năm gần đây, bắt đầu với thế đứng chân vững chắc có được ở quần đảo Hoàng Sa.

Cuộc xung đột và hệ quả của nó cũng để lại một di sản kéo dài và tác động rất lớn đến các mối quan hệ hệ quốc tế ở Châu Á. Các tranh chấp lãnh thổ vốn nổi lên từ cuộc chiến 40 năm trước hiện vẫn chưa được giải quyết và vẫn tiếp tục hun đúc lòng thù hận giữa Việt Nam và Trung Quốc. Khi Bắc Kinh hạ đặt giàn khoan trong vùng biển gần với quần đảo Hoàng Sa vào tháng 5/2014, biểu tình phản đối đập phá các doanh nghiệp của Trung Quốc đã nổ ra khắp nơi ở Việt Nam. Trên biển, tàu của lực lượng chấp pháp biển Việt Nam đã nỗ lực phá vỡ hàng rào an ninh được các tàu hải quân, bán quân sự và dân sự Trung Quốc lập nên. Trong thời gian diễn ra căng thẳng, mối quan hệ song phương giữa hai nước đã rơi xuống các đáy mới. Cuộc khủng hoảng tranh chấp lãnh thổ vẫn chưa chấm dứt và chúng vẫn khuấy động các mối quan hệ vốn xuất phát từ cuộc chiến năm 1974.

Cuộc hải chiến Hoàng Sa xảy ra vào đúng ngã rẽ trong lịch sử chính trị hỗn loạn của Trung Quốc. Thời điểm đó, quốc gia này vẫn đang quay cuồng trong cuộc Cách mạng Văn hóa khi cuộc hải chiến nổ ra. Phong trào chính trị cấp tiến khiến cho lực lượng quân đội bị suy yếu đến mức độ hải quân Trung Quốc gần như phải trả giá cho điều đó bằng sự thất bại trong chiến dịch ở Hoàng Sa. Mao Trạch Đông lúc này đã giành sự lưu tâm cho cuộc khủng hoảng, đưa ra những mệnh lệnh quân sự cuối cùng trong suốt cuộc xung đột trước khi qua đời hai năm sau đó. Đặng Tiểu Bình, sau khi được phục hồi quyền lực trong cuộc thanh trừng của cuộc Cách mạng Văn hóa, đã tiếp quản chiến dịch này. Lưu Hoa Thanh sau đó đã xây dựng củng cố cho kế hoạch ở quần đảo Hoàng Sa không lâu sau khi cuộc hải chiến kết thúc. Đặng Tiểu Bình, kiến trúc sư cho sự đổi mới và mở cửa của Trung Quốc, cùng với Lưu Hoa Thanh, cha đẻ của hải quân hiện đại Trung Quốc, sau đó đã lèo lái đất nước vượt ra khỏi thời kỳ đen tối mà Mao Trạch Động để lại. Vai trò của họ trong cuộc khủng hoảng này dường như đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho họ khi tự bổ nhiệm mình thành nhà lãnh đạo của Trung Quốc.

Đối với Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN), chiến dịch này đã khắc sâu vào lịch sử ngành của PLAN, trở thành một phần thiết yếu về một “chiến thắng vinh quang” của hải quân Trung Quốc.[3] Cuộc “Phản công tự vệ” đã đánh bại miền Nam Việt Nam và khôi phục lại quyền kiểm soát của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.[4] Đây được xem là một cuộc hải chiến đầu tiên của PLAN đối với một đối phương bên ngoài. (Cuộc chiến chống lại Quốc dân Đảng dọc theo bờ biển đại lục Trung Quốc những năm 1950 và 1960 được xem là sự mở rộng của nội chiến Trung Quốc). Cuộc chiến cũng là lần đầu tiên mà PLAN - phần lớn lực lượng phòng vệ bờ biển đều là các tàu cũ kỹ của Liên Xô - hoạt động xa bờ. Sự chênh lệch về sức mạnh hải quân dường như nghiêng về miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa - RVN) đã tạo điều kiện cho các nhà bình luận Trung Quốc thần thánh hóa chiến thắng này.

Những di sản cuộc hải chiến, từ thái độ thù địch trong khu vực cho đến vị thế chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông, đòi hỏi phải có một nghiên cứu đánh giá lại sâu sắc hơn nữa. Các nguồn tư liệu công khai của Trung Quốc hiện tại có thể giúp làm rõ nhiều vấn đề của cuộc chiến. Việc tái hiện lại một bức tranh rõ ràng hơn về cuộc hải chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ giúp chúng ta hiểu rõ được các thành phần cấu thành nên sự thành công trong chiến dịch này của hải quân Trung Quốc. Ngoài ra, một phân tích về quá khứ cũng sẽ vạch ra được sự tiếp nối trong việc Trung Quốc sự dụng vũ lực và sự cưỡng ép trên biển. Cụ thể, việc Trung Quốc triển khai sử dụng kết hợp tàu dân sự và quân sự năm 1974 cho thấy mức độ ưu tiên về tác chiến về chiến tranh kết hợp, điều đó được chứng minh trong tranh chấp lãnh thổ hiện nay của Trung Quốc. Khuynh hướng như vậy có những tác động đối với các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông và đối với cả Mỹ, quốc gia đóng vai trò bảo trợ cho an ninh và ổn định biển Châu Á.

Nhằm tối đa hóa được giá trị phân tích về cuộc hải chiến, phần đầu bài viết sẽ đánh giá lại bối cảnh địa lý và lịch sử của tranh chấp quần đảo Hoàng Sa. Bài phân tích sẽ tường thuật thật chi tiết về các hoạt động quân sự “ăn miếng trả miếng” gần quần đảo Hoàng Sa đã gây ra xung đội giữa Trung Quốc và miền Nam Việt Nam. Tiếp đến, bài phân tích đánh giá chi tiết về cuộc hải chiến và hệ quả của nó từ những tường thuật của người Trung Quốc. Bài viết sẽ đưa ra nhận định về cuộc chiến, phân tích về mối quan hệ quân sự - dân sự của Trung Quốc, sự thể hiện về mặt hoạt động của PLAN, vai trò của sự va chạm và cơ hội, tầm quan trọng của các lực lượng bán quân sự đối với Bắc Kinh. Cuối cùng, bài phân tích đưa ra kết luận với một vài suy nghĩ về việc cuộc hải chiến có thể cho thấy dấu hiệu như thế nào về chiến lược tương lai của Trung Quốc ở Biển Đông và tác động của nó đối với các bên liên quan trong khu vực biển Châu Á.

NGUỒN VÀ PHƯƠNG PHÁP

Trong những năm gần đây, các tài liệu lịch sử về cuộc hải chiến Hoàng Sa xuất hiện trên khắp các nguồn công khai, trong đó có các ấn phẩm của PLAN, bài viết học thuật, các ấn phẩm định kỳ của các chuyên gia và các tạp chí phổ biến. Thành phần tham gia chiến dịch, từ chỉ huy bộ phận cho tới lính chiến thuật đều chấp thuận phỏng vấn hay đưa ra các bài viết về những gì họ tham gia và chứng kiến, phản ánh trải nghiệm cá nhân của mình. Những bài viết có những chi tiết thú vị về sự tham gia và đưa ra những đánh giá quan trọng về việc Trung Quốc đã tiến hành cuộc chiến như thế nào.

Mức độ công khai nhìn chung đối với cuộc thảo luận về các chủ đề chính trị trung lập, bao gồm cả các chủ đề về hải quân, một phần giải thích cho việc sẵn sàng tham gia vào cuộc thảo luận thẳng thắn về cuộc chiến. Trong hàng thập kỷ, lãnh đạo Trung Quốc đã cho phép thảo luận tương đối tự do giữa các quan chức, học giả và các nhà bình luận đối với nhiều vấn đề, khuyến khích họ tiếp tục thảo luận về tương lai sức mạnh biển của Trung Quốc. Cam kết của chủ tịch Tập Cận Bình về việc biến Trung Quốc thành một cường quốc biển càng làm tăng thêm động lực cho những người ủng hộ tuyên truyền về những vấn đề giúp cổ vũ cho việc quốc gia hướng về biển. Sự thành công của Trung Quốc trong cuộc chiến 1974 đem lại một câu chuyện được nâng tầm ăn khớp với những nỗ lực gần đây của Trung Quốc nhằm thúc đẩy hải quân trở thành một dự án tầm quốc gia quan trọng, thúc đẩy “nhận thức về biển” của xã hội. Và với tham vọng của Bắc Kinh và việc tăng cường năng lực nhằm gây ảnh hưởng đối với các sự việc ở Biển Đông, lịch sử về cuộc hải chiến Hoàng Sa đã tạo ra tiếng vang đối với công chúng Trung Quốc.

Việc tập trung nhiều vào cuộc hải chiến này mở ra cánh cửa về cách diễn giải của Trung Quốc đối với lịch sử hải quân của nước này.[5] Thực tế, nguồn tài liệu này sẽ giúp hiểu rõ được các bài học mà Trung Quốc đã rút ra từ cuộc chiến cũng như xác định được các bài học mà Trung Quốc có thể đã bỏ qua hoặc cố ý bỏ qua. Nếu như những bài học này, và cả các bài học sai lầm, có giá trị đối với các nhà chỉ huy quân sự và hoạch định chính sách Trung Quốc, cuộc hải chiến có thể sẽ cung cập một cái nhìn rõ ràng hơn về chiến lược hiện nay của Trung Quốc ở các khu vực tranh chấp xa bờ. Điều quan trọng không kém là sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc ở các vùng biển Châu Á, kể cả hoạt động xây dựng đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa, có lẽ sẽ làm tăng thêm nhu cầu ở Mỹ và các quốc gia Châu Á khác muốn hiểu rõ hơn về quan điểm của Trung Quốc đối với vấn đề biển cho hoạch định chính sách.

Có một số cảnh báo về nguồn và phương pháp về các dữ kiện, đánh giá đề cập trong bài. Bài phân tích chủ yếu dựa vào gần như toàn bộ ghi chép của Trung Quốc về cuộc chiến, bao gồm ghi chép của PLAN, hồi ký của những người tham gia và nguồn tài liệu thứ cấp. Với kinh nghiệm ít ỏi hoạt động trên biển của Trung Quốc, đặc biệt trong thập kỷ đầu cầm quyền của đảng cộng sản Trung Quốc, điều đó có thể buộc các nhà phân tích Trung Quốc phải “tiểu thuyết hóa” quá mức, và do đó có thể là bóp méo về thành công của họ. Cũng không có gì ngạc nhiên, nguồn tư liệu Trung Quốc thường “hạ thấp” kẻ thù trong khi “nâng tầm” phẩm chất của Trung Quốc lên. Ở Trung Quốc, tồn tại đầy rẫy tư tường thiên kiến bài ngoại và luận điệu tuyên truyền không thực sự đúng sự thật. Do đó, những dữ liệu, đánh giá không thể là một quan điểm trung lập.

Trong khi đó,  câu chuyện về phía Việt Nam sẽ không được trình bày ở đây, bài phân tích sẽ đưa ra một số hồi ký tiếng Anh của các chỉ huy hải quân RVN, họ là những người đã tham gia cuộc chiến này.[6] Cần phải đặc biết chú ý tới những hồi ký có sự khác biệt lớn trong các phiên bản của Trung Quốc đối với các sự kiện. Ngoài ra, rất nhiều ghi chép về cuộc chiến ở Trung Quốc cũng tồn tại sự khác biệt. Trong phạm vi có thể, bài phân tích sẽ xác định những khác biệt này với nhận định rằng sự thực của câu chuyện sẽ không thể được khám phá nếu như không tiếp cận các nguồn chính thức của Việt Nam và Trung Quốc. Đây là lát cắt quan trọng đầu tiên nhưng phần lớn lại không được đánh giá đúng mức trong các miêu tả về bước tiến ra biển của Trung Quốc.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Giáo sư Yoshihara, thuộc khoa Chính sách và Chiến lược tại Trường Hải Chiến Mỹ, hiện là giám đốc John A. van Beuren  của chương trình Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương, thành viên liên kế Viện Nghiên cứu Biển Trung Quốc tại Trường Hải chiến Mỹ. Ông là đồng tác giả của công trình nghiên cứu gần đây nhất: Red Star over the Pacific: China’s Rise and the Challenge to U.S. Maritime Strategy (2010) và là đồng biên tập công trình Strategy in the Second Nuclear Age: Power, Ambition, and the Ultimate Weapon(2012). Bài viết được đăng trên Naval War College Review, Số 2, Tập 69/2016.

Châu Giang (dịch)

Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.



Tác giả xin chân thành cảm ơn June Dreyer, Andrew Erickson, John Maurer, Carl Thayer và Arthur Waldron vì những đóng góp cho các bản thảo trước đây.

[1] Một phân tích khác rất hay là của tác giả Taylor Fravel về cuộc hải chiến và giải thích về sự bùng phát thái độ thù địch giữa Trung Quốc và miền nam Việt Nam. Xem M. Taylor Fravel, Strong Borders, Secure Nation (Princeton, N.J.: Princeton Univ. Press, 2008), tr. 272-87. Xem tường thuật về cuộc chiến của Bill Hayton, The South China Sea: The Struggle for Power in Asia (New Haven, Conn.: Yale Univ. Press, 2014), tr. 70-78.

[2] Về những phân tích tiêu chuẩn trước đây về cuộc chiến, xem Bruce Swanson, Eighth Voyage of the Dragon: A History of China's Quest for Seapower (An­napolis, Md.: Naval Institute Press, 1982), tr. 268-69, và David G. Muller, China as a Maritime Power (Boulder, Colo.: Westview, 1983), tr. 152-54.

[3]Thảo luận về lịch sử hoạt động tác chiến của PLAN, xem杜景臣 [Du Jingchen], biên tập, 国海军军人手册 [Handbook for Officers and Enlisted of the Chinese Navy] (Beijing: Haichao, 2012), tr. 7-16.

[4]Tlđd, tr.609

[5] Về tổng thể cuộc chiến, xem传友 胡延波 红彬 [Wang Chuanyou, Hu Yanbo, and Guo Hongbin], 海防安全 [On Coastal Defense] (Beijing: Haiyang, 2007), tr. 86–88; 房功利 杨学军 [Fang Gongli, Yang Xuejun, and Xiang Wei], 中国人民解放军海军60 (1949–2009) [China People’s Liberation Army Navy, 60 Years (1949–2009)] (Qingdao: Qingdao, 2009), tr. 204–206; and 李明春 吉国 [Li Mingchun and Ji Guo], 海洋国梦 [Maritime Power Dream] (Beijing: Haiyang, 2014), tr. 114–18

[6] Hai trích dẫn của phía miền nam Việt Nam được sử dụng trong bài viết này là của Kiem Do và Julie Kane, Counterpart: A South Vietnamese Naval Of­ficers War (Annapolis, Md.: Naval Institute Press, 1998), và Ha Van Ngac, "The January 19, 1974, Naval Battle for the Paracels against the People's Republic of China Navy in the East Sea," HQHH Dallas, 2015, vnnavydallas .com. Vào thời điểm diễn ra cuộc chiến, thuyền trưởng Kiêm là phó tổng tham mưu tác chiến của hải quân RVN, quan chức đứng thứ ba trong hải quân RVN, trong khi đó thuyền trưởng Ngac là chỉ huy lực lượng đặc nhiệm trong cuộc chiến Hoàng Sa.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập (A2/AD) là chiến lược biển được xây dựng nhằm ngăn không cho lực lượng hải quân đối phương tự do di chuyển trong một không gian chiến đấu. Bài viết sẽ phân tích những thuận lợi và khó khăn khi Trung Quốc thực hiện A2/AD tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông


Trung Quốc sẽ được gì và mất gì khi thiết lập một ADIZ ở Biển Đông? Những dự báo của giới quan sát về khả năng thành công của một ADIZ trong khu vực này.

 

Đọc tiếp...

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Một số nhà quan sát cho rằng hành động đáp trả của Mỹ mang tính tự phát, không đủ mạnh và còn khiến Bắc Kinh bạo trợn hơn. Trong thời gian vài tuần đầu, những cáo buộc như vậy bị cho là quá vội vàng, song cũng bộc lộ sự yếu kém cố hữu trong cách tiếp cận của Mỹ đối với vấn đề an ninh biển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Đọc tiếp...

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Trong khi thế giới chiến đấu với COVID-19, Trung Quốc đang tiến gần hơn tới việc thiết lập sự thống trị trong khu vực.

Đọc tiếp...

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

 

Bắc Kinh đang từng bước tiến đến mục tiêu buộc cộng quốc tế chấp thuận các tuyên bố chủ quyền của nước này đối với Biển Đông. Cứ mỗi thập kỷ trôi qua, Bắc Kinh lại đạt được một bước tiến mới trong nghị trình của mình.

Đọc tiếp...

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Bài báo cáo định lượng những ảnh hưởng đến môi trường từ các hành vi bồi đắp đảo trên Biển Đông, kết quả từ việc nạo vét và có thể tác động tiêu cực đến hệ động vật, thực vật biển và hệ sinh thái biển. Mức độ thiệt hại gây ra bởi việc xây dựng đảo được cho là trầm trọng vì các rạn san hô ở Biển Đông tập trung đa dạng sinh học biển lớn nhất trên Trái Đất.

Đọc tiếp...

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Để chứng minh cho cái gọi là chủ quyền “mang tính lịch sử”, giới học giả Trung Quốc đã nỗ lực lập luận, đưa ra những bằng chứng lịch sử. Tuy nhiên, các bằng chứng mà họ đưa ra rất mập mờ, không có bất cứ tham chiếu nào về vị trí trích dẫn chính xác, thậm chí còn cố tình sửa đổi ngôn từ gốc.

Đọc tiếp...

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

Bằng lập luận xuyên tác, vô căn cứ, Trung Quốc đã, đang và sẽ thực hiện hình thức “tuyên truyền đen” để bôi nhọ những hoạt động phù hợp với luật pháp quốc tế của các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Kể từ cuối những năm 1980, khi Biển Đông nổi lên là một vấn đề an ninh nghiêm trọng, Malaysia đã nhất quán tuân theo một chính sách và chỉ có những điều chỉnh nhỏ nhằm bảo vệ chủ quyền và các quyền chủ quyền của quốc gia này, duy trì luật pháp quốc tế cùng với thúc đẩy hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Tương tự như các căn cứ quân sự ở Đại lục, các tiền đồn của Trung Quốc tại Biển Đông được tích hợp vào một hệ thống các hệ thống lực lượng chung lớn hơn nhằm hỗ trợ các chiến lược đang hình thành của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Vụ xâm nhập tháng 12/2019 đánh dấu các diễn biến mới trong vấn đề quần đảo Natuna. Bắc Kinh đã thay đổi lập trường và hiện tuyên bố quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan gần quần đảo Trường Sa. Đây không còn là vấn đề “ngư trường truyền thống”.

Đọc tiếp...

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và tham vọng tại Đông Nam Á tiếp tục được xem xét kỹ lưỡng giữa các xu hướng rộng lớn hơn, bao gồm việc cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, các cuộc thảo luận ngày một tăng về kiến trúc khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương và nỗ lực không ngừng của các quốc gia Đông Nam Á và Bắc Kinh nhằm hướng tới một bộ quy tắc ứng xử ràng buộc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Chừng nào sức mạnh của Trung Quốc vẫn đang phát triển, ngay cả khi nước này tiếp tục hạn chế sử dụng sức mạnh, quân đội Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường bố trí lực lượng và hiện diện quân sự, tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” khiến Biển Đông trở thành “chiến trường”. Trong tương lai, lực lượng quân đội Mỹ sẽ không ngừng tập trung ở Biển Đông, gia tăng cường độ hành động hơn nữa.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Bầu không khí của chuyến thăm thứ 5 của Duterte đến Trung Quốc đã trở nên u ám sau các hành động của Trung Quốc như phái hàng trăm tàu cá đến đảo Thị Tứ và đâm chìm một tàu cá Philippines gần bãi Cỏ Rong trong nửa đầu năm 2019.

Đọc tiếp...

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng "họng súng" và "vỏ bọc hòa bình"

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng

"Người dân Trung Quốc đã học được giá trị của hòa bình"..."Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ cuộc chiến tranh hay xung đột nào" hay "Trung Quốc luôn đi đầu trong việc hướng tới hòa bình và ổn định khu vực"... Đây là những "Khẩu hiệu" mà Trung Quốc thường rêu rao để đánh bóng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc làm hoàn toàn trái ngược với điều đó.

Đọc tiếp...

"Hàng xóm bắt nạt": Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phản tác dụng

Mọi hành động đều có phản ứng khác nhau; các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như các quốc gia có lợi ích ở khu vực này chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Trên thực tế, Bắc Kinh đang “mời gọi" các nước chống lại họ, và điều này không mang lại lợi ích cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Mỹ và đồng minh phải sử dụng sức mạnh của họ trên mọi lĩnh vực quân sự và phi quân sự. Theo đó, các hoạt động hộ tống bảo vệ hàng hải sẽ đi kèm với các nỗ lực đồng thời nhằm giúp các chính phủ và nền kinh tế ở Đông Nam Á vững vàng hơn trước ảnh hưởng xấu của Trung Quốc, cũng như việc phát triển và triển khai các lực lượng chiến đấu tinh nhuệ với nhiệm vụ ngăn chặn hành vi gây hấn quy mô lớn của Trung Quốc

Đọc tiếp...

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển sầm uất nhất trên thế giới, không chỉ đáng báo động mà còn nhiều khả năng biến thành một cuộc chiến tranh thực sự. Nếu điều đó xảy ra, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á sẽ tiêu tan.

Đọc tiếp...

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Vụ việc ở Bãi Tư Chính là một phần trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp ở Biển Đông của các quốc gia ven biển và hợp tác giữa họ với các nước ngoài khu vực. Những hành động này có thể mang lại lợi ích trước mắt cho Trung Quốc, nhưng về lâu dài sẽ dẫn đến bất lợi cho quốc gia này.

Đọc tiếp...

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines đã đúng khi mong muốn có mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này mong muốn mở cửa để phát triển kinh tế hơn nữa. Manila cũng phải nhớ rằng hòa bình và thịnh vượng lâu dài phụ thuộc vào quyền tự do và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nước có chủ quyền, cũng như trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc. Trong lời nói và hành động, Philippines cần phải giữ vững lập trường để bảo vệ những nguyên tắc quan trọng này.

 

Đọc tiếp...

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Tính tới giờ, việc Trung Quốc tiến hành quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông được cho là động thái ở mức cao nhất của nước này đối với các vấn đề ở khu vực. Thực chất hành động cũng như mục đích đằng sau của Trung Quốc đe dọa tới không chỉ các nước trong khu vực mà còn tới cả nước lớn như Mỹ.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4253 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin