27 - 11 - 2020 | 10:20
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Những diễn biến gần đây về lĩnh vực quốc phòng trong khu vực Biển Đông

Những diễn biến gần đây về lĩnh vực quốc phòng trong khu vực Biển Đông

Email In PDF.

Trung Quốc đang tận dụng ưu thế tiềm lực quân sự để răn đe và uy hiếp các quốc gia tranh chấp ở Biển Đông. Tình thế đó buộc các quốc gia nhỏ hơn phải nâng cấp, hiện đại hóa năng lực trên biển cả về phần cứng và phần mềm, tăng cường các hoạt động hợp tác quân sự với các cường quốc bên ngoài.

Phần Hỏi – Đáp Phiên 2 Ngày 1 – Vai trò của các Lực lượng trên biển ở Biển Đông

 

1.    Câu hỏi của Ernest Z. Bower

Liệu các học giả có thể cho biết quan điểm của quốc gia mình về đề xuất mở rộng vai trò của Nhật Bản trong an ninh khu vực – phải chăng Nhật Bản đã và đang đóng một vai trò ngày càng chủ động hơn trong khu vực và các học giả có quan điểm như thế nào về vấn đề này?

Phillip C. Saunders

Theo tôi, đó là điều không tốt.

Carlyle Thayer

Việt Nam đã tuyên bố hoan nghênh bất kì quốc gia nào, gồm cả Mỹ và Nhật, đóng góp tích cực cho hòa bình và ổn định khu vực. Vì vậy, miễn là Nhật đóng góp tích cực, Hà Nội sẽ hoan nghênh.

Christian Le Mière

Tôi nghĩ Manila cũng có thái độ tương tự mặc dù quan hệ giữa Nhật và Philippines khá trắc trở sau Thế chiến II. Manila có lẽ cũng muốn một đối tác có thế lực mạnh, để Philippines có thể dựa dẫm, tìm kiếm hỗ trợ về thiết bị, xây dựng năng lực…

Ernest

Ông Chris, liệu Nhật Bản có đóng vai trò quan trọng đối với Philippines trong lĩnh vực tăng cường hiểu biết các vấn đề liên quan đến biển hay không? Theo tôi biết thì Nhật Bản có đóng vai trò nhất định, ông có thể cho biết ý kiến?

Chris

Tôi nghĩ đó mới chỉ là giai đoạn đầu. Tôi không có đầy đủ thông tin về vấn đề này. Tuy nhiên, theo tôi biết, nhận thức về biển là lĩnh vực mà Philippines rất mong muốn củng cố. Philippines cũng đã bàn bạc vấn đề này với Nhật. Cụ thể về việc Nhật có các khoản cho vay hay triển khai hoạt động các thiết bị như thế nào thì tôi vẫn chưa rõ.

TS. Shahriman Lockman

Hoan nghênh các câu hỏi nói chung, nhưng tôi nghĩ không nên liên hệ Biển Đông với Biển Hoa Đông, hai vấn đề này nên được tách rời.

 

2.    Câu hỏi của Tiến sĩ Donovell

 

Tôi là TS. Donovell, là chuyên gia phân tích địa chính trị. Thưa giáo sư Saunders, ông có thể cho biết về vai trò trong tương lai của hạm đội tàu sân bay Mỹ trong bối cảnh công nghệ chống tàu (anti-ship) của Trung Quốc đang phát triển?

 

Phillip C. Saunders

Đó là một vấn đề với Mỹ. Đó không chỉ là vấn đề về chức năng của tên lửa đạn đạo chống tàu mà đó là một mối đe dọa về nhiều mặt, dưới dạng các tàu ngầm thông thường, tên lửa hành trình tối tân cũng như các tên lửa đạn đạo chống tàu.

Hải quân Mỹ cần phải nỗ lực rất nhiều để tìm ra cách đối phó với vấn đề này, trong đó tên lửa đạn đạo là mối đe doạ mới nhất cần chú ý. Trung tâm của tôi mới xuất bản một cuốn sách về tên lửa hành trình của Trung Quốc, trong đó làm nổi rõ nhiều cách thức mà chúng có thể đe dọa các tàu sân bay Mỹ .

Có một số giải pháp được đưa ra, phần lớn trong số đó bao gồm việc cố gắng đưa các lực lượng Mỹ về tuyến sau, ra khỏi phạm vi hoạt động của các tên lửa hành trình Trung Quốc, và Hải quân Mỹ đang theo đuổi các cách thức này. Tôi muốn bổ sung rằng, về mấu chốt, các cách thức này nhằm giảm thiểu các thách thức trong môi trường hoạt động của tàu sân bay của Mỹ, và có nhiều điều chúng ta có thể làm để hạn chế các thách thức này. Mấu chốt là khi ta bước vào vùng “tiêu diệt” (threat envelope – đây là khu vực nằm trong hệ thống ngắm bắn hiệu quả nhất của đối phương. Khi ở vùng này, khả năng bị bắn trúng ở ngay lần đầu tiên là rất cao – ND) của một hệ thống vũ khí nào đó, luôn luôn tồn tại hiểm họa. Tôi nghĩ đó là câu hỏi mà các tư lệnh hải quân Thái Bình Dương (PACOM) phải cân đo: làm thế nào để cân bằng những gì mình muốn đạt được với việc phòng bị cho những rủi ro khi triển khai kế hoạch mà Mỹ đặt ra.

3.    Câu hỏi từ Chris Cerrone, trường Đại học Quốc phòng Mỹ

Tôi có hai câu hỏi. Một là, theo các học giả, các diễn biến gần đây tại Châu Á-Thái Bình Dương có phải là biểu hiện của một cuộc chạy đua vũ trang hay không? Hiện đang có tình trạng các nước Châu Á-Thái Bình Dương không ngừng đẩy mạnh tăng cường vũ trang – liệu điều này có đang tạo ra một vòng xoáy về chạy đua vũ trang, hay việc tìm cách hiện đại hoá quân sự của các nước trong khu vực chỉ là chiều hướng phát triển bình thường?

Hai là, các học giả đã tập trung khá nhiều vào “phần cứng”. Liệu các học giả có thể đề cập một chút về “phần mềm”, ví dụ như huấn luyện, do thám và giám sát tình báo (intelligence, surveillance and reconnaissance - ISR), (tăng cường năng lực) chỉ huy, kiểm soát…

 

Chris

Về vấn đề chạy đua vũ trang, đây là nội dung tôi hay nhắc đến gần đây. Tôi thường tránh dùng cụm từ “chạy đua vũ trang” hơn những người khác bởi tôi nghĩ cụm từ này có vẻ mang gánh nặng tư tưởng cũ.

Rõ ràng là các nước Đông Á hiện nay đang có cạnh tranh lẫn nhau về việc trang bị quân sự và chắc chắn là các bước đi của các nước trong khu vực có những liên hệ nhất định: Việc Việt Nam mua 6 tàu ngầm kilo có thể chỉ là nỗ lực thông thường của một nước đang phát triển nhằm tăng cường năng lực trong lĩnh vực tàu ngầm, nhưng đặt trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng chiếm ưu thế trên mặt biển và các nước khác cũng mua thêm tàu ngầm thì điều này rõ ràng thể hiện phản ứng đối với ưu thế đang gia tăng của Trung Quốc trên mặt biển.

Thế nhưng, các phản ứng khác cũng đáng xem xét: tại sao Malaysia cần mua 2 tàu ngầm? Có thể điều này là không cần thiết, nhưng Malaysia lại muốn mua các tàu ngầm này vì Singapore cũng có 4 tàu ngầm… Vì vậy, các đối địch giữa bản thân các nước khu vực cũng châm ngòi các thương vụ quân sự, và như Shahriman (Lockman) đã nói, điều này cũng có thể liên quan đến các vấn đề an ninh nội bộ của khu vực.

Vì vậy đây chưa hẳn là chạy đua vũ trang khi phần lớn chi tiêu quốc phòng của các nước khu vực, tính theo tỷ lệ so với GDP, đều không tăng lên đáng kể. Nhật Bản đã quyết định tăng chi tiêu quân sự lần đầu tiên sau hơn một thập kỉ, tuy nhiên mức chi tiêu này vẫn chỉ loanh quanh 1% GDP mà thôi. Nhật tuyên bố sẽ tăng lên 5% trong vòng 5 năm tới nhưng đây cũng không phải một cuộc chạy đua gì cho lắm.

Vậy nên, theo tôi, thật khó để nói về một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực khi không có nhân tố nào thực sự chạy đua ngoài Trung Quốc. Cạnh tranh giữa Trung Quốc và các nước láng giềng cũng như giữa Trung Quốc và Mỹ là không cân xứng. Tôi nghĩ, trong tương lai, khả năng chạy đua vũ trang về dài hạn giữa Mỹ và Trung Quốc là có, nếu như quan hệ song phương xấu đi và cạnh tranh tăng lên. Tuy nhiên, trong thời điểm này, tôi sẽ không dám dùng cụm từ “chạy đua vũ trang” mà chọn cụm từ “cạnh tranh mua bán quân sự” giữa các nước trong khu vực.

Carlyle Thayer

Có một định nghĩa về chạy đua vũ trang là hai quốc gia phải coi nhau là địch thủ, vắt cạn nguồn lực để cạnh tranh, để đối đầu lẫn nhau. Theo quan niệm lịch sử này, theo tôi khu vực Châu Á-Thái Bình Dương không có chạy đua vũ trang.

Về “phần mềm”

Shahriman Lockman

Về vấn đề tập huấn, hợp tác giữa Malaysia và Mỹ đang gia tăng tương đối nhanh. Năm 2003, có 6 chuyến thăm của hải quân Mỹ nhưng đến trước năm 2011, con số này đã tăng lên hơn 30. Hầu hết, trong mỗi lần viếng thăm, chúng tôi đều có tập huấn chung. Chúng tôi (Malaysia) cũng đang hợp tác khá thường xuyên với Không quân Mỹ. Lần đầu tiên Mỹ triển khai máy bay F-22 ngoài Mỹ là ở Penang, Malaysia (Mỹ đã triển khai ở Nhật trước đó, nhưng trong phạm vi căn cứ quân sự Mỹ). Điều này cho thấy mong muốn xây dựng năng lực phòng không của Mỹ tại đây. Đó chính là phần “mềm” mà Mỹ đang tiến hành.

Carlyle Thayer

Về vấn đề các tàu ngầm nâng cấp của Việt Nam, như một tướng Úc (đã nghỉ hưu) nhận định, các kĩ thuật viên của Liên Xô có thể đã ở trên tàu Kilo nhiều năm, ít nhất là 5 năm. Vấn đề ở đây là việc thông tin liên lạc. Nếu các vị có theo dõi truyền thông của quân đội Việt Nam như tờ Quân đội Nhân dân – là một nguồn công khai – thì sẽ thấy là Việt Nam có rất ít các cuộc tập trận quân sự chung. Khi một (chiến đấu cơ) Sukhoi triển khai hoạt động với một tàu hải quân Việt Nam– đây là sự kiện được đưa tin rộng rãi – trong các cuộc tập trận bắn tên lửa riêng của Việt Nam, các nguồn tin tình báo sẽ chỉ ra đây là lĩnh vực quan trọng để phát triển tại Đại hội Đảng gần đây nhất (năm 2011). Việt Nam chuẩn bị có vệ tinh đầu tiên, nhưng không phải vệ tinh quân sự mà chỉ là vệ tinh thông thường và cần phải gắn vào các thiết bị khác để hoạt động. Việt Nam cũng đang nỗ lực phát triển vệ tinh SIGINT của mình, nhưng tất cả dĩ nhiên là vẫn ở mức khởi đầu.

Theo phương trình “Lancaster” – phương trình đo đạc mức độ mà các cải tiến quân sự thực sự được tích hợp vào hạ tầng cứng – thì nếu ta làm một biểu đồ so sánh hải quân Việt Nam với hải quân các nước khác, rất khó để nhìn thấy phần biểu thị mức độ mà các cải tiến quân sự được tận dụng trong trường hợp của Việt Nam.

Thế nên đối với Việt Nam, chỉ có các thiết bị từ Liên Xô là phù hợp. Ấn Độ là một lựa chọn khác cho tập huấn, đặc biệt là tập huấn lính hải quân (hiện giờ có khoảng 500 lính hải quân tập luyện tại Ấn). Việt Nam đang “đặt trứng vào 2 rổ”: Ấn và Nga. Việt Nam từng “đặt” cả vào Ucraina nhưng bây giờ điều đó là không thể.

4.    Câu hỏi từ đại biểu thuộc trường Nghiên cứu Quốc tế Rajaratnam (RSIS)

Tôi có hai câu hỏi ngắn cho giáo sư Saunders. Một là, rõ ràng khả năng về các hoạt động lưỡng năng (amphibious – cả trên cạn và dưới nước) của lực lượng quân đội nhân dân Trung Quốc (PLA) không được đề cập nhiều mặc dù hầu hết các nguồn lực này đang được triển khai tại Biển Đông và ngày càng phát triển mạnh, đồng thời PLA cũng có một lực lượng lưỡng năng dự phòng lớn. Vậy thì vị trí của các lực lượng lưỡng năng này là như thế nào trong chiến lược tại Biển Đông của PLA?

Hai là, câu chữ trong hiệp ước an ninh giữa Mỹ và Philippines có đề cập cụ thể đến “tàu công vụ” (public vessel) – điều có thể được giải thích là “tàu hải quân” hoặc “tàu hải giám”. Liệu Trung Quốc có nhận thức được điều này và nếu có, liệu Trung Quốc có tiết chế chiến lược của mình khi xảy ra các đụng độ như các trường hợp gần đây với Việt Nam?

Phillip C. Saunders

Tôi sẽ nói ngắn gọn về phần các lực lượng lưỡng năng. Đây là lĩnh vực ngày càng nhận được nhiều quan tâm, gồm cả vấn đề về huấn luyện năng lực này. Đồng nghiệp của tôi, giáo sư Chris Young, là một chuyên gia về các hoạt động “lưỡng năng”, người có thể cho ông một câu trả lời thỏa đáng hơn nếu ông muốn hỏi ông ta trong giờ giải lao. Tuy vậy, nhìn chung thì tôi nghĩ rằng Hải quân đang cố gắng phát triển năng lực trong lĩnh vực này và hiển nhiên là điều này có hệ lụy ở cả ở Biển Đông cũng như các khu vực khác. Biển Đông là một trọng tâm của khu vực và nhiều diễn biến đang xảy ra tại đây.

Về hiệp ước an ninh, tôi chưa có cơ hội được đặt ra câu hỏi cụ thể như vậy. Tôi nghĩ rằng Trung Quốc biết rõ điều này. Chúng ta nên kiềm chế các hoạt động của Trung Quốc (bằng cách gây áp lực) tới mức độ nào? Đó là một câu hỏi khó. Tôi nghĩ Trung Quốc đang cố giữ tình hình dưới một ngưỡng nhất định, cố đẩy Mỹ ra khỏi các tranh chấp bằng cách vừa duy trì quan hệ ngoại giao với Mỹ, vừa tự kiểm soát hành động của mình để tránh vượt qua giới hạn và tạo điều kiện cho Mỹ nhảy vào.

Carlyle Thayer

Tôi muốn bổ sung là hiệp ước Mỹ - Philippines sử dụng các ngôn từ giống hệt ngôn từ trong hiệp ước Mỹ - Úc. Tôi nghĩ vấn đề không nằm ở cụm từ “tàu quân sự” mà nằm ở việc sử dụng cụm từ “trong Thái Bình Dương”. Mỹ được coi là cũng đã giải thích rõ ràng là hiệp ước có bao gồm Biển Đông. Thế nhưng, hiệp ước được kí năm 1951, trước khi Philippines đưa ra tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông. Điều này dẫn đến những mập mờ trong cách hiểu. Tuy vậy, các câu chữ là hoàn toàn giống nhau. Như tôi đã nói với những người Philippines chỉ khăng khăng với quan điểm riêng của họ trước khi Philippines tiến hành hiện đại hoá quân sự, “Bạn hiểu đồng minh thế nào thì nó là thế ấy.” Đối với Mỹ, vấn đề là bạn có thể mang lại được những gì. Nói cách khác, ví dụ như Úc, bản phải tự trả một phần chi phí, tự xây dựng quân đội để tạo ra một cam kết liên minh tốt.

Christian Le Miere

Tôi đồng ý với Phillip và tôi nghĩ rằng không thể khẳng định liệu Trung Quốc có thực sự chắc chắn với cơ sở của mình không nhưng họ đang chơi một canh bạc có tính toán rằng, Mỹ sẽ không can thiệp quân sự rõ rệt trong trường hợp tàu dân sự hay tàu hải giám Trung Quốc quấy rối cả tàu dân sự của Philippinnes. Theo tôi chiến lược dài hạn của Trung Quốc trong việc quản lý tranh chấp là họ sẽ tránh không để leo thang mức độ xung đột nhưng lại không muốn cố gắng giải quyết xung đột, đồng thời cố gắng đẩy tình thế sang hướng có lợi cho Trung Quốc mà không dẫn tới phản ứng quân sự của Mỹ. Tôi nghĩ đó chính là canh bạc mà Trung Quốc đang chơi tại Biển Đông với việc sử dụng lực lượng Cảnh sát Biển của nước này.

Koda, nguyên Phó Đô đốc của Hải quân Nhật

Tôi đã có 40 năm phục vụ cho hải quân Nhật và đã theo dõi hải quân Trung Quốc sát sao. Tôi có hai ý kiến và hai câu hỏi.

Thứ nhất là là tên lửa chống hạm của Trung Quốc và cuộc chạy đua vũ trang. Theo như các nguồn tin công khai, để hoàn thiện hệ thống tên lửa chống hạm phục vụ mục đích chiến đấu, Trung Quốc còn nhiều việc phải làm. Theo tôi thì sẽ mất khoảng 10 năm nữa. Vậy thì câu hỏi mấu chốt đặt ra là 10 năm là ngắn hay dài. Chúng ta nên coi đó là ngắn và cần phải chuẩn bị sẵn sàng ứng phó.

Về việc chạy đua vũ trang, nếu như ta coi Mỹ là một người lớn đã trưởng thành về năng lực hải quân thì Trung Quốc chỉ ở mức học sinh cấp 3 hoặc sinh viên mới tốt nghiệp. Các nước ASEAN thì còn yếu hơn thế. Vậy thì chúng ta có thể gọi đây là chạy đua vũ trang được không? Tôi cho là không. Chỉ có Nhật Bản có thể cạnh tranh được với Trung Quốc trong khu vực, nhưng ngân sách quốc phòng của chúng tôi 15 năm trở lại đây còn giảm 0,5-1% một năm trừ năm ngoái. Về tương quan, tổng ngân sách quốc phòng của Trung Quốc (theo số liệu mà họ đưa ra) là 80 tỷ USD thì Nhật chỉ ở mức 40 tỷ USD, do đó đây không thể là chạy đua vũ trang. Câu hỏi tôi muốn đặt ra là chúng ta đã biết chiến thuật dùng tàu dân sự chống tàu dân sự của Trung Quốc. Chiến thuật này là khôn ngoan nhưng các nước khác cũng biết phải phản ứng lại thế nào. Lấy ví dụ, hồi tháng 5 vừa qua Việt Nam phản ứng lại bằng cách cử tàu quan sát ra đối phó và Nhật Bản cũng vậy đối với tranh chấp Senkaku. Tàu hải quân của chúng tôi chỉ đứng đằng xa. Do đó, nếu các nước trong khu vực cứ tiếp tục sử dụng đối sách này thì sẽ (có sự giằng co kéo dài) dẫn tới thế bế tắc và như vậy chúng ta sẽ phải chuẩn bị cho việc căng thẳng kéo dài và những cuộc đụng độ phi quân sự (non-combat skirmishes). Câu hỏi của tôi là chiến thuật cuối cùng của Trung Quốc đối với các tàu dân sự sẽ là gì và liệu Trung Quốc có sẵn sàng chấp nhận rủi ro của xung đột dài hạn – có thể là hàng thập kỷ?

Thứ hai, điều này không được nói đến nhiều nhưng hải quân Malaysia và Việt Nam đang bắt đầu đưa tàu ngầm vào hoạt động. Điều này là không dễ dàng. Mức độ an toàn và quản lý không gian biển là những vấn đề cần xem xét, tuy nhiên tàu ngầm có thể là con át chủ bài để đối phó tàu sân bay của Trung Quốc. Hải quân các nước khu vực có thể làm gì để đưa tàu ngầm vào hoạt động một cách hiệu quả, an toàn trước những thách thức ngày càng nhiều từ hải quân Trung Quốc? Thứ ba là các nước trong khu vực đều nhận thức tầm quan trọng của việc tăng cường khả năng giám sát trên biển nhưng nếu làm phép tính thì Trung Quốc chỉ có vài máy bay do thám biển, còn Việt Nam và Philippines gần như không có cái nào. Các vị học giả nhìn nhận việc này như thế nào? Các nước, đặc biệt là Việt Nam và Philippines, cần làm gì để khắc phục điểm yếu này?

Phillips C. Saunders

Tôi muốn nói về cách tiếp cận sử dụng tàu dân sự thay vì quân sự (tránh đối đầu trực tiếp và lôi kéo sự chú ý – “white hole approach”) (của Trung Quốc). Tôi cho rằng Trung Quốc chấp nhận điều này bởi nó giữ cho căng thẳng ở mức thấp, hạn chế rủi ro leo thang xung đột. Liệu Trung Quốc có sẵn sàng chờ đợi hàng thập kỷ với cách tiếp cận này? Rõ ràng là có, bởi họ cho rằng thời gian đứng về phía họ và sức mạnh của họ đang gia tăng và. Họ đang đánh cược rằng cuối cùng thì các bên khác sẽ phải nhận thức được thực tế và chấp nhận từ bỏ yêu sách của mình. Do đó Trung Quốc sẽ hài lòng với chiến lược sử dụng bạo lực ở mức độ thấp, miễn là trong phạm vi cho phép và không quá ảnh hưởng đến sự ổn định của khu vực (theo quan điểm của họ). Họ chỉ không chịu được việc bị coi là thất thế hoặc không thể phản ứng lại những hành vi khiêu khích từ bên ngoài. Về việc trả lời cho câu hỏi về tàu ngầm tôi xin chuyển cho người khác.

Carlyle Thayer

Gần đây một vị tướng cấp cao của Việt Nam cho rằng có 3 kịch bản có thể xảy ra. Kịch bản tốt đẹp nhất là Trung Quốc sẽ rút giàn khoan Hải Dương 981 vào ngày 15/8 và quay lại con đường ngoại giao. Thứ hai là Trung Quốc sẽ kiên trì kéo dài căng thẳng và chờ đợi Việt Nam phạm sai lầm và phản ứng lại các khiêu khích của Trung Quốc để Trung Quốc sẽ vin cớ mà trả đũa mạnh mẽ. Thứ ba là Trung Quốc tiến thêm một bước và chiếm đóng thêm một phần thực địa tại Biển Đông. Hiện tại cục diện là tàu dân sự đấu với tàu dân sự, với tương quan lực lượng không đồng đều. Đây không còn là thế đối đầu bình thường mà thực sự là một cuộc chiến tranh tiêu hao. Trung Quốc đang mở rộng phạm vi hoạt động của dàn khoan, chống phá tàu Việt Nam. Các lực lượng Trung Quốc đang triển khai ra ngoài phạm vi 10 hải lý, tiến ra tận 30 hải lý để liên tục gây sức ép lên phía Việt Nam và phía Việt Nam cũng cảm nhận được điều đó. Theo thông tin của tôi thì Việt Nam hiện có ba phi cơ tham gia hoạt động tuần tra trên biển. Những tàu lớn cũng nhận được sự hỗ trợ từ trực thăng, nhưng tất nhiên đó là tàu hải quân. Hải quân Việt Nam chỉ sở hữu có 3 thuỷ phi cơ CSA 2000 sản xuất bởi Tây Ban Nha. Việt nam nhận thức được điểm yếu này của mình và tôi nghĩ rằng họ đang hy vọng rằng Mỹ, Nhật và các nước khác sẽ giúp cung cấp thông tin tình báo.

Còn đối với vấn đề tàu ngầm, tôi cho rằng không thể hy vọng vào việc các hải quân trong khu vực có thể hợp tác được. Như tôi từng phân tích tại một hội thảo khác, hội nghị của lãnh đạo các lực lượng hải quân ASEAN gần đây cho thấy mặc dù họ đang cố gắng cải thiện hợp tác, sắp xếp tập trận chung, các nỗ lực này còn gặp nhiều khó khăn do có thể bị coi là mang tính khiêu khích đối với Trung Quốc. Hơn nữa để nỗ lực thành công cần phải kêu gọi được cả Singapore, Malaysia, Indonesia, Việt Nam... cùng tham gia . Những nước có thể hợp tác cùng Việt Nam có lẽ là Ấn Độ với một số cuộc tập trận chung không thường xuyên và Nga bởi Nga sắp có một cơ sở tại Vịnh Cam Ranh được thuê tới 2018, cũng như các hỗ trợ phát triển (quân sự) khác. Nhưng các hạn chế mà ông vừa kể ra là hoàn toàn chính xác.

Christian Le Mière

Về vấn đề thứ nhất liên quan đến tàu giám sát đối đầu với tàu giám sát, gần đây tôi có viết một quyển sách về ngoại giao cưỡng ép trên biển. Tôi đang cố gắng lý giải vì sao tại Đông Á hiện nay ngày càng phổ biến việc sử dụng các hình thức ngoại giao mang tính cưỡng chế đối với các vấn đề trên biển, thậm chí cảnh sát biển cũng được dùng vào việc này. Tôi nghĩ rằng trong một mức độ nào đó, chúng ta có thể thấy tín hiệu tích cực rằng Trung Quốc không sẵn sàng (hoặc hiện tại chưa sẵn sàng) gia tăng căng thẳng tới mức độ xung đột vũ trang. Điều này có thể là do hệ thống các chuẩn mực quốc tế chống lại việc sử dụng vũ lực đã được định hình rõ hơn so với trước kia. Nếu đây là 100 năm trước thì tôi không nghi ngờ khả năng xảy ra xung đột vũ trang. Thậm chí 20-30 năm trước thì Trung Quốc cũng đã gây chiến với Việt Nam vào năm 1974 và 1988, nhưng hiện nay dường như Trung Quốc muốn đưa hải quân của họ ra tuyến sau. Một mặt, đây có thể là con đường duy nhất để Trung Quốc có thể tiếp tục lôi kéo các nước khác, nhưng ta cũng có thể thấy có nhiều vấn đề đang khiến Trung Quốc chịu nhiều ràng buộc hơn đối với việc sử dụng vũ lực, mặc dù các ràng buộc này có thể sẽ giảm đi theo thời gian. Còn về mức độ an toàn của tàu ngầm, đây chắc chắn là vấn đề đáng quan ngại. Tại Đối thoại Shangri-La hai năm trước, một đô đốc Singapore đã từng tuyên bố nước này có thể chủ trì một trung tâm cứu nạn tàu ngầm khu vực. Việc này chưa có tiến triển nhưng các nước xung quanh đều đã biết về đề xuất của Singapore. Việt Nam đang nhận được hỗ trợ về huấn luyện từ các chuyên gia điều khiển tàu ngầm nhiều kinh nghiệm của Nga – tôi cho rằng họ có thể nằm trong số những chuyên gia tốt nhất thế giới hiện nay – và đó là một tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, sự thực là việc điều khiển tàu ngầm là rất khó; Anh và Pháp đã có kinh nghiệm vận hành tàu ngầm gần 100 năm rồi nhưng vẫn để xảy ra tai nạn và va chạm ngoài khơi. Về công tác hải giám, đây chỉ là một vấn đề trong một danh sách dài những thứ mà Philippines cần quan tâm. Họ thực sự không có nhiều khả năng về tuần tra trên biển. Trực thăng tuần tra trên biển (maritime patrol aircraft – MPA) và các loạt trực thăng tình báo giám sát (ISR) khác rất hữu ích cho nước này nhưng thành thực mà nói thì Phillipinnes vẫn còn thiếu thốn rất nhiều.

Shahriman Lockman

Tôi sẽ chỉ nói về vấn đề MPA. Không quân của chúng tôi cũng nhận thức được rằng cần cải thiện khả năng tuần tra biển. Những gì mà chúng tôi có hiện nay chỉ là 4 máy bay tuần tra – khi nói 4 thì nghĩa là chỉ có 2 vì bạn chỉ có thể điều động một nửa tổng lực của mình trong mỗi lần làm nhiệm vụ thời lượng hoạt động của các máy bay này là trên dưới 5 tiếng tức là gần như không có ý nghĩa gì. Và sau sự cố MH 370 những đòi hỏi về việc cải thiện khả năng tuần tra đã lại được dấy lên. Trong một thời gian dài Malaysia đã hợp tác với Úc trong một chương trình tuy ít được nhắc đến nhưng rất quan trọng mang tên Operation P3, trong đó Úc cử máy bay tuần tra P3 - trên các tuyến xung quanh Ấn Độ Dương và Biển Đông. Thi thoảng các máy bay này có kết nối với máy bay P3 của lực lượng phòng vệ - Nhật và hai bên sẽ trao đổi thông tin để nắm bắt tình hình tại Biển Hoa Đông cũng như Biển Đông. Rất đáng tiếc là số lượng máy báy tuần tra hiện nay đã giảm bởi Úc đã chuyển một số máy bay P3 của họ tới Trung Đông. Mặc dù vẫn còn một vài máy bay dự phòng nhưng không thể phủ nhận sự yếu kém trong khâu tuần tra của chúng tôi.

Carlyle Thayer

Tôi xin bổ sung một chút là Malaysia có hợp đồng với một công ty của Singapore để đóng thuyền cứu nạn cho tàu ngầm và công ty Damen của Hà Lan cũng đang đóng một cái cho Việt Nam. Tuy nhiên việc làm này được xét dưới dạng tìm kiếm cứu nạn nên không thể coi là khiêu khích đối với Trung Quốc. Tôi xin lỗi vì không nghe rõ được một phần câu hỏi của ông (đô đốc Koda).

Hội thảo “Những diễn biến gần đây ở Biển Đông và chính sách của Mỹ” được tổ chức bởi CSIS vào ngày 10 và 11 tháng 7 năm 2014 tại Washington D.C, Mỹ. 

 

Người dịch: Hoàng Sơn 

Hiệu đính: Minh Ngọc 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập (A2/AD) là chiến lược biển được xây dựng nhằm ngăn không cho lực lượng hải quân đối phương tự do di chuyển trong một không gian chiến đấu. Bài viết sẽ phân tích những thuận lợi và khó khăn khi Trung Quốc thực hiện A2/AD tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông


Trung Quốc sẽ được gì và mất gì khi thiết lập một ADIZ ở Biển Đông? Những dự báo của giới quan sát về khả năng thành công của một ADIZ trong khu vực này.

 

Đọc tiếp...

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Một số nhà quan sát cho rằng hành động đáp trả của Mỹ mang tính tự phát, không đủ mạnh và còn khiến Bắc Kinh bạo trợn hơn. Trong thời gian vài tuần đầu, những cáo buộc như vậy bị cho là quá vội vàng, song cũng bộc lộ sự yếu kém cố hữu trong cách tiếp cận của Mỹ đối với vấn đề an ninh biển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Đọc tiếp...

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Trong khi thế giới chiến đấu với COVID-19, Trung Quốc đang tiến gần hơn tới việc thiết lập sự thống trị trong khu vực.

Đọc tiếp...

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

 

Bắc Kinh đang từng bước tiến đến mục tiêu buộc cộng quốc tế chấp thuận các tuyên bố chủ quyền của nước này đối với Biển Đông. Cứ mỗi thập kỷ trôi qua, Bắc Kinh lại đạt được một bước tiến mới trong nghị trình của mình.

Đọc tiếp...

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Bài báo cáo định lượng những ảnh hưởng đến môi trường từ các hành vi bồi đắp đảo trên Biển Đông, kết quả từ việc nạo vét và có thể tác động tiêu cực đến hệ động vật, thực vật biển và hệ sinh thái biển. Mức độ thiệt hại gây ra bởi việc xây dựng đảo được cho là trầm trọng vì các rạn san hô ở Biển Đông tập trung đa dạng sinh học biển lớn nhất trên Trái Đất.

Đọc tiếp...

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Để chứng minh cho cái gọi là chủ quyền “mang tính lịch sử”, giới học giả Trung Quốc đã nỗ lực lập luận, đưa ra những bằng chứng lịch sử. Tuy nhiên, các bằng chứng mà họ đưa ra rất mập mờ, không có bất cứ tham chiếu nào về vị trí trích dẫn chính xác, thậm chí còn cố tình sửa đổi ngôn từ gốc.

Đọc tiếp...

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

Bằng lập luận xuyên tác, vô căn cứ, Trung Quốc đã, đang và sẽ thực hiện hình thức “tuyên truyền đen” để bôi nhọ những hoạt động phù hợp với luật pháp quốc tế của các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Kể từ cuối những năm 1980, khi Biển Đông nổi lên là một vấn đề an ninh nghiêm trọng, Malaysia đã nhất quán tuân theo một chính sách và chỉ có những điều chỉnh nhỏ nhằm bảo vệ chủ quyền và các quyền chủ quyền của quốc gia này, duy trì luật pháp quốc tế cùng với thúc đẩy hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Tương tự như các căn cứ quân sự ở Đại lục, các tiền đồn của Trung Quốc tại Biển Đông được tích hợp vào một hệ thống các hệ thống lực lượng chung lớn hơn nhằm hỗ trợ các chiến lược đang hình thành của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Vụ xâm nhập tháng 12/2019 đánh dấu các diễn biến mới trong vấn đề quần đảo Natuna. Bắc Kinh đã thay đổi lập trường và hiện tuyên bố quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan gần quần đảo Trường Sa. Đây không còn là vấn đề “ngư trường truyền thống”.

Đọc tiếp...

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và tham vọng tại Đông Nam Á tiếp tục được xem xét kỹ lưỡng giữa các xu hướng rộng lớn hơn, bao gồm việc cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, các cuộc thảo luận ngày một tăng về kiến trúc khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương và nỗ lực không ngừng của các quốc gia Đông Nam Á và Bắc Kinh nhằm hướng tới một bộ quy tắc ứng xử ràng buộc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Chừng nào sức mạnh của Trung Quốc vẫn đang phát triển, ngay cả khi nước này tiếp tục hạn chế sử dụng sức mạnh, quân đội Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường bố trí lực lượng và hiện diện quân sự, tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” khiến Biển Đông trở thành “chiến trường”. Trong tương lai, lực lượng quân đội Mỹ sẽ không ngừng tập trung ở Biển Đông, gia tăng cường độ hành động hơn nữa.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Bầu không khí của chuyến thăm thứ 5 của Duterte đến Trung Quốc đã trở nên u ám sau các hành động của Trung Quốc như phái hàng trăm tàu cá đến đảo Thị Tứ và đâm chìm một tàu cá Philippines gần bãi Cỏ Rong trong nửa đầu năm 2019.

Đọc tiếp...

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng "họng súng" và "vỏ bọc hòa bình"

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng

"Người dân Trung Quốc đã học được giá trị của hòa bình"..."Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ cuộc chiến tranh hay xung đột nào" hay "Trung Quốc luôn đi đầu trong việc hướng tới hòa bình và ổn định khu vực"... Đây là những "Khẩu hiệu" mà Trung Quốc thường rêu rao để đánh bóng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc làm hoàn toàn trái ngược với điều đó.

Đọc tiếp...

"Hàng xóm bắt nạt": Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phản tác dụng

Mọi hành động đều có phản ứng khác nhau; các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như các quốc gia có lợi ích ở khu vực này chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Trên thực tế, Bắc Kinh đang “mời gọi" các nước chống lại họ, và điều này không mang lại lợi ích cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Mỹ và đồng minh phải sử dụng sức mạnh của họ trên mọi lĩnh vực quân sự và phi quân sự. Theo đó, các hoạt động hộ tống bảo vệ hàng hải sẽ đi kèm với các nỗ lực đồng thời nhằm giúp các chính phủ và nền kinh tế ở Đông Nam Á vững vàng hơn trước ảnh hưởng xấu của Trung Quốc, cũng như việc phát triển và triển khai các lực lượng chiến đấu tinh nhuệ với nhiệm vụ ngăn chặn hành vi gây hấn quy mô lớn của Trung Quốc

Đọc tiếp...

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển sầm uất nhất trên thế giới, không chỉ đáng báo động mà còn nhiều khả năng biến thành một cuộc chiến tranh thực sự. Nếu điều đó xảy ra, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á sẽ tiêu tan.

Đọc tiếp...

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Vụ việc ở Bãi Tư Chính là một phần trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp ở Biển Đông của các quốc gia ven biển và hợp tác giữa họ với các nước ngoài khu vực. Những hành động này có thể mang lại lợi ích trước mắt cho Trung Quốc, nhưng về lâu dài sẽ dẫn đến bất lợi cho quốc gia này.

Đọc tiếp...

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines đã đúng khi mong muốn có mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này mong muốn mở cửa để phát triển kinh tế hơn nữa. Manila cũng phải nhớ rằng hòa bình và thịnh vượng lâu dài phụ thuộc vào quyền tự do và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nước có chủ quyền, cũng như trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc. Trong lời nói và hành động, Philippines cần phải giữ vững lập trường để bảo vệ những nguyên tắc quan trọng này.

 

Đọc tiếp...

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Tính tới giờ, việc Trung Quốc tiến hành quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông được cho là động thái ở mức cao nhất của nước này đối với các vấn đề ở khu vực. Thực chất hành động cũng như mục đích đằng sau của Trung Quốc đe dọa tới không chỉ các nước trong khu vực mà còn tới cả nước lớn như Mỹ.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 3125 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin