27 - 11 - 2020 | 10:43
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Yêu sách lịch sử thiếu cơ sở của Trung Quốc đối với Biển Đông và Biển Hoa Đông

Yêu sách lịch sử thiếu cơ sở của Trung Quốc đối với Biển Đông và Biển Hoa Đông

Email In PDF.

Những bằng chứng trong lịch sử cho thấy Trung Quốc không hề có căn cứ khẳng định chủ quyền với khu vực biển Đông và biển Hoa Đông. Trung Quốc chỉ đang cố gắng thực thi yêu sách này nhằm hiện thực hóa mưu đồ bành trướng của mình trong khu vực.

 

Nội dung chính:

·         Trung Quốc gần đây đã cố gắng sử dụng lực lượng quân sự nhằm hỗ trợ cho việc hiện thực yêu sách dựa trên lịch sử của mình đối với Biển Đông và Biển Hoa Đông; tuy nhiên, nếu xem xét kỹ, yêu sách này là không có căn cứ.

·         Thái độ hung hăng của Trung Quốc nhằm thực thi yêu sách của mình ở Biển Đông và Biển Hoa Đông đang đe dọa hòa bình khu vực châu Á. Trung Quốc dường như không chấp nhận bất kỳ một đề xuất hợp lý nào tôn trọng yếu tố lịch sử và địa lý.

·         Các quốc gia Đông Nam Á và các quốc gia có lợi ích liên quan khác như Mỹ, Úc cần phải duy trì sự hiện diện quân sự nhằm ngăn chặn sự gây hấn Trung Quốc đồng thời nỗ lực đàm phán giải pháp hòa bình với Trung Quốc.

Gần đây, Trung Quốc đã sử dụng máy bay và tàu quân sự nhằm đe dọa Nhật Bản trong khu vực biển Hoa Đông gần quần đảo Senkaku (mà Trung Quốc gọi là quần đảo Điếu Ngư và chính quyền Đài Loan gọi là Điếu Ngư Đài). Tương tự, trong khu vực biển Đông, tàu Trung Quốc hoạt động trong khu vực rất xa Trung Quốc, nhưng rất gần các nước Đông Nam Á như Philippines, Malaysia và Việt Nam. Trung Quốc lập luận rằng, khu vực đó thuộc Trung Quốc dựa trên yêu sách lịch sử từ lâu. Tuy nhiên, các bằng chứng cho thấy Trung Quốc không hề có căn cứ lịch sử khẳng định chủ quyền với biển Đông và biển Hoa Đông.

Yêu sách dựa trên lịch sử của Trung Quốc với biển Đông và biển Hoa Đông được đề cập đến trong hai văn bản. Thứ nhất là “Bằng chứng lịch sử chứng minh chủ quyền của Trung Quốc với quần đảo Nam Sa” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ngày 17/11/2000 đã đưa ra yêu sách biển Đông[1]. Thứ hai là Sách trắng của Trung Quốc với tiêu đề “Đảo Điếu Ngư – vùng lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc” được ban hành tháng 9/2012 đã đưa ra căn cứ lịch sử đối với biển Hoa Đông[2].

Trung Quốc yêu sách khu vực trong biển Đông và biển Hoa Đông dựa vào những cuốn sách lịch sử của Trung Quốc có đề cập đến những khu vực này. Ví dụ như, trong thời kỳ Tam Quốc (năm 221-277), Dương Phụ (Yang Fu - 楊阜)  đã viết về biển Đông: “Biển Đông có đảo, cồn cát, rạn san-hô và các bãi cạn, khi thủy triều rút thấy nhiều đá hơn” (漲海崎頭. 水淺而多磁石)[3]. Mặc dù được khẳng định trong phần A của “Chứng cứ lịch sử”, nhưng đoạn này chỉ mô tả biển chứ hoàn toàn không đề cập đến yêu sách chủ quyền của Trung Quốc.

Các tài liệu tham khảo trong những cuốn sách lịch sử của Trung Quốc cũng có thêm bốn yếu điểm. Thứ nhất, tên trong những cuốn sách này đề cập đến không hoàn toàn giống những khu vực hiện nay Trung Quốc đang yêu sách. Thứ hai, hầu hết những khu vực được mô tả là khu vực của “người man di” (ví dụ yi  (người Di) và fan  (người Phiên)) được xác định không phải là người Trung Quốc. Thứ ba, một số đề cập đến mô tả quan hệ giữa các nước “chư hầu” và Trung Quốc, nhưng trong các mối quan hệ với chư hầu, Trung Quốc và các nước chư hầu có sứ giả của mình. Hơn nữa,  các nước chư hầu rõ ràng là không nằm dưới sự cai trị của Hoàng đế Trung Hoa, các nước này không phải là một phần của Trung Quốc hay bị Trung Quốc kiểm soát.

Cuối cùng, yêu sách dựa trên lịch sử của Trung Quốc đề cập đến Đế quốc Mông Cổ (1279-1367) và Mãn Châu (1644-1911) đánh bại Trung Quốc và cai trị nước này. Sự thất bại của Trung Quốc được minh chứng rõ ràng hơn trong các tài liệu của học giả Trung Quốc vào thời điểm đó, nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay đã bóp méo lịch sử của Trung Quốc bằng cách ngụy biện rằng hai đế quốc ngoại lai cai trị thời đó chỉ là “các dân tộc thiểu số” của Trung Quốc. Hiện nay, việc Trung Quốc khẳng định yêu sách chủ quyền dựa trên căn cứ về Đế quốc Mông cổ hay Mãn Châu thì cũng giống như Ấn Độ yêu sách Singapore bởi vì Ấn Độ và Singapore cùng lúc là thuộc địa của đế quốc Anh hay Việt Nam cũng có thể yêu sách Algeria bởi vì Việt Nam và Algeria cùng lúc là thuộc địa của thực dân Pháp.

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét cụ thể hơn yêu sách với biển Đông và biển Hoa Đông của Trung Quốc

Biển Đông

Hình 1 cho thấy những khu vực có tranh chấp chủ quyền trên biển Đông. Trung Quốc đưa ra yêu sách rộng lớn nhất ở biển Đông – yêu sách một khu vực chạy dọc theo bờ biển Việt Nam, tới bờ biển của Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines. Trung Quốc yêu sách vùng biển rộng khoảng cách phía nam đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 1,600 km (1000 dặm), điều này là rất khó để bao biện về mặt địa lý.

Hình 1. Tranh chấp chủ quyền tại biển Đông


Nguồn: Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ (nguồn cho phép truy cập tại http://en.wikipedia.org/wiki/File:Schina_sea_88.png).

Hình 2 là một bản đồ chính thức của tỉnh Hải Nam Trung Quốc, cho thấy trên thực tế hình 1 thể hiện đúng yêu sách của Trung Quốc với biển Đông

Hình 2. Bản đồ chính thức của tỉnh Hải Nam Trung Quốc


Nguồn: Chính quyền tỉnh Hải Nam (www.hainan.gov.cn/code/V3/en/images/map-of-hainan-large.jpg).

Tài liệu “Bằng chứng lịch sử” của Trung Quốc bắt đầu cung cấp nhiều bằng chứng hơn về biển Đông từ thời nhà Minh (1368-1644)[4]. Tuy nhiên, nhiều thế kỷ trước triều đại nhà Minh, tàu của các thương gia Ả rập và các nước Đông Nam Á đã tràn ngập khắp biển Đông và Ấn Độ Dương. Trung Quốc cũng tham gia vào việc buôn bán này mặc dù thương mại được chi phối bởi Ả rập và các nước Đông Nam Á. Theo lời của Edward Dreyer, sử gia thời nhà Minh, “tiếng Ả rập là một lingua franca (ngôn ngữ trung gian) của thuyền viên từ bờ biển Nam Trung Quốc đến bờ biển châu Phi[5].

Các thương nhân Ả rập có tầm quan trọng ở nhiều mặt. Trong suốt thời nhà Đường (618-906) “cộng đồng lớn các thương gia nước ngoài người Hồi giáo đã sống ở Canton (tên quốc tế trước của Quảng Châu). Năm 879, Canton bị Hoàng Sào (Huang Chao) đánh chiếm và hầu hết những cuộc chiến kế tiếp theo được mô tả sinh động bằng tiếng Ả rập chứ không phải là tiếng Trung Quốc[6].

Trước thời nhà Tống, người Trung Quốc không chi phối thương mại ở khu vực biển Đông và Ấn Độ Dương. Theo lời Dreyer, “Trước thời nhà Tống (960-1276), mặc dù Trung Quốc có vai trò quan trọng trong thương mại nhưng tàu và các thương lái Trung Quốc không phải là đối tượng tham gia chính. Trước đó rất lâu, khi hành trình từ Trung Quốc đến Ấn Độ và ngược lại cần thực hiện trên một con tàu lớn và được đi theo bởi các tàu nhỏ liên lạc. Năm 413, Cao tăng Pháp Hiển đã du hành trên một chiếc tàu thương gia lớn. Chiếc tàu lớn nhất mà Cao tăng Pháp Hiển đi là ngày….rất lớn… nhưng đó là tàu của Indonesia không phải là của Trung Quốc[7].

Năm 1296-1297, Đế quốc Mông Cổ đã cử người sứ giả Trung Quốc tên là Chu Đạt Quan (Zhou Daguan- 周達觀) tới Angkor (hiện nay là Campuchia). Những tài liệu do Zhou viết đã cũng cấp những nguồn thông tin quan trọng về cuộc sống hằng ngày ở Angkor vào thời gian đó, và hai bản dịch tiếng Anh hiện nay cũng đã được xuất bản[8]. Tất nhiên, Angkor là nước nằm bên ngoài đế quốc Mông Cổ do vậy sứ giả Chu không thể viết một cách bịa đặt được.

Đầu triều đại nhà Minh, dưới sự cai trị của Hoàng đế Vĩnh Lạc (trị vì 1403-1424) và người kế nhiệm của ông, vua Minh đã cử một người chủ huy nổi tiếng tên là Trịnh Hòa (Zheng He (鄭和)), thực hiện bảy chuyến du hành lớn đến bờ biển Đông Nam Á, Nam Á và bở biển đông châu Phi giữa những năm 1405 và 1433. Trình Hòa có một hạm đội lớn với rất nhiều “tàu quý”, mà có lẽ là tàu gỗ lớn nhất từng được xây dựng. Nhưng chuyến du hành của Trinh Hòa không phải là chuyến du hành nhằm thám hiểm. Trên thực tế, Dreyer viết, “địa điểm mà Trịnh Hòa đến là cảng thương mại tấp nập nằm trên tuyến đường thương mại thường xuyên và… Trịnh Hòa đã sử dụng những phương pháp định vị dựa vào hướng gió khi gió mùa, phương pháp này đã được những người đi biển Trung Quốc sử dụng từ thời nhà Tống (960-1276) nhưng đã được các thủy thủ Ả rập và Indonesia biết đến từ nhiều thế kỷ trước”[9]. Chuyến du hành của Trịnh Hòa giống như những người Bồ Đào Nha đã tới đó một vài thập kỷ sau, “họ bị thu hút bởi hệ thống thương mại đang hoạt động nhộn nhịp”[10]. Giống như những người Bồ Đào Nha sau đó, Trịnh Hòa dường như cũng nhờ đến những thủy thủ Ả rập khi tới nửa phía Tây Ấn Độ Dương.

Chuyến đi của Trịnh Hòa có mục đích đưa về một số vua chúa và sứ thần của các quốc gia khác nhằm áp đặt hệ thống triều cống của Trung Quốc lên các quốc gia ấy. Và Trịnh Hòa đã làm được điều ấy, nhưng lực lượng quân đội to lớn trong hạm đội của Trịnh Hòa với hơn 27,000 người (chủ yếu là lính tráng) đã chứng tỏ rằng lực lượng hùng mạnh này là một phần trong những chuyến đi và trên thực tế, yếu tố vũ lực đã được sử dụng ba lần[11].

Tiểu sử của Trịnh Hòa trong cuốn sách chính thức “Lịch sử triều đại nhà Minh (Mingshi 明史)” cho thấy tầm quan trọng của “bàn tay sắt trong găng tay bọc nhung”: “Sau đó, họ đi tới nhiều nước khác… Những người không quy phục sẽ bị trấn áp bởi vũ lực”[12]. Các chuyến đi của Trịnh Hòa có những tác động nhất định. Sự nổi lên của Malaca như một thương cảng là một phần nhờ vào các chuyến đi của Trịnh Hòa[13]. Nhưng, “Sau khi thế hệ lãnh đạo thứ ba của Malacca chuyển sang đạo Hồi vào năm 1436, Malacca đã thu hút đến cảng biển của mình ngày càng đông thương gia từ Ấn Độ Dương và biển Đông, nhiều chiếc tàu chở theo các thương gia người Hồi giáo và các phi hành đoàn thủy thủ người Hồi giáo đến đây… [Sau Trịnh Hòa] thương mại phần lớn bị chi phối bởi người Hồi giáo cho đến khi người Bồ Đào Nha xuất hiện[14].

Do chi phí các chuyến đi của Trịnh Hòa rất lớn, cũng như mối lo ngại của triều đại nhà Minh với mối đe dọa của quân Mông ở phương Bắc, Trung Quốc chuyển sang hướng nội và tập trung lên phía Bắc: “Vua Minh cấm đóng tàu biển và cấm các hoạt động thương mại với nước ngoài đang được tiến hành và người dân Trung Quốc – những người vi phạm luật cấm này đã vượt biên ra khỏi Trung Quốc và không còn chịu sự áp đặt của quy định này”[15]. Với chính sách đối ngoại hướng về phương Bắc và cấm đóng tàu cũng như hoạt động thương mại với nước ngoài, vua Minh Trung Quốc đã rút khỏi đại dương. Theo tôi, chính sách này cũng có ảnh hưởng đến biển Đông.

Trước khi kết thúc, chúng ta hãy xem xét một lập luận khác được dùng để chứng minh rằng Trung Quốc đã từng làm chủ các khu vực trong biển Đông. Lập luận này nhấn mạnh đến sự phát hiện ra các mảnh gốm sứ của Trung Quốc. Như đã đề cập trước đó, biển Đông là trung tâm thương mại nhộn nhịp với nhiều loại tàu thuyền mang đến những sản vật khác nhau bao gồm cả gốm sứ Trung Quốc và các các loại gia vị của Đông Nam Á. Nhưng hầu hết các tàu chở hàng này là tàu Đông Nam Á hay Ả rập. Ít nhất đã có một vị lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc sai lầm trong lập luận giữa sản vật đem bán và sản vật do tàu thương mại chở đến. Trong bài phát biểu của mình tại Quốc hội Úc vào ngày 24/10/2003, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã nói: “Quay trở lại những năm 1420, các hạm đội viễn chinh của nhà Minh đã từng đến bờ biển nước Úc”[16].  Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã đề cập đến Trịnh Hòa, nhưng chúng ta biết hành trình của các chuyến đi của Trịnh Hòa và chúng ta chắc chắn rằng Trịnh Hòa chưa từng đến Úc[17]. Trên thực tế, thổ dân Úc từ lâu đã có giao lưu thương mại với người Macassa – những người đến từ Sulawesi ở Indonesia hiện nay và các đồ gốm sứ Trung Quốc có thể đến trong quá trình giao lưu thương mại này, ngoài ra còn có cả hải sâm và gỗ ở phía Bắc Úc[18]. Thương mại giữa người bản địa bắc Úc và người Macassa khiến cho nhiều từ của Macassa trở thành một phần ngôn ngữ bản địa của bắc Úc[19] nhưng nó không cung cấp bằng chứng khẳng định rằng người Trung Quốc đã từng đến bờ biển Úc trước thế kỷ 19.

“Bằng chứng lịch sử” không chứng minh được yêu sách dựa trên lịch sử quan trọng của Trung Quốc: cái gọi là “đường lưỡi bò” ở biển Đông. Đường này lần đầu xuất hiện là năm 1933 bởi Ủy ban Điều tra bản đồ Đất và Biển của chính quyền Trung Hoa Dân Quốc. Theo hầu hết tài liệu, mốc thời gian “đường lưỡi bò” (hình 3) được xuất bản là năm 1947, nhưng cũng có một số tài liệu khác cho rằng thời điểm “đường lưỡi bò” được xuất bản là đầu tháng 12/1946[20] hoặc cuối tháng 2/1948[21]. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949, Thủ tướng Chu Ân Lai đã chấp nhận đường lưỡi bò trước đó là hợp lệ. Sau đó, đường lưỡi bò đã được thay đổi với các hình dáng khác nhau như phiên bản 9 nét, 10 nét hoặc 11 nét đứt đoạn . Tuy nhiên, bản đồ “đường lưỡi bò” này hoàn toàn không thể là bằng chứng lịch sử chứng minh “chủ quyền” của Trung Quốc với Biển Đông.

Hình 3. Bản đồ “đường lưỡi bò” đầu tiên của chính quyền Trung Hoa Dân quốc cuối những năm 1940


Nguồn:  Bản đồ các đảo biển Đông năm 1947 (truy cập tại http://en.wikipedia.org/wiki/Nine-dash_line#mediaviewer/File:1947_Nanhai_Zhudao.png).

Biển Hoa Đông

Yêu sách dựa trên lịch sử của Trung Quốc với biển Hoa Đông được nêu rõ trong Sách trắng “Đảo Điếu ngư – vùng lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc” công bố tháng 9/2012. Lập luận lịch sử của Trung Quốc trong Sách trắng được bắt đầu bằng đảo Điếu Ngư (hoặc sử dụng tên Nhật Bản của nó là đảo Senkaku) được đề cập đến trong cuốn sách Trung Quốc xuất bản năm 1403 mang tên “ Thuận Phong Tương Tống” (“Shunfeng xiangsong - 順風相送”)[22]. Như đã nói ở trên, việc xác định cụ thể các vị trí ngày nay với các khu vực được sách cổ Trung Quốc đề cập đến là không chính xác, và bất kỳ trường hợp nào, việc đặt tên cho một quốc gia hay khu vực không thể nói lên rằng Trung Quốc đã có yêu sách với khu vực đó. Đáng chú ý là Bộ Ngoại giao Cộng hòa Trung Hoa ở Đài Loan đã đưa ra yêu sách tương tự vào tháng 9/2012 nhưng yêu sách đó đã bị xóa đi khỏi trang web Bộ Ngoại giao vào tháng 6/2013.

Sách trắng sau đó đề cập đến Vương Quốc Lưu Cầu (Ryukyu) bắt đầu triều cống nhà Minh từ năm 1372[23]. Như đã đề cập trước đó, quan hệ nước lớn - nước chư hầu không có nghĩa là nước lớn có quyền sở hữu nước chư hầu. Quốc gia chư hầu là ngoại quốc và vua Minh cử sứ giả đến các nước đó và ngược lại, các nước cũng cử sứ giả đến Trung Quốc. Quan hệ chư hầu đem lại cho nước chư hầu lợi ích đáng kể về mặt ngoại thương với Trung Quốc.

Như đã trình bày trong phần về biển Đông, sau khi Hoàng đế Vĩnh Lạc và Trịnh Hòa qua đời, triều đại nhà Minh tập trung vào công việc trong nước và phương Bắc, cấm “đóng tàu biển cũng như hoạt động ngoại thương”[24]. Người Hán từ Phúc Kiến đã tới Đài Loan trong thời gian ngắn, chủ yếu là tới phía tây nam Đài Loan nhằm đánh bắt cá, giao lưu thương mại với các thổ dân và trốn cướp biển. Tuy nhiên khi đó Đài Loan vẫn là ngoại quốc[25] và không có người Hán định cư lâu dài ở Đài Loan cho đến khi người Hà Lan nhập khẩu lao động từ Trung Quốc sau khi thiết lập chế độ thuộc địa ở đây vào năm 1624. Khi quân Tây Ban Nha vào Đài Loan năm 1626, họ hầu như không thấy người Hán ở phía bắc Đài Loan[26].

Đài Loan ít được đề cập đến trong các tài liệu của Trung Quốc cho đến cuối triều đại nhà Minh. Trong tài liệu của Laurence G. Thompson – một trong những học giả đầu tiên của phương Tây về lịch sử Đài Loan đã viết: “Một thực tế đáng chú ý nhất về lịch sử của Đài Loan là nó dường như không được nhắc tới trong sử sách Trung Quốc. Đây là hòn đảo rất lớn…nên dường như nó vượt ra ngoài phạm vị của các học giả Trung Quốc cho đến cuối thời nhà Minh (thế kỷ 17)”[27] Đảo Điếu Ngư nhỏ hơn nhiều so với Đài Loan, xa hơn nhiều so với từ nhà Minh sang phía Đông Đài Loan và không có người ở. Vì vậy, khi các tài liệu nhà Minh không đề cập đến một hòn đảo lớn hơn và gần hơn như đảo Đài Loan, thì dường như chắc chắn hòn đảo nhỏ và xa như đảo Điếu Ngư sẽ khó được đề cập tới.

Trong thực tế, cả CHND Trung Hoa và Đài Loan đều tuyên bố rằng quần đảo Điếu Ngư thuộc Nhật cho đến năm 1968 khi Ủy ban Kinh tế châu Á và Viễn Đông của Liên Hợp Quốc khảo sát tài nguyên khoáng sản ven biển và cho rằng có thể có khí hydrocacbon trong vùng biển gần quần đảo. Ngày 8/1/1953, tờ Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Trung Quốc đã đăng bài báo cho rằng đảo Điếu Ngư thuộc quần đảo Ryukyu của Nhật Bản[28]. Trong hình 4, bài viết này nằm ở phía dưới bên trái của hình. Hình 5 là nội dung bài báo. Bài báo bắt đầu:

Quần đảo Ryukyu nằm giữa vùng biển phía đông bắc Đài Loan và phía tây nam đảo Ryushu của Nhật Bản. Nó có 7 nhóm đảo trong đó có quần đảo Senkaku… Quần đảo Ryukyu kéo dài 1000km. Một bên (bên trong) là biển Hoa Đông Trung Quốc. Một bên (bên ngoài) là vùng biển cả (công hải) thuộc Thái Bình Dương[29].

Đoạn văn trên cho thấy rằng quần đảo Điếu Ngư  không thuộc lãnh thổ Trung Quốc, sự lý giải trong nhiều bằng chứng khác cũng cho thấy điều này.

Hình 4. Trang báo Nhân Dân Nhật báo


Nguồn: Báo Nhân dân, 8/1/1953,4

Hình 5. Bài báo trên báo Nhân Dân viết quần đảo Điếu Ngư thuộc quần đảo Ryukyu


Nguồn: Báo Nhân dân, 8/1/1953,4

Năm 1958, Trung Quốc xuất bản Bản đồ Thế giới trong đó quần đảo Điếu Ngư thuộc về Nhật Bản[30]. Bản đồ của Nhật Bản (hình 6) có một bản đồ riêng của quần đảo Ryukyu ở góc dưới bên phải. Trên bản đồ này, biên giới quốc tế của Trung Quốc kéo dài đến phía đông của Đài Loan nhưng đến phía tây của quần đảo Điếu Ngư mà được ghi rõ bằng chữ tiếng Trung là đảo Uotsuri( ) và là quần đảo Senkaku( 群岛)

Ba bản đồ khác dưới đây chứng minh rằng quần đảo Điếu Ngư nằm ở phía đông biên giới quốc tế của Trung Quốc và nằm về phía đông bắc của đảo Đài Loan. Các bản đồ đó là Chính trị Châu Á (hình 7), Địa hình Trung Quốc (hình 8) và Chính trị Trung Quốc (hình 9). Trong hình 8 và hình 9, đường biên giới quốc tế của Trung Quốc nằm kinh tuyến 123 độ tây, còn các đảo thuộc quần đảo Điếu Ngư đều nằm ở kinh tuyến 123 độ đông. Chính quyền Đài Loan dưới thời Tưởng Giới Thạch cũng nhiều lần xuất bản các bản đồ chính thức cho thấy quần đảo Điếu Ngư thuộc về Nhật Bản cho đến năm 1971[31].

Hình 6: Bản đồ Nhật Bản


Nguồn: Bản đồ thế giới, 1958, 25-26

 Hình 7: Bản đồ Chính trị Châu Á


Nguồn: Bản đồ thế giới, 1958, 11-12.

 Hình 8: Bản đồ địa hình Trung Quốc


Nguồn: Bản đồ thế giới, 1958, 14-15.

Hình 9: Bản đồ Chính trị Trung Quốc


Nguồn: Bản đồ thế giới, 1958, 17-18.

Đến năm 1968 sau khi cả hai Ủy ban Kinh tế châu Á và Viễn Đông của Liên Hợp Quốc khảo sát nguồn khoáng sản ven biển cho rằng nguồn khí hydrocarbon có ở khu vực đảo Điếu Ngư, cả chính phủ CHND Trung Hoa và chính quyền Tưởng Giới Thạch đều tỏ rõ sự quan tâm đến khu vực này. Hơn nữa, khẳng định chủ quyền của Trung Quốc dựa trên Hiệp ước Shimonoseki (1895), hoặc Hiệp định Hòa bình San Francisco (1951) đều không xác đáng bởi các Hiệp ước và Hiệp định đó không đề cập đến đảo Điếu Ngư[32]. Những đảo đó không thuộc Trung Quốc do vậy, không thể được trả lại.

Yêu sách quần đảo Điếu Ngư “luôn là đảo phụ thuộc của đảo Đài Loan Trung Quốc về cả mặt địa lý và trong cả thực hiện quyền tài phán trong lịch sử của Trung Quốc”[33] cũng thiếu căn cứ lịch sử. Chính quyền Đài Loan dưới thời Tưởng Giới Thạch đã chấp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản ngày 25/10/1945. Văn phòng chỉ huy hành chính tỉnh của Đài Loan đã cho xuất bản cuốn sách lớn dưới tên Chen Yi với 540 bảng biểu, 1384 trang; nội dung viết về Đài Loan trong 51 năm vừa qua[34]. Sử dụng số liệu thống kê tháng 8/1946, cuốn sách này cho thấy gần hết phần phía đông của tỉnh Đài Loan là đảo Đài Loan (122 ° 00'04 "Đ), đảo Pengjia (122 ° 04'51 "Đ) và đảo Mianhua (122 ° 06'15" Đ)[35]. Những địa điểm này chỉ nằm về phía đông của kinh tuyến 122° . Tuy nhiên, phía tây của đảo Senkaku xa hơn 1°24'45" về phía đông kinh tuyến 123°31'0". Như vậy, trong thời gian Đài Loan là thuộc địa của Nhật (1895-1945), đảo Điếu Ngư chưa bao giờ là một phần của Đài Loan. Điều này khác so với ở biển Đông – nơi Nhật đã quản lý một số hòn đảo thông qua sự cai trị thuộc địa Đài Loan của mình[36].

Chính phủ Trung Quốc cũng bất mãn với cái gọi là “quốc hữu hóa” quần đảo Điếu Ngư của Nhật, một vấn đề được đề cập đến trong cả lời mở đầu và kết luận của Sách trắng về quần đảo Điếu Ngư. Trung Quốc khẳng định rằng chính phủ Nhật Bản đã có được chủ quyền với quần đảo thông qua quá trình quốc hữu hóa này. Trên thực tế, đây là một sự hiểu lầm. Như chúng ta thấy, chính phủ Nhật Bản đã thực thi chủ quyền với quần đảo Điếu Ngư trước khi quốc hữu hóa và quá trình quốc hữu hóa không làm thay đổi chủ quyền ở đây. Thay vào đó, thông qua quốc hữu hóa, chính phủ Nhật đã chuyển đối đất đai từ sở hữu tư nhân sang đất được quản lý bởi chính phủ. Điều này là bình thường, ví dụ như khi chính phủ chuyển sở hữu tư nhân vào một công viên quốc gia.

Trong diễn đàn quốc tế Thái Bình Dương năm 2013 được tổ chức tại Bắc Kinh hồi tháng 10/2013 gần đây, các học giả Trung Quốc tiếp tục đưa ra những “bằng chứng lịch sử” nhằm khẳng định quần đảo Điếu Ngư thuộc Trung Quốc. Một học giả đưa ra bản đồ thời nhà Minh về hai bờ biển của tỉnh Phúc Kiến và quần đảo Điếu Ngư. Tuy nhiên, bản đồ không có Đài Loan. Rõ ràng, cái gọi là quần đảo Điếu Ngư trong bản đồ ấy không phải là đảo nằm ở phía đông bắc của Đài Loan

Một học giả khác khẳng định rằng bản đồ quân sự của Nhật cho thấy quần đảo Điếu Ngư thuộc Trung Quốc nhưng trên bản đồ đó chỉ đơn giản ghi là “Đài Loan và các đảo phụ thuộc”. Những chứng cứ trong các tài liệu này rõ ràng thể hiện rằng quần đảo Điếu Ngư không liên quan đến Đài Loan. Các học giả Trung Quốc hiện nay vẫn tiếp viện dẫn đến yêu sách dựa trên lịch sử đối với đảo Senkaku nhưng những chứng cứ lịch sử nghèo nàn và thiếu logic sẽ luôn là cơ sở cho những “nghiên cứu” của họ.

Kết luận

Thái độ hung hăng của Trung Quốc nhằm hiện thực hóa yêu sách biển Đông và biển Hoa Đông của mình đang đe dọa hòa bình khu vực châu Á. Trong đàm phán với Trung Quốc về những vấn đề này, Mỹ và các quốc gia có yêu sách biển khác cần làm rõ rằng họ không chấp nhận cái họi là yêu sách dựa trên lịch sử của Trung Quốc. Chúng ta phải chú thích rằng, những yêu sách này không có căn cứ lịch sử và Trung Quốc đang cố gắng sử dụng yêu sách phi lý của mình nhằm hiện thực hóa quá trình bành trướng của mình ở khu vực biển Đông và biển Hoa Đông.

Đáng tiếc là, cho đến nay, Trung Quốc đã thất bại trong việc cho các bên thấy nỗ lực thực hiện các bước nhằm đạt được hòa bình thực sự trong các tranh chấp ở biển Đông và biển Hoa Đông. Ví dụ như, đáp lại đề xuất sử dụng tòa án quốc tế của Philippines gần đây đó là Tòa Trọng tài thường trực, một bình luận trên Nhân Dân Nhật báo cho rằng: “Hành động của phía Philippines là đi ngược lại với luật pháp quốc tế và sự thật lịch sử cũng như đi ngược lại với đạo lý và các nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế[37]. Một bình luận khác chỉ trích đề xuất của Philippines, cho rằng hành động của Philippines là vô đạo lý, đồng thời chỉ ra rằng Trung Quốc không sẵn sàng thực hiện bất kỳ sự nhượng bộ nào và Trung Quốc kiên quyết không chấp nhận bất kỳ tòa trọng tài phân xử tranh chấp nào.

Tương tự như vậy, đoạn cuối trong Sách trắng “quần đảo Điếu Ngư” cũng nhấn mạnh Trung Quốc không sẵn sàng thực hiện bất kỳ sự nhượng bộ nào:

Trung Quốc kêu gọi Nhật tôn trọng lịch sử và luật pháp quốc tế, ngay lập tức dừng những hành động xâm phạm đến chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Lập trường về chủ quyền lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc là rõ ràng và kiên định. Trung Quốc tự tin và có khả năng bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình[38].

Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, tuyên bố của Trung Quốc trong “lịch sử và luật quốc tế” không chứng minh rằng Trung Quốc có chủ quyền với quần đảo Senkaku.

Các nhà hoạch định chính sách phải tiếp tục nỗ lực để đạt được hòa bình ở khu vực biển Đông và biển Hoa Đông,  khả năng Trung Quốc chấp nhận bất kỳ một đề xuất hợp lý nào tôn trọng lịch sử và địa lý dường như rất khó xảy ra. Nhật Bản, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei và các quốc gia có lợi ích liên quan khác như Mỹ, Úc phải duy trì năng lực quân sự thật mạnh để ngăn chặn sự tấn công của Trung Quốc đồng thời nỗ lực tìm kiếm các giải pháp thương lượng hòa bình với Trung Quốc.

J. Bruce Jacobs ( Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. ) là Giáo sư ngôn ngữ và nghiên cứu châu Á tại Đại học Monash, Melbourne, Australia. Cuốn sách gần đây của ông là Local Politics in Rural Taiwan under Dictatorship and Democracy (EastBridge, 2008)Democratizing Taiwan (Brill, 2012). Bốn tập Critical Readings on China-Taiwan Relations được ông viết lời giới thiệu và được xuất bản bởi NXB Brill vào tháng 6/2014. Bài phân tích được đăng trên American Enterprise Institute.

Hoàng Lan (dịch)



[1] Tài liệu “Bằng chứng lịch sử” xem tại www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/topics_665678/3754_666060/t19231.shtml.

[2] Văn phòng Thông tin nhà nước, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, “Đảo Điếu Ngư, vùng lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc,”tháng 9/ 2012; bằng tiếng Anh, xem tại www.gov.cn/english/official/2012-09/25/content_2232763.htm, và bằng tiếng Trung, xem tại http://news.xinhuanet.com/2012-09/25/c_113202698.htm

[3] “Bằng chứng lịch sử.” Để biết thêm thông tin về Yang Fu, xem tại http://en.wikipedia.org/wiki/Yang_Fu_%28Han_Dynasty%29 and http://zh.wikipedia.org/wiki/%E6%A5%8A%E9%98%9C. Trên thực tế, đóng góp của Yang trong thời kỳ Tam Quốc nổi bật hơn trong thời Đông Hán

[4] “Bằng chứng lịch sử,” đặc biệt là phần B và C.

[5] Edward L. Dreyer, Trịnh Hòa: Trung Quốc và đại dương đầu nhà Minh, 1405–1433 (Hoa Kỳ: Pearson Longman, 2007), 7.

[6] Sách đã dẫn, 37

[7] Sách đã dân., 37–38

[8] Chou Ta-kuan (Zhou Daguan), Phong tục của Campuchia (Bangkok: Siam Society, 1987, 1992, 1993); and Zhou Daguan, Ghi chép về Campuchia: Đất nước và con người, bản dịch. Peter Harris (Bangkok: Silkworm Books, 2007). Tiêu đề cuốn sách Trung Quốc của Zhou là “Zhenla fengtuji”真臘風土記.

[9] Dreyer, Zheng He, 182.

[10] Sách đã dẫn., 175

[11] Sách đã dẫn, 28–29 và một số khác.

[12] Lịch sử nhà Minh 304.2b-4b, được dịch bởi Dreyer, Zheng He, 187–88. Tiếng Trung giản thể viết là: “以次遍历诸番国不服则以武慑之.” Để biết thêm về tiểu sử Trịnh Hòa trong lịch sử nhà Minh, xem tại www.guoxue.com/shibu/24shi/mingshi/ms_304.htm

[13] Dreyer, Zheng He, 46.

[14] Sách đã dẫn., 175.

[15] Sách đã dẫn.

[16] . Bài phát biểu của chủ tịch Hồ Cẩm Đào tại Quốc hội Úc, xem Australian Parliament House of Representatives, “Address by the President of the People’s Republic of China,” 23/10/ 2003, 166–71, www.aph.gov.au/binaries/library/pubs/monographs/kendall/appendone.pdf. Nội dung trích từ 166.

[17] Dreyer, Zheng He.

[18] Về thương mại giữa người bắc Úc và người Macassans, xem tại “Macassan Traders,” Australia: The Land Where Time Began, September 30, 2011, http://austhrutime.com/macassan_traders.htm; Rupert Gerritsen, “When Did the Macassans Start Coming to Northern Australia?,” http://rupertgerritsen.tripod.com/pdf/published/Djulirri_Rock_Art.pdf; and Marshall Clark and Sally K. May (eds.), Macassan History and Heritage: Journeys, Encounters and Influences (Canberra: ANU E Press, 2013), introduction,http://epress.anu.edu.au/apps/bookworm/view/Macassan+History+and+Heritage/10541/ch01.xhtml#toc_marker-4.

[19] Kate Humphris, “Macassan History in Arnhem Land,” 105.7 ABC Darwin, 29/7, 2009,www.abc.net.au/local/stories/2009/07/21/2632428.htm.

[20] Erik Franckx and Marco Benatar, “Dots and Lines in the South China Sea: Insights from the Law of Map Evidence,” Tạp chí Luật quốc tế Châu Ấ 2(2012): 90–91. 

[21] Zhiguo Gao and Bing Bing Jia, “The Nine-Dash Line in the South China Sea: History, Status, and Implications,” Tạp chí Luật quốc tế Mỹ 107 (2013): 102–03

[22] Diaoyu Dao, an Inherent Territory of China,” Phần I.1. Xem nội dung bằng tiếng Trung tại athttp://zh.wikisource.org/wiki/%E4%B8%A4%E7%A7%8D%E6%B5%B7%E9%81%93%E9%92%88%E7%BB%8F.

[23] “Đảo Điếu Ngư,” Phần I.1

[24] Dreyer, Zheng He, 175.

[25] See the 1603 account by Chen Di陳第, “An Account of Eastern Barbarians” (Dongfan ji東番記), dịch: Lawrence G. Thompson, “The Earliest Chinese Eyewitness Accounts of the Formosan Aborigines,” Monumenta Serica, no. 23 (1963): 172–78.

[26] Tonio Andrade, How Taiwan Became Chinese: Dutch, Spanish, and Han Colonialization in the Seventeenth Century (New York: Columbia University Press, 2008), 83. Xem nguồn tương tự tại  J. Bruce Jacobs, “Review Essay: The History of Taiwan,” China Journal, no. 65 (January 2011): 196–97.

[27] Laurence G. Thompson, “The Earliest Chinese Eyewitness Accounts of the Formosan Aborigines,” Monumenta Serica, no. 23 (1964): 163.

[28] “Tư liệu: Nỗ lực của người dân trên đảo Lưu Cầu phản đối Mỹ chiếm đóng” 資料: 琉球群島人民反對美國佔領的鬥爭” [Tham khảo: The Struggle of the Ryukyu Archipelago People Against American Occupation], Nhân Dân Nhật báo 人民日報 [People’s Daily], 8/1/1953, 4. 

[29] Sách đã dẫn.

[30] Bản đồ thế giới ( 世界地图集 )[World Atlas] (Beijing and Shanghai: Ditu chubanshe, 1958).

[31] Ko-hua Yap, Yu-wen Chen, and Ching-chi Huang, “The Diaoyutai Islands on Taiwan’s Official Maps: Pre- and Post-1971,” Asian Affairs: An American Review 39, no. 2 (2012): 90–105

[32] “Diaoyu Dao,” Section IV. For the text of the Treaty of Shimonoseki, xem thêm tại www.taiwandocuments.org/shimonoseki01.htm. Xem thêm về Hiệp ước Hòa bình San Francisco tại www.taiwandocuments.org/sanfrancisco01.htm. Hiệp ước Taipei (1952), Hiệp ước hòa bình giữa Trung Hoa Dân Quốc dưới thời Tưởng Giới Thách và Nhật cũng không đề cập đến đảo. Xem thêm chi tiết về Hiệp ước Taipei tại  www.taiwandocuments.org/taipei01.htm.

[33] “Đảo Điếu Ngư,” Phần IV.

[34] Tài liệu thống kê về Đài Loan 51 năm trở lại đây 臺灣省五十一年來統計提要 [Statistical Abstract of Taiwan Province for the Past Fifty-One Years] (Taipei: Statistical Office of the Taiwan Provincial Administration Agency, 1946; reprint, Taipei: Guting Shuwu, 1969).

[35] Sách đã dẫn., 52.

[36] Sách đã dẫn., 51, 54.

[37] “Commentary Gives China’s Reasons for Refusing Arbitration on South China Sea Issue,” Tân Hoa xã ngày 1/4, 2014, http://english.people.com.cn/90883/8584641.html orhttp://news.xinhuanet.com/english/china/2014-04/01/c_133228152.htm

[38]Đảo Điếu Ngư.”

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập (A2/AD) là chiến lược biển được xây dựng nhằm ngăn không cho lực lượng hải quân đối phương tự do di chuyển trong một không gian chiến đấu. Bài viết sẽ phân tích những thuận lợi và khó khăn khi Trung Quốc thực hiện A2/AD tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông


Trung Quốc sẽ được gì và mất gì khi thiết lập một ADIZ ở Biển Đông? Những dự báo của giới quan sát về khả năng thành công của một ADIZ trong khu vực này.

 

Đọc tiếp...

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Một số nhà quan sát cho rằng hành động đáp trả của Mỹ mang tính tự phát, không đủ mạnh và còn khiến Bắc Kinh bạo trợn hơn. Trong thời gian vài tuần đầu, những cáo buộc như vậy bị cho là quá vội vàng, song cũng bộc lộ sự yếu kém cố hữu trong cách tiếp cận của Mỹ đối với vấn đề an ninh biển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Đọc tiếp...

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Trong khi thế giới chiến đấu với COVID-19, Trung Quốc đang tiến gần hơn tới việc thiết lập sự thống trị trong khu vực.

Đọc tiếp...

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

 

Bắc Kinh đang từng bước tiến đến mục tiêu buộc cộng quốc tế chấp thuận các tuyên bố chủ quyền của nước này đối với Biển Đông. Cứ mỗi thập kỷ trôi qua, Bắc Kinh lại đạt được một bước tiến mới trong nghị trình của mình.

Đọc tiếp...

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Bài báo cáo định lượng những ảnh hưởng đến môi trường từ các hành vi bồi đắp đảo trên Biển Đông, kết quả từ việc nạo vét và có thể tác động tiêu cực đến hệ động vật, thực vật biển và hệ sinh thái biển. Mức độ thiệt hại gây ra bởi việc xây dựng đảo được cho là trầm trọng vì các rạn san hô ở Biển Đông tập trung đa dạng sinh học biển lớn nhất trên Trái Đất.

Đọc tiếp...

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Để chứng minh cho cái gọi là chủ quyền “mang tính lịch sử”, giới học giả Trung Quốc đã nỗ lực lập luận, đưa ra những bằng chứng lịch sử. Tuy nhiên, các bằng chứng mà họ đưa ra rất mập mờ, không có bất cứ tham chiếu nào về vị trí trích dẫn chính xác, thậm chí còn cố tình sửa đổi ngôn từ gốc.

Đọc tiếp...

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

Bằng lập luận xuyên tác, vô căn cứ, Trung Quốc đã, đang và sẽ thực hiện hình thức “tuyên truyền đen” để bôi nhọ những hoạt động phù hợp với luật pháp quốc tế của các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Kể từ cuối những năm 1980, khi Biển Đông nổi lên là một vấn đề an ninh nghiêm trọng, Malaysia đã nhất quán tuân theo một chính sách và chỉ có những điều chỉnh nhỏ nhằm bảo vệ chủ quyền và các quyền chủ quyền của quốc gia này, duy trì luật pháp quốc tế cùng với thúc đẩy hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Tương tự như các căn cứ quân sự ở Đại lục, các tiền đồn của Trung Quốc tại Biển Đông được tích hợp vào một hệ thống các hệ thống lực lượng chung lớn hơn nhằm hỗ trợ các chiến lược đang hình thành của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Vụ xâm nhập tháng 12/2019 đánh dấu các diễn biến mới trong vấn đề quần đảo Natuna. Bắc Kinh đã thay đổi lập trường và hiện tuyên bố quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan gần quần đảo Trường Sa. Đây không còn là vấn đề “ngư trường truyền thống”.

Đọc tiếp...

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và tham vọng tại Đông Nam Á tiếp tục được xem xét kỹ lưỡng giữa các xu hướng rộng lớn hơn, bao gồm việc cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, các cuộc thảo luận ngày một tăng về kiến trúc khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương và nỗ lực không ngừng của các quốc gia Đông Nam Á và Bắc Kinh nhằm hướng tới một bộ quy tắc ứng xử ràng buộc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Chừng nào sức mạnh của Trung Quốc vẫn đang phát triển, ngay cả khi nước này tiếp tục hạn chế sử dụng sức mạnh, quân đội Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường bố trí lực lượng và hiện diện quân sự, tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” khiến Biển Đông trở thành “chiến trường”. Trong tương lai, lực lượng quân đội Mỹ sẽ không ngừng tập trung ở Biển Đông, gia tăng cường độ hành động hơn nữa.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Bầu không khí của chuyến thăm thứ 5 của Duterte đến Trung Quốc đã trở nên u ám sau các hành động của Trung Quốc như phái hàng trăm tàu cá đến đảo Thị Tứ và đâm chìm một tàu cá Philippines gần bãi Cỏ Rong trong nửa đầu năm 2019.

Đọc tiếp...

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng "họng súng" và "vỏ bọc hòa bình"

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng

"Người dân Trung Quốc đã học được giá trị của hòa bình"..."Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ cuộc chiến tranh hay xung đột nào" hay "Trung Quốc luôn đi đầu trong việc hướng tới hòa bình và ổn định khu vực"... Đây là những "Khẩu hiệu" mà Trung Quốc thường rêu rao để đánh bóng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc làm hoàn toàn trái ngược với điều đó.

Đọc tiếp...

"Hàng xóm bắt nạt": Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phản tác dụng

Mọi hành động đều có phản ứng khác nhau; các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như các quốc gia có lợi ích ở khu vực này chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Trên thực tế, Bắc Kinh đang “mời gọi" các nước chống lại họ, và điều này không mang lại lợi ích cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Mỹ và đồng minh phải sử dụng sức mạnh của họ trên mọi lĩnh vực quân sự và phi quân sự. Theo đó, các hoạt động hộ tống bảo vệ hàng hải sẽ đi kèm với các nỗ lực đồng thời nhằm giúp các chính phủ và nền kinh tế ở Đông Nam Á vững vàng hơn trước ảnh hưởng xấu của Trung Quốc, cũng như việc phát triển và triển khai các lực lượng chiến đấu tinh nhuệ với nhiệm vụ ngăn chặn hành vi gây hấn quy mô lớn của Trung Quốc

Đọc tiếp...

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển sầm uất nhất trên thế giới, không chỉ đáng báo động mà còn nhiều khả năng biến thành một cuộc chiến tranh thực sự. Nếu điều đó xảy ra, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á sẽ tiêu tan.

Đọc tiếp...

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Vụ việc ở Bãi Tư Chính là một phần trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp ở Biển Đông của các quốc gia ven biển và hợp tác giữa họ với các nước ngoài khu vực. Những hành động này có thể mang lại lợi ích trước mắt cho Trung Quốc, nhưng về lâu dài sẽ dẫn đến bất lợi cho quốc gia này.

Đọc tiếp...

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines đã đúng khi mong muốn có mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này mong muốn mở cửa để phát triển kinh tế hơn nữa. Manila cũng phải nhớ rằng hòa bình và thịnh vượng lâu dài phụ thuộc vào quyền tự do và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nước có chủ quyền, cũng như trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc. Trong lời nói và hành động, Philippines cần phải giữ vững lập trường để bảo vệ những nguyên tắc quan trọng này.

 

Đọc tiếp...

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Tính tới giờ, việc Trung Quốc tiến hành quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông được cho là động thái ở mức cao nhất của nước này đối với các vấn đề ở khu vực. Thực chất hành động cũng như mục đích đằng sau của Trung Quốc đe dọa tới không chỉ các nước trong khu vực mà còn tới cả nước lớn như Mỹ.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 3294 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin