25 - 9 - 2020 | 14:28
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Công ước Liên hợp Quốc về Luật biển và các tranh chấp trên biển tại Biển Đông

Công ước Liên hợp Quốc về Luật biển và các tranh chấp trên biển tại Biển Đông

Email In PDF.

Khi tất cả các quốc gia đều tuân thủ UNCLOS thì các tranh chấp sẽ được làm sáng tỏ và tạo cơ sở hợp tác tại các khu vực yêu sách chồng lấn. Ngược lại nếu một hay nhiều quốc gia có yêu sách không phù hợp với Công ước, các quốc gia khác sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc sử dụng biện pháp giải quyết tranh chấp theo thủ tục bắt buộc được quy định trong Công ước.

 

 

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (Công ước)[1] thiết lập khung pháp lý cho việc quản lý và sử dụng biển. Tất cả các quốc gia ven biển tại Biển Đông - Brunei, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam - đều là thành viên của Công ước[2]. Đài Loan, cũng là một bên trong tranh chấp Biển Đông, đã có những bước điều chỉnh nội luật của mình phù hợp với Công ước[3].

Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines và Việt Nam là các bên yêu sách về chủ quyền đối với các đảo tại Biển Đông. Công ước không có các điều khoản giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với lãnh thổ. Các điều khoản của Công ước chỉ bao gồm các quyền tài phán có từ chủ quyền lãnh thổ.

Các quốc gia ven biển có yêu sách chồng lấn về quyền tài phán trên biển tại Biển Đông. Các tranh chấp biển này cũng ngang tầm quan trọng như các tranh chấp lãnh thổ và có lẽ còn quan trọng hơn. Theo như quy định của Công ước các vùng biển chỉ được tạo ra từ lãnh thổ đất liền bao gồm cả các đảo[4]. Công ước bao gồm các quy định về đường cơ sở để từ đó tính chiều rộng các vùng biển[5]. Công ước thiết lập chiều rộng các vùng biển mà quốc gia có thể yêu sách[6] cũng như quyền và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển và các quốc gia khác có được tại các vùng biển đó. Công ước cũng bao gồm các điều khoản về giải quyết tranh chấp giữa các bên đối với việc giải thích và áp dụng các điều khoản của Công ước[7].

Do đó, mặc dù Công ước không có các điều khoản quy định về yêu sách chủ quyền lãnh thổ, nhưng nó bao gồm các điều khoản mở rộng về phạm vi các vùng biển có thể được phép yêu sách và các cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến các yêu sách đó.

Bài viết này đặt ra giả thuyết là nếu như tất cả các bên yêu sách tại Biển Đông tuân thủ một cách trung thực các điều khoản áp dụng trong Công ước thì các tranh chấp biển sẽ được làm sáng tỏ và sẽ tạo được cơ sở cho các bên gác tranh chấp lãnh thổ đối với các đảo và hợp tác tại các khu vực có yêu sách biển chồng lấn. Ngược lại nếu như một hay nhiều quốc gia tại Biển Đông yêu sách các vùng biển không phù hợp với Công ước, các quốc gia khác sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc sử dụng biện pháp giải quyết tranh chấp theo thủ tục bắt buộc được quy định trong Công ước để có được phán quyết ràng buộc về mặt pháp lý đối với các yêu sách.

I. TỔNG QUAN VỀ CÁC TRANH CHẤP

Biển Đông là biển nửa kín bao quanh biên giới phía tây của Việt Nam, phía đông của Philippines, Malaysia, Brunei, phía nam với Indonesia và Malaysia và phía bắc với Trung Quốc và Đài Loan. Chiều rộng của Biển Đông khoảng 550-650 hải lý và chiều dài khoảng hơn 1.200 hải lý.

Biển Đông nằm trên trục đường hàng hải quốc tế chính giữa Ấn Độ Dương và Đông Bắc Á bao gồm các cảng của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga[8]. Các tàu bè từ Ấn Độ Dương đi qua eo biển Malacca và Singapore (giữa Indonesia, Malaysia và Singapore) hay eo biển Sunda (giữa các đảo Java của Indonesia và Sumatra) và đi qua Biển Đông theo hướng qua eo biển Đài Loan hoặc eo biển Luzon (giữa Đài Loan và Philippines).

Quần đảo Trường Sa nằm phía đông của Biển Đông, phía tây của quần đảo Palawan của Philippines và tây bắc của phần phía bắc đảo Borneo, bao gồm Brunei và các bang phía đông Malaysia của Sabah và Sarawak. Quần đảo Trường Sa bao gồm hơn 140 các đảo, đá và bãi chìm trải dài trên diện tích hơn 410.000 km2[9]. Một số thực thể hoàn toàn hoặc thỉnh thoảng chìm dưới mặt nước và một số khác luôn nổi trên mặt nước. Ít hơn bốn mươi thực thể là đảo theo như định nghĩa của Điều 121(1) của Công ước mà theo đó định nghĩa đảo “là đất liền được hình thành tự nhiên bao bọc bởi nước và nổi trên mặt nước khi thủy triều lên cao.”[10] Tổng diện tích của 13 đảo lớn nhất của Trường Sa nhỏ hơn 1,7 km2[11] (so sánh, Công viên Trung tâm Manhattan là 3,41 km2). Các thực thể còn lại hoặc hoàn toàn chìm dưới mặt nước hoặc chỉ nổi lên trên mặt nước khi thủy triều thấp. Do có số lượng các đá chìm dưới mặt nước và các thực thể lúc nổi lúc chìm, quần đảo Trường Sa được đánh giá là “khu vực nguy hiểm” trên bản đồ hàng hải[12]. Các đảo này nằm ở phía đông tuyến đường hàng hải quốc tế.

Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan yêu sách tất cả quần đảo Trường Sa. Nhiều thực thể của quần đảo Trường Sa thuộc vào Nhóm đảo Kalayaan (KIG) do Philippines yêu sách. Thêm vào đó, Malaysia cũng yêu sách một số thực thể và trong đó có một đá nằm trong phạm vi 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế của Brunei.

Theo ước tính các bên yêu sách đã chiếm đóng khoảng 60 thực thể của quần đảo Trường Sa[13]. Đảo Ba Bình, đảo lớn nhất và là đảo duy nhất có nguồn nước tự nhiên hiện đang do Đài Loan chiếm đóng. 12 đảo còn lại do Việt Nam hoặc Philippines chiếm đóng. Theo một báo cáo khác thì có tổng số 44 thực thể đã bị các bên chiếm đóng và xây dựng công trình tại các thực thể này. Số lượng chiếm đóng như sau: Việt Nam chiếm 25 thực thể, Philippines chiếm 8 thực thể, Trung Quốc chiếm 7 thực thể, Malaysia chiếm 3 thực thể và Đài Loan chiếm 1 thực thể[14].

Quần đảo Hoàng Sa là nhóm đảo thứ hai đang có tranh chấp lãnh thổ. Hoàng Sa nằm tại góc đông bắc của Biển Đông, có khoảng cách tương đương từ bờ biển Việt Nam cho đến đảo Hải Nam. Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đều có yêu sách với Hoàng Sa. Trung Quốc đã sử dụng vũ lực chiếm Hoàng Sa từ Việt Nam Cộng hòa vào năm 1974[15], và kể từ đó cho đến nay Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn Hoàng Sa. Trung Quốc không chấp nhận có tranh chấp chủ quyền đối với Hoang Sa[16]. Tuy nhiên, tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo này vẫn đang gây ra căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt tại khu vực tàu cá của ngư dân Việt Nam thường xuyên bị bắt giữ[17].

Quần đảo Hoàng Sa bao gồm khoảng 35 đảo nhỏ, bãi cạn, dải cát và đá với tổng diện tích khoảng 15.000 km2 diện tích mặt nước biển[18]. Đảo Phú Lâm, đảo lớn nhất của Hoàng Sa có diện tích khoảng 2,1 km2 tương đương với tổng diện tích của 13 đảo lớn nhất của Trường Sa[19]. Thành phố Tam Sa được đặt tại đảo Phú Lâm, đây là thành phố tương đương cấp quận được Trung Quốc thành lập vào tháng 6 năm 2012 làm trung tâm hành chính cho các yêu sách tại Biển Đông[20].

Bãi Scarborough (Trung Quốc gọi là Bãi Hoàng Nham, Philippines gọi là Panatag hay Bajo de Masinlóc) là thực thể có tranh chấp khác tại Biển Đông. Bãi Scarborough nằm cách khoảng 124 hải lý từ tỉnh Zambles của Philippines[21]. Cả Trung Quốc, Philippines và Đài Loan đều có yêu sách chủ quyền đối với Bãi Scarborough. Bãi Scarborough là đảo san hô vòng và có diện tích nước khoảng 150 km2 được bao quanh bởi đá[22]. Hầu hết các đá đều hoặc là hoàn toàn chìm dưới mặt nước hoặc chỉ nổi trên mặt nước khi thủy triều xuống thấp. Tuy nhiên, Bãi Scarborough cũng bao gồm nhiều đá nhỏ nổi hoàn toàn trên mặt nước kể cả khi thủy triều lên cao[23]. Bãi Scarborough là nơi đã diễn ra nhiều xung đột giữa tàu Philippines và Trung Quốc trong nhiều tháng trời năm 2012.

Hai thực thể ở phía đông bắc của Biển Đông do duy nhất chỉ Trung Quốc và Đài Loan yêu sách. Thực thể đầu tiên là quần đảo Pratas (Trung Quốc gọi là quần đảo Đông Sa) nằm tại phía bắc của Biển Đông, cách Hồng Kông khoảng 200 hải lý về phía Tây Nam. Quần đảo Pratas hiện đang do Đài Loan chiếm đóng. Thực thể thứ hai là Bãi Macclesfield (Trung Quốc dọi là quần đảo Trung Sa), đảo san hô vòng lớn hoàn toàn chìm dưới mặt nước thậm chí cả khi thủy triều xuống thấp[24]. Bãi Macclesfield nằm phía bắc của Biển Đông, phía nam của quần đảo Pratas, phía đông của quần đảo Hoàng Sa và phía tây của Bãi Scarborough.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Robert Beckman là Giám đốc Trung tâm Luật pháp Quốc tế và Phó Giáo sư, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Singapore. Bài viết được đăng trên tạp chí The American Journal of International Law, Số 107. Đọc bản gốc tiếng Anh tại đây.

Thái Giang (dịch)

Minh Ngọc (hiệu đính)

 



[1] Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển được ký kết vào 10/12/1982.

ILM 1261 (1982) [sau đây gọi là Công ước]. Công ước có hiệu lực vào ngày 16/11/1994. Vào 8/10/2012, 163 quốc gia và Liên Minh Châu Âu đã là thành viên của Công Ước. Xem Công ước tại: http://www.un.org/Depts/los/index.htm.

[2] Các quốc gia phê chuẩn Công ước như sau: Brunei, 5/11/1996; Trung Quốc, 7/6/1996; Malaysia, 14/10/1996; Philippines, 8/5/1984; và Việt Nam, 25/7/1994. Xem Tuyển tập các Hiệp định tại http://treaties.un.org/pages/ParticipationStatus.aspx. Nếu như Vịnh Thái Lan được coi như là một cánh tay của Biển Đông thì Campuchia và Thái Lan sẽ là các quốc gia vùng biên nhưng do hai quốc gia này không liên quan đến tranh chấp trên biển nên không được đề cập đến với tư cách là quốc gia vùng biên trong bài nghiên cứu này.

[3] Tham khảo việc Đài Loan thông qua luật về yêu sách các vùng biển được quy định trong Công ước cũng như so sánh quan điểm của Đài Loan và Trung Quốc, xemSong Yann-Huei & Zou Keyuan, Maritime Legislation of

Mainland China and Taiwan: Developments, Comparison, Implications, and Potential Challenges for the United States,

31 OCEAN DEV. & INTL L. 303, 310 –12 (2000).

[4] Nói chung, theo như Công ước các quốc gia ven biển có thể yêu sách lãnh hải và vùng tiếp giáp (Phần II) vùng đặc quyền kinh tế (Phần V) và thềm lục địa (Phần VI)

[5] Xem Công ước, như đã trích dẫn ở trích dẫn số 1. Điều 5-14, 47. Các vùng nước phía bên trong đường cơ sở là nội thủy hoặc trong trường hợp quốc gia quần đảo thì là vùng nước quần đảo.

[6] Xem Công ước, chú thích 1. Điều 3 (lãnh hải) 33(2) (vùng tiếp giáp), 57 (vùng đặc quyền kinh tế), 76 (thềm lục địa ).

[7] Xem Công ước, chú thích số 1. Phần XV.

 

[8] Clive Schoeld, Vùng nước nguy hiểm: Tổng quan địa lý của Biển Đông, an ninh và chính trị quốc tế của Biển Đông (Sam Batemen & Ralf Emmers eds., 2009).

[9] Xem bản đồ 107 AJIL 95 (2013) [sau đây được gọi là bản đồ Biển Đông].

[10] Tập hợp dựa trên bản đồ Biển Đông, trích dẫn số 9 cũng như các thông tin cung cấp tại David Hancox & Victor Prescott, A Geographical Description Of The Spratly Islands And An Account Of Hydrographic Surveys Amongst Those Islands (1995).

[11] Thông tin phân tích được lấy tại HANCOX & PRESCOTT, trích dẫn số 10.

[12] Schoeld, trích dẫn số 8, tr. 7- 25.

[13] Bản Đồ Biển Đông, đã trích dẫn tại trích dẫn số 3.

[14] Daniel J. Dzurek, The Spratly Islands: Who’s On First? (Tạp chí Nghiên cứu Biên giới quốc tế, Durham, 1996), tr. 56-57.

[15] Stein Tonnesson, “Why are Disputes in the South China Sea so Intractable? A Historical Approach” (2002) 30:3 AJSS 570, tr. 574.

[16] Xem ví dụ, trả lời của người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc về câu hỏi Việt Nam phản đối các hoạt động quân sự của Trung Quốc xung quanh quần đảo Hoàng Sa, người phát ngôn trả lời “như tất cả đã biết, Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với Hoàng Sa và các đảo nhỏ liền kề. Trung Quốc và Việt Nam không có tranh chấp lãnh thổ với quần đảo này”. Họp báo của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương (ngày 27/11/2007), tại http://www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/t385091.htm.

[17] Ví dụ vào tháng 3/2010, một tàu tuần tra của Trung Quốc đã bắt giữ tàu cá của ngư dân Việt Nam và 12 ngư dân tại khu vực Hoàng Sa; xem Leszek Buszynski, “The South China Sea: Oil, Maritime Claims and U.S-China Strategic Rivalry”, (2012) 35:2 Tạp chí The Washington Quarterly số 139, tr. 143.

[18] Bản đồ Biển Đông, xem trích dẫn số 3.

[19] Hancox & Prescott, xem trích dẫn số 10.

[20] Bộ Nội Vụ Trung Quốc thông báo thành lập thành phố Tam Sa vào ngày 21/6/2012. Xem Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa, Tân Hoa Xã, tại địa chỉ: http://news.xinhuanet.com/english/china/2012-07/24/c_131734893.htm; người phát ngôn Trung Quốc xác nhận thông tin – xem Họp báo thường kỳ của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hồng Lỗi ngày 25/6/2012, tại http://www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t945654.htm.

[21] Nước Cộng hòa Philippines, Bộ Ngoại giao, Lập trường của Philippines về Bãi Scarborough và các vùng nước liền kề (28/4/2012), tại: http://dfa.gov.ph/main/index.php/newsroom/dfa-releases/5216-philippine-position-on-bajo-de-masinloc-and-the-waters-within-its-vicinity.

[22] Zou Keyuan, “Scarborough Reef: A new Flashpoint in Sino-Philippine Relations?” (Tạp chí Nghiên cứu Biên giới Quốc tế, 1999) Bản tin Biên giới và An ninh số 71, tr. 71.

[23] Xem Zou Keyuan, tài liệu đã trích dẫn ở trên; Lập trường của Philippines về Bãi Scarborough, tài liệu đã trích dẫn tại trích dẫn số 14, tr. 2.

[24] Xem Bản đồ Biển Đông 4508 do Cơ Quan Địa lý Vương quốc Anh sửa và tái bản biểu đồ INT số 508 (ngày 25/9/1987).

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập (A2/AD) là chiến lược biển được xây dựng nhằm ngăn không cho lực lượng hải quân đối phương tự do di chuyển trong một không gian chiến đấu. Bài viết sẽ phân tích những thuận lợi và khó khăn khi Trung Quốc thực hiện A2/AD tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông


Trung Quốc sẽ được gì và mất gì khi thiết lập một ADIZ ở Biển Đông? Những dự báo của giới quan sát về khả năng thành công của một ADIZ trong khu vực này.

 

Đọc tiếp...

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Một số nhà quan sát cho rằng hành động đáp trả của Mỹ mang tính tự phát, không đủ mạnh và còn khiến Bắc Kinh bạo trợn hơn. Trong thời gian vài tuần đầu, những cáo buộc như vậy bị cho là quá vội vàng, song cũng bộc lộ sự yếu kém cố hữu trong cách tiếp cận của Mỹ đối với vấn đề an ninh biển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Đọc tiếp...

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Trong khi thế giới chiến đấu với COVID-19, Trung Quốc đang tiến gần hơn tới việc thiết lập sự thống trị trong khu vực.

Đọc tiếp...

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

 

Bắc Kinh đang từng bước tiến đến mục tiêu buộc cộng quốc tế chấp thuận các tuyên bố chủ quyền của nước này đối với Biển Đông. Cứ mỗi thập kỷ trôi qua, Bắc Kinh lại đạt được một bước tiến mới trong nghị trình của mình.

Đọc tiếp...

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Bài báo cáo định lượng những ảnh hưởng đến môi trường từ các hành vi bồi đắp đảo trên Biển Đông, kết quả từ việc nạo vét và có thể tác động tiêu cực đến hệ động vật, thực vật biển và hệ sinh thái biển. Mức độ thiệt hại gây ra bởi việc xây dựng đảo được cho là trầm trọng vì các rạn san hô ở Biển Đông tập trung đa dạng sinh học biển lớn nhất trên Trái Đất.

Đọc tiếp...

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Để chứng minh cho cái gọi là chủ quyền “mang tính lịch sử”, giới học giả Trung Quốc đã nỗ lực lập luận, đưa ra những bằng chứng lịch sử. Tuy nhiên, các bằng chứng mà họ đưa ra rất mập mờ, không có bất cứ tham chiếu nào về vị trí trích dẫn chính xác, thậm chí còn cố tình sửa đổi ngôn từ gốc.

Đọc tiếp...

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

Bằng lập luận xuyên tác, vô căn cứ, Trung Quốc đã, đang và sẽ thực hiện hình thức “tuyên truyền đen” để bôi nhọ những hoạt động phù hợp với luật pháp quốc tế của các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Kể từ cuối những năm 1980, khi Biển Đông nổi lên là một vấn đề an ninh nghiêm trọng, Malaysia đã nhất quán tuân theo một chính sách và chỉ có những điều chỉnh nhỏ nhằm bảo vệ chủ quyền và các quyền chủ quyền của quốc gia này, duy trì luật pháp quốc tế cùng với thúc đẩy hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Tương tự như các căn cứ quân sự ở Đại lục, các tiền đồn của Trung Quốc tại Biển Đông được tích hợp vào một hệ thống các hệ thống lực lượng chung lớn hơn nhằm hỗ trợ các chiến lược đang hình thành của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Vụ xâm nhập tháng 12/2019 đánh dấu các diễn biến mới trong vấn đề quần đảo Natuna. Bắc Kinh đã thay đổi lập trường và hiện tuyên bố quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan gần quần đảo Trường Sa. Đây không còn là vấn đề “ngư trường truyền thống”.

Đọc tiếp...

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và tham vọng tại Đông Nam Á tiếp tục được xem xét kỹ lưỡng giữa các xu hướng rộng lớn hơn, bao gồm việc cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, các cuộc thảo luận ngày một tăng về kiến trúc khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương và nỗ lực không ngừng của các quốc gia Đông Nam Á và Bắc Kinh nhằm hướng tới một bộ quy tắc ứng xử ràng buộc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Chừng nào sức mạnh của Trung Quốc vẫn đang phát triển, ngay cả khi nước này tiếp tục hạn chế sử dụng sức mạnh, quân đội Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường bố trí lực lượng và hiện diện quân sự, tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” khiến Biển Đông trở thành “chiến trường”. Trong tương lai, lực lượng quân đội Mỹ sẽ không ngừng tập trung ở Biển Đông, gia tăng cường độ hành động hơn nữa.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Bầu không khí của chuyến thăm thứ 5 của Duterte đến Trung Quốc đã trở nên u ám sau các hành động của Trung Quốc như phái hàng trăm tàu cá đến đảo Thị Tứ và đâm chìm một tàu cá Philippines gần bãi Cỏ Rong trong nửa đầu năm 2019.

Đọc tiếp...

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng "họng súng" và "vỏ bọc hòa bình"

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng

"Người dân Trung Quốc đã học được giá trị của hòa bình"..."Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ cuộc chiến tranh hay xung đột nào" hay "Trung Quốc luôn đi đầu trong việc hướng tới hòa bình và ổn định khu vực"... Đây là những "Khẩu hiệu" mà Trung Quốc thường rêu rao để đánh bóng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc làm hoàn toàn trái ngược với điều đó.

Đọc tiếp...

"Hàng xóm bắt nạt": Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phản tác dụng

Mọi hành động đều có phản ứng khác nhau; các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như các quốc gia có lợi ích ở khu vực này chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Trên thực tế, Bắc Kinh đang “mời gọi" các nước chống lại họ, và điều này không mang lại lợi ích cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Mỹ và đồng minh phải sử dụng sức mạnh của họ trên mọi lĩnh vực quân sự và phi quân sự. Theo đó, các hoạt động hộ tống bảo vệ hàng hải sẽ đi kèm với các nỗ lực đồng thời nhằm giúp các chính phủ và nền kinh tế ở Đông Nam Á vững vàng hơn trước ảnh hưởng xấu của Trung Quốc, cũng như việc phát triển và triển khai các lực lượng chiến đấu tinh nhuệ với nhiệm vụ ngăn chặn hành vi gây hấn quy mô lớn của Trung Quốc

Đọc tiếp...

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển sầm uất nhất trên thế giới, không chỉ đáng báo động mà còn nhiều khả năng biến thành một cuộc chiến tranh thực sự. Nếu điều đó xảy ra, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á sẽ tiêu tan.

Đọc tiếp...

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Vụ việc ở Bãi Tư Chính là một phần trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp ở Biển Đông của các quốc gia ven biển và hợp tác giữa họ với các nước ngoài khu vực. Những hành động này có thể mang lại lợi ích trước mắt cho Trung Quốc, nhưng về lâu dài sẽ dẫn đến bất lợi cho quốc gia này.

Đọc tiếp...

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines đã đúng khi mong muốn có mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này mong muốn mở cửa để phát triển kinh tế hơn nữa. Manila cũng phải nhớ rằng hòa bình và thịnh vượng lâu dài phụ thuộc vào quyền tự do và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nước có chủ quyền, cũng như trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc. Trong lời nói và hành động, Philippines cần phải giữ vững lập trường để bảo vệ những nguyên tắc quan trọng này.

 

Đọc tiếp...

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Tính tới giờ, việc Trung Quốc tiến hành quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông được cho là động thái ở mức cao nhất của nước này đối với các vấn đề ở khu vực. Thực chất hành động cũng như mục đích đằng sau của Trung Quốc đe dọa tới không chỉ các nước trong khu vực mà còn tới cả nước lớn như Mỹ.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4689 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin