21 - 5 - 2013 | 3:29
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI M. Taylor Fravel, Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

M. Taylor Fravel, Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Email In PDF.

Trì hoãn là chiến lược mà Trung Quốc đã sử dụng đối với Biển Đông từ giữa những năm 90 đến nay. Bài viết sẽ đi sâu phân tích vì sao Trung Quốc lại sử dụng chiến lược này và một số kết quả mà Trung Quốc đạt được cũng như tác động như thế nào đối với khu vực

 

Bài viết phân tích cách ứng xử của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông thông qua lăng kính chiến lược của Trung Quốc quản lý các tuyên bố chủ quyền. Từ giữa những năm 1990, Trung Quốc đã theo đuổi chính sách trì hoãn giải pháp cho tranh chấp. Mục tiêu của chiến lược này là củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt là các tuyên bố về chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán đối với các vùng nước này, và răn đe các nước khác củng cố tuyên bố chủ quyền của họ mà gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc, bao gồm các dự án phát triển nguồn tài nguyên mà Trung Quốc không được tham gia. Kể từ giữa những năm 2000, mức độ các nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và răn đe các bên tuyên bố chủ quyền khác đã tăng lên thông qua các biện pháp về ngoại giao, hành chính và quân sự. Mặc dù chiến lược của Trung Quốc là tìm cách củng cố các tuyên bố chủ quyền của mình, nhưng Trung Quốc cũng đe dọa các quốc gia yếu hơn trong tranh chấp và theo đó Trung Quốc đang làm bất ổn định khu vực. Kết quả là, chiến lược trì hoãn bao gồm các nỗ lực ngăn cản leo thang căng thẳng tuy nhiên trong khi đó Trung Quốc vẫn tiếp tục tìm cách củng cố chủ quyền của mình.

Trong những năm gần đây, không một tranh chấp vùng biển nào gây ra sự chú ý nhiều hơn tranh chấp về đảo, đá ngầm và các vùng nước tại Biển Đông. Tranh chấp bao gồm các tuyên bố chồng chéo của sáu chính phủ đối với chủ quyền lãnh thổ và các quyền chủ quyền các vùng biển, bao gồm các tuyến đường biển chính kết nối từ Đông Nam Á với Đông Bắc Á, bao gồm các khu vực đánh bắt cá rộng lớn và có thể chứa đựng lượng dự trữ dầu và khí ga lớn. Trong tranh chấp Biển Đông không một quốc gia nào gây ra sự chú ý nhiều hơn nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) do tuyên bố chủ quyền một vùng rộng lớn, trong quá khứ đã sử dụng vũ lực để đánh chiếm các đảo và vùng nước và năng lực hải quân ngày càng mạnh lên.

Bài viết này phân tích cách ứng xử của Trung Quốc trong tranh chấp tại Biển Đông thông qua lăng kính chiến lược của Trung Quốc quản lý các tuyên bố chủ quyền. Từ giữa những năm 1990, Trung Quốc đã theo đuổi chính sách trì hoãn giải pháp cho tranh chấp. Mục tiêu của chiến lược này là củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt là các tuyên bố về chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán đối với các vùng biển này, và răn đe các nước khác củng cố tuyên bố chủ quyền của họ gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc, bao gồm các dự án phát triển nguồn tài nguyên mà Trung Quốc không được tham gia. Kể từ giữa những năm 2000, mức độ các nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền và răn đe các nước khác đã tăng nhanh thông qua các biện pháp ngoại giao, hành chính và quân sự. Mặc dù chiến lược của Trung Quốc là nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền của mình nhưng Trung Quốc cũng tìm cách đe dọa các nước yếu hơn trong tranh chấp và như vậy đã đang tạo ra sự bất ổn tại khu vực. Đây à kết quả là chiến lược trì hoãn bao gồm các nỗ lực ngăn chặn leo thang căng thẳng giữa các bên tuyên bố chủ quyền.

Bài viết được trình bày như sau. Các tuyên bố chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc tại Biển Đông, mà xác định các mục tiêu và bối cảnh cho chiến lược của Trung Quốc, được phân tích trong phần tiếp theo. Tiếp theo, bài viết miêu tả việc sử dụng chiến lược trì hoãn từ những năm 1949 và hai giai đoạn Trung Quốc sử dụng vũ lực là vào năm 1974 tại Nhóm đảo Lưỡi liềm (Cresent Group) tại quần đảo Hoàng Sa và vào năm 1988 đối với dải đá ngầm Johnson (Johnson Reef) tại quần đảo Trường Sa. Hai phần tiếp theo này phân tích các hợp phần quân sự, hành chính và ngoại giao trong chiến lược trì hoãn của Trung Quốc và các nỗ lực quản lý căng thẳng kể từ mùa hè năm 2011. Cuối cùng, bài viết phân tích các tác động đối với hợp tác và xung đột trong tranh chấp.

Các tuyên bố chủ quyền và Lợi ích tại Biển Đông của Trung Quốc

Đối với Biển Đông, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh thổ đối với hai nhóm đảo và các quyền chủ quyền các vùng biển đối với các vùng nước liên quan. Cơ sở hiện nay cho tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là bài phát biểu của Thủ tướng Chu Ân Lai vào tháng 8 năm 1951 trong các cuộc đàm phán ký hòa ước của Đồng minh với Nhật Bản. Trong bài phát biểu này, Chu Ân Lai đã tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa[1]. Tháng 9 năm 1958, Trung Quốc tái khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với các đảo này khi Trung Quốc khẳng định quyền chủ quyền đối với các vùng nước trong thời gian khủng hoản Kim Môn. Tuyên bố năm 1958 đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc gắn tuyên bố chủ quyền lãnh thổ với đòi hỏi quyền chủ quyền các vùng biển, trong trường hợp này, quyền chủ quyền với các vùng lãnh hải. Từ giữa những năm 1970 cho đến nay, các phát biểu chính thức của chính phủ đã được sử dụng chủ yếu là cùng một ngôn ngữ để thể hiện tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Tuyên bố thường được diễn đạt: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa (hay là các đảo ở Biển Đông) và các vùng nước liền kề.”

Khi thể chế luật pháp quốc tế về vùng biển đã phát triển, Trung Quốc bắt đầu pháp điển hóa các tuyên bố chủ quyền của mình đối với các quyền chủ quyền các vùng biển thông qua việc đưa ra nội luật của mình.  Các luật này hòa hợp hệ thống pháp luật của Trung Quốc với các yêu cầu của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Năm 1992, Quốc hội (NPC) thông qua Luật về Lãnh Hải Vùng Tiếp giáp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó tái khẳng định nội dung của tuyên bố 1958 nhưng ngôn ngữ thì cụ thể hơn. Tiếp sau luật này, Trung Quốc thông qua đường cơ sở cho các vùng nước của mình vào năm 1966. Năm 1998, Quốc hội Trung Quốc thông qua luật về Vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó Trung Quốc tuyên bố thêm quyền các vùng biển nhiều hơn  được ghi trong luật năm 1992.[2] Luật vùng đặc quyền kinh tế không đề cập đến quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa, nhưng khi kết hợp với luật lãnh hải năm 1992, nó cung cấp cơ sở cho tuyên bố các quyền chủ quyền các vùng biển tại Biển Đông. Tháng 4 năm 2011, Trung Quốc  xác nhận việc diễn dịch luật này trong công hàm gửi đến Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Giới hạn thềm lục địa (CLCS) nói rằng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa hoàn toàn “có quyền” tạo ra vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa[3].

Phạm vi của các tuyên bố của Trung Quốc là các quyền chủ quyền chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán, tuy nhiên, vẫn còn nhiều mập mờ. Trước tiên, nhiều trong số các vùng đất Trung Quốc tuyên bố chủ quyền không đáp ứng được yêu cầu là đảo theo như điều 121(3) của UNCLOS và theo đó không thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế. Trung Quốc có lẽ có thể tuyên bố phần lớn các đảo của Quần đảo Trường Sa cũng như là đảo Phú Lâm của Hoàng Sa và đảo Ba Bình (hiện đang bị Đài Loan chiếm đóng)[4]. Các tuyên bố chủ quyền như vậy, tuy nhiên, chỉ cho thấy thái độ mở rộng tối đa với lãnh thổ, trong khi UNCLOS yêu cầu các quốc gia giải quyết tranh chấp khi các tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn.

Điều mập mờ thứ hai liên quan đến câu hỏi chủ quyền lịch sử mà Trung Quốc có thể tuyên bố tại Biển Đông. Điều 14 của luật vùng đặc quyền kinh tế năm 1998 của Trung Quốc  quy định “luật biển sẽ không ảnh hưởng đến các quyền lịch sử mà Cộng hòa Nhân đân Trung hoa có”. Mặc dù một số nhà nghiên cứu chính sách đã gợi ý rằng Biển Đông là vùng nước lịch sử, luật năm 1998 không xác định nội dung hay phạm vi của chủ quyền lịch sử này[5]. Hơn thế nữa, không có luật nào của Trung Quốc miêu tả những cái quyền này có thể bao gồm[6].

“Đường chín đoạn” xuất hiện trên các bản đồ chính thức của Trung Quốc trong khu vực tạo ra sự mơ hồ thứ ba. Đường chín đoạn này ban đầu được vẽ vào những năm 1930, bắt đầu xuất hiện trên bản đồ chính thức của Cộng hòa Trung Hoa (ROC) năm 1947 và đã xuất hiện trên các bản đồ của PRC kể từ năm 1949. Cả ROC và PRC đều đã không từng định nghĩa dạng tuyên bố chủ quyền nào đường chín đoạn này thể hiện. Đến ngày nay, đường chín đoạn vẫn không được xác định. Ví dụ, mặc dù Trung Quốc đã bao gồm một bản đồ đường chín đoạn trong công hàm gửi CLCS vào tháng 5 năm 2009, Trung Quốc chưa bao giờ định nghĩa đường này hay tuyên bố các chủ quyền lịch sử mà một số học giả đã thảo luận là đường chín đoạn ám chỉ[7].

Nếu các tuyên bố chính thức và luật của Trung Quốc được xác định giá trị, thì chỉ có một cách giải thích về đường này có thể được: đường miêu tả tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc với các đảo và các vùng khác nằm trong đường này, có thể kể tên như là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Khi Trung Quốc công bố đường cơ sở vào nằm 1996, Trung Quốc vẽ đường cơ sở xung quanh quần đảo Hoàng Sa nhưng không vẽ tại quần đảo Trường Sa. Đạo luật này cho thấy Trung Quốc có ý định sẽ tiếp tục tuyên bố chủ quyền của mình đối với các quyền các vùng biển (chứ không phải là chủ quyền với các đảo) tại Biển Đông thông qua UNCLOS, theo như cam kết của Qichen năm 1995[8]. Nếu như đường chín đoạn đại diện cho bất cứ điều gì khác với tuyên bố chủ quyền cho các đảo kèm theo từ đó Trung Quốc tuyên bố các quyền vùng biển, sau đó Trung Quốc sẽ không cần thiết phải tuyên bố các vùng lãnh hải vào năm 1958 hay vẽ đường cơ sở xung quanh quần đảo Hoàng Sa đã nằm trong đường chín đoạn. Như Daniel Dzurek đã quan sát, việc phân định đường cơ sở xung quanh Hoàng Sa là “không nhất quán về mặt lô gic” với tuyên bố chủ quyền các vùng nước hay các cách giải thích khác của đường chín đoạn này[9].

Sự không sẵn lòng hay không có khả năng của chính quyền Trung Quốc trong việc định nghĩa đường chín đoạn, tuy nhiên, tạo ra khoảng trống cho nhiều các diễn viên đề xuất các cách diễn dịch cạnh tranh khác nhau về đường này[10]. Cục quản lý Đánh bắt cá Khu vực Biển Đông (SSRFAB), ví dụ, miêu tả các hoạt động của mình là nhằm bảo vệ các ngư dân Trung Quốc khi họ hoạt động trong “đường biên giới truyền thống”[11]. Báo chính thức của Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA), tờ Jiefangjun Bao, đôi khi đề cập đến “đường biên giới lãnh hải truyền thống” tại Biển Đông[12]. Từ những năm 1980, có nhiều chủ thể liên quan đến vùng biển như Hải quân Giải phóng Nhân dân (PLAN) và Lực lượng Hải giám thuộc Cơ quan quản lý Biển, đều cử tầu đến bãi đá Johnson, một vùng đá chìm dưới nước được cho như là vùng đầu phía Nam tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại biển Đông. Trên thực tế, các quốc gia theo như UNLCOS không thể tuyên bố chủ quyền đối với các vùng chìm dưới không gắn kết với đất liền. Tuy nhiên, tính biểu tượng của hành động này là nhất quán với cách diễn dịch rộng về “đường chín đoạn”.

Trung Quốc theo đuổi nhiều lợi ích thông qua các tuyên bố đối với chủ quyền lãnh thổ và quyền chủ quyền các vùng biển tại Biển Đông. Như chỉ huy trưởng của PLAN Đô đốc Liu Huaqing (Lưu Hoa Thanh) đã nhận xét, “bất cứ ai kiểm soát quần đảo Trường Sa sẽ thu được lợi ích to lớn về kinh tế và quân sự”[13]. Về mặt kinh tế, tài phán đối với các vùng nước này sẽ cho phép Trung Quốc quyền tiếp cận đối với các nguồn tài nguyên biển trên Biển Đông, đặc biệt là nguồn khí hydrocarbons và cá. Các nguồn số liệu từ Trung Quốc cho biết có khoảng 105 tỉ thùng dự trữ khí hydrocarbon quanh khu vực quần đảo Trường Sa. Trong khi đó Biển Đông đóng góp một số lượng lớn lượng cá đánh bắt hàng năm của Trung Quốc[14].  Phần lớn thương mại của Trung Quốc cũng được đưa qua vùng biển này, bao gồm 80% nhập khẩu dầu của Trung Quốc[15]. Về mặt quân sự, Biển Đông tạo nên vùng biển đệm cho các tỉnh phía Nam Trung Quốc và sẽ là sân chơi quyết định cho các hoạt động trong một cuộc xung đột về vấn đề Đài Loan với Mỹ. Bất cứ nỗ lực nào nhằm phong tỏa Trung Quốc trong thời chiến cũng sẽ xảy ra tại các vùng nước này.

Liệu cách Trung Quốc gọi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” có tương ứng với Tây Tạng hay Đài Loan hay không đã thu hút nhiều sự chú ý vào năm 2010. Tờ New York Times báo cáo vào tháng 4 năm 2010 rằng Trung Quốc đã miêu tả Biển Đông như là “lợi ích cốt lõi”[16] . Mặc dù vấn đề này đã được thảo luận nhiều trong các cuộc họp riêng giữa các quan chức của Mỹ và Trung Quốc, không một nhà lãnh đạo cao cấp nào của Trung Quốc đã từng công khai nói rằng Biển Đông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, không giống như Tây Tạng hay Đài Loan[17]. Ngoại lệ duy nhất dường như là xuất hiện một bài báo tiếng Anh đăng trên Hãng tin Tân hoa xã vào tháng 8 năm 2011[18]. Bài viết miêu tả chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo tại Biển Đông và các vùng nước lãnh hải như là “một phần lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”, nhưng không phải là chỉ riêng bản thân Biển Đông.

Liệu các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc có chỗ cho đàm phán? Theo quan điểm của tác giả thì câu trả lời là có. Khi Trung Quốc công bố các đường cơ sở vào năm 1996, Trung Quốc không vẽ đường cơ sở xung quanh bất cứ đảo nào của quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cũng không vẽ đường cơ sở xung quanh các vùng tranh chấp, bao gồm Đảo Điếu Ngư và Đài Loan. Điều này cho thấy sự công nhận tranh chấp và khả năng Trung Quốc có thể thỏa hiệp trong một số bối cảnh trong tương lai. Trung Quốc, do đó, “không trói tay” hay “đốt cầu” bằng cách công bố các đường cơ sở xung quanh các vùng hay khu vực đàm phán có thể cần đàm phán. Nói chung, Trung Quốc cũng đã thỏa hiệp trong các tranh chấp lãnh thổ khác và trong phân định biên giới vùng biển với Việt Nam tại Vịnh Bắc Bộ.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

M. Taylor Fravel

Thái Giang (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính

Bản gốc tiếng Anh “China’s Strategy in the South China Sea” đăng trên Contemporary Southeast Asia, Vol. 33, No. 3 (2011).



[1] Zhou Enlai Waijiao Wenxuan (Zhou Enlai’s Selected Works on Diplomacy) (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 1990), p.40.

[2] Bản sao của các tài liệu này, xem Guojia haiyangju zhengce fagui bangongshi (State Oceanographic Adiministration Office ò Policy, Law, and Regulation), ed., Zhonghua Renmin Gongheguo Haiyang Fagui Xuanbian (Tuyển tập luật biển và các quy định của PRC) (Beijing: Haiyang chubanshe, 2001), pp.1-14.

[3] Công hàm của Trung Quốc gửi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, ngày 14/4/2011, (http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submission_files/vnm37_09/chn_2001_re_phl_e.pdf)

[4] These are Taiping (Taiwan), Thitu (Philippines), West  York (Philippines), Spratly (Vietnam) and   Northeast Cay  (Philippines).

[5] For  an  examination  of  these  Chinese  views,  see  Peter  Dutton,  “Through  a Chinese  Lens”,   Proceedings 136,  no.  4  (April 2010):  24–29.


[6] Based   on  a  full-text  search  of  database.


[7] Zou Keyuan, “The  Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Boundary Delimitation in  the   Gulf  of  Tonkin”,  Ocean  Development and   International Law  36,  no.  1 (2005):  74.


[8] “Qian  Qichen explains China’s   ‘clear-cut’ position  on  Spratlys  issue,” Xinhua

News   Agency,   1  August 1995.


[9] Daniel Dzurek, “The  People’s Republic of China Straight Baseline Claims”, IBRU Boundary and   Security Bulletin 4,  no.  2  (Summer 1996):  85.


[10] In  a  recent   book,  one   prominent  Chinese analyst  describes  four   different interpretations of the line, including maritime sovereignty, historic waters, historic rights, and  sovereignty over  land features. See  Wu  Shicun, Nansha Zhengduan de  Qiyuan  yu  Fazhan [The  Origins and   Development of  the  Spratlys  Dispute] (Beijing:  Zhongguo jingji  chubanshe, 2010),  pp.   32–39.


[11] “Malaixiya wuli zhuakou wo yi GangAo  liudong yuchuan [Malaysia’s unjustifiable seizure of  a  fishing boat   from   Hong  Kong  and   Macau]”, Nongyebu Nanhaiqu yuzhengju, 30  August  2006,  1459_2006_08_30_1916.html>.


[12] “Haijun diqipi  huhang   biandui  jiaru   zuguo  chuantong  haijiang  xian   [The Navy’s  Seventh Escort  Task  Force  Enters  the  Motherland’s Traditional  Maritime Boundary]”, Jiefangjun  Bao,  3  May  2011,  p.  4


[13] Liu  Huaqing, Liu  Huaqing Huiyilu [Liu  Huaqing’s Memoirs]  (Beijing:  Jiefangjun chubanshe,  2004),  p.  538.


[14] Bernard  D.  Cole,   The   Great  Wall   At   Sea:  China’s  Navy   in  the  Twenty-First Century, 2nd   ed.  (Annapolis: Naval   Institute Press,   2010),  p.  49.


[15] Michael  Lelyveld,  “Mideast  oil  drives  China  disputes”,  Radio  Free   Asia,18  July  2011.


[16] Edward  Wong,   “Chinese military seeks   to  extend its  naval  power”, New   York

Times, 24  April 2010.

[17] Michael D. Swaine, “China’s Assertive Behavior—Part One:  On  ‘Core  Interests’”,China   Leadership  Monitor, no.  34  (Winter 2011).

[18] “China-Philippines  cooperation  depends  on  proper  settlement  of  maritime disputes”,  Xinhua News   Agency,   31  August 2011.



Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Mỹ và “Bài toán” Biển Đông

Mỹ và “Bài toán” Biển Đông

Mỹ phải đưa ra những sự lựa chọn khó khăn và thực hiện các nỗ lực cần thiết để có thể duy trì hòa bình tại Biển Đông trong năm 2013 và trong những năm kế tiếp.

Đọc tiếp...

Chiến thuật "không đánh mà thắng" của Trung Quốc ở Biển Đông

Chiến thuật

Trong một mặt trận không tiếng súng, Trung Quốc sẽ cố gắng để giành chiến thắng bằng các chiến thuật như chia rẽ các thành viên ASEAN, áp dụng đòn bẩy kinh tế, củng cố yêu sách pháp lý bằng cách triển khai tàu đánh cá, tàu nghiên cứu, tàu du lịch và các tàu hải giám

Đọc tiếp...

Thuần phục Ngũ long: Trung Quốc thống nhất các lực lượng chấp pháp

Thuần phục Ngũ long: Trung Quốc thống nhất các lực lượng chấp pháp

Giới lãnh đạo mới của Trung Quốc gần đây tuyên bố ý định tái cơ cấu các cơ quan chấp pháp trên biển thành một cơ quan quản lý thống nhất. Kế hoạch tái cơ cấu này cho thấy Trung Quốc có ý định hình thành một cơ quan bảo vệ bờ biển thống nhất nhằm hạn chế tình trạng thiếu phối hợp hiện nay giữa các cơ quan chấp pháp trên Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Đọc tiếp...

(SÁCH) Biển Đông: Hướng tới một Khu vực Hòa bình, An ninh và Hợp tác

(SÁCH) Biển Đông: Hướng tới một Khu vực Hòa bình, An ninh và Hợp tác

Cuốn sách này tập hợp các tham luận của các học giả quốc tế trong và ngoài nước tham gia tại Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ 2 về Biển Đông với chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực” do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh từ 10-12/11/2010

Đọc tiếp...

Philippines kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài quốc tế

Philippines kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài quốc tế

Ngày 22/1, Bộ trưởng Ngoại giao Philippines tuyên bố Philippines đã nộp đơn khiếu nại về các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông lên một tòa án trọng tài của Liên Hiệp Quốc.

Đọc tiếp...

Thông báo và Tuyên bố Khởi kiện Trung Quốc của Philippines tại Biển Đông

Thông báo và Tuyên bố Khởi kiện Trung Quốc của Philippines tại Biển Đông

Ngày 22-1, Philippines tuyên bố kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài theo Công ước luật biển 1982 nhằm phản đối yêu sách Đường lưỡi bò và việc Trung Quốc xâm phạm các vùng biển của Philippines tại Biển Đông. Dưới đây là toàn văn “Thông báo và Tuyên bố Khởi kiện” của Philippines kiện Trung Quốc theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982.

Đọc tiếp...

Biển Đông: “Hồ nước của Bắc Kinh?”

Biển Đông: “Hồ nước của Bắc Kinh?”

Liệu Trung Quốc thực sự có ý định biến Biển Đông và các vùng biển khác trở thành "hồ nước của Bắc Kinh" không? Liệu nước này có sở hữu đủ sức mạnh về hải quân và quân đội để trở thành chủ nhân của những vùng biển bên trong đó không? Và khi đã đạt được sức mạnh như trên, Bắc Kinh sẽ sử dụng nó vào mục đích gì?

Đọc tiếp...

Trung Quốc đang tiếp tục khuấy động biển cả?

Trung Quốc đang tiếp tục khuấy động biển cả?

Sau khi có các động thái như thành lập thành phố “Tam Sa”, thông qua quy định hàng hải mới của tỉnh Hải Nam, và cho in bản đồ lên các tấm hộ chiếu, các nhà chức trách của Trung Quốc vừa công khai một kế hoạch khảo sát nguồn tài nguyên hàng hải tại tất cả các vùng biển, đảo. 

Đọc tiếp...

Xoa dịu căng thẳng ở Biển Đông

Xoa dịu căng thẳng ở Biển Đông

Khi Đông Á và Đông Nam Á bước vào giai đoạn bất ổn bắt nguồn từ những tranh chấp lãnh thổ leo thang, đòi hỏi cấp bách hiện nay là tất cả các bên tranh chấp cần kiềm chế để căng thẳng không vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Đồng thời, có những bài học cần phải rút kinh nghiệm ngay.

Đọc tiếp...

Hộ chiếu hay là sự công nhận – Khi Việt Nam và Ấn Độ không thừa nhận yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc

Hộ chiếu hay là sự công nhận – Khi Việt Nam và Ấn Độ không thừa nhận yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc

Việc Trung Quốc in bản đồ chữ U lên hộ chiếu của nước này đang gây ra những phản ứng mạnh mẽ từ các quốc gia liên quan. Bài viết phân tích khía cạnh mới của vụ tranh chấp từ quan điểm của luật quốc tế, cụ thể là việc Việt Nam và Ấn Độ từ chối đóng dấu lên các hộ chiếu mới của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc đang khuấy động Biển Đông

Trung Quốc đang khuấy động Biển Đông

Bắc Kinh ngày càng cứng rắn trong các tranh chấp lãnh thổ, khiến những hy vọng ban đầu về chuyển giao quyền lực tại Trung Quốc sẽ làm giảm căng thẳng trên Biển Đông dần biến mất.

Đọc tiếp...

Vùng nước dữ: Chính sách của Mỹ ở Biển Đông

Vùng nước dữ: Chính sách của Mỹ ở Biển Đông

Trung Quốc thường có xu hướng tận dụng lợi thế về sự khác biệt sức mạnh để gây sức ép với các nước láng giềng nhỏ hơn. Mỹ cần phải chống lại chính sách này của Trung Quốc bằng những chính sách “phần thưởng” cho các hành động tích cực và nâng cao “giá phải trả” cho các hành động tiêu cực.

Đọc tiếp...

Đẩy lùi nguy cơ xung đột ở Biển Đông

Đẩy lùi nguy cơ xung đột ở Biển Đông

Mặc dù căng thẳng leo thang ở Biển Đông, nhưng xung đột vẫn có thể và cần phải được ngăn ngừa. Bước đầu tiên đó là nhận thức Biển Đông vừa là lợi ích toàn cầu vừa là lãnh thổ chủ quyền. Bằng cách tăng cường hơn nữa đối thoại, xây dựng lòng tin và sự minh bạch, các luật lệ không chính thức trên biển có thể tạo ra không gian hợp tác cho một Trung Quốc đang trỗi dậy và một nước Mỹ hùng mạnh.

Đọc tiếp...

Giải mã lập trường cứng rắn của Trung Quốc ở Biển Đông

Giải mã lập trường cứng rắn của Trung Quốc ở Biển Đông

Trào lưu chủ nghĩa dân tộc dâng cao, cộng với sự mất cân bằng quyền lực ngày càng tăng giữa giới quân đội và ngoại giao trong quá trình hoạch định chính sách an ninh/ đối ngoại đang buộc chính quyền Bắc Kinh phải thiên về xu hướng bảo vệ vững chắc các “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến lược Biển Đông của Trung Quốc và thách thức đối với khu vực

Chiến lược Biển Đông của Trung Quốc và thách thức đối với khu vực

Việc Trung Quốc thực hiện những chiến lược tinh vi, kết hợp khéo léo giữa các lực lượng quân sự và phi quân sự đang gây ra những áp lực lớn cho các quốc gia Đông Nam Á. Mỹ phải có những hành động thiết thực, hiệu quả để trợ giúp trước khi quá muộn.

Đọc tiếp...

Trung Quốc sẽ tiếp tục ‘cứng rắn’ ở Biển Đông sau Đại hội 18?

Trung Quốc sẽ tiếp tục ‘cứng rắn’ ở Biển Đông sau Đại hội 18?

Cách hành xử quyết đoán của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền sẽ còn tiếp tục sau quá trình chuyển giao lãnh đạo tại Đại hội Đảng lần thứ 18 diễn ra vào mùa thu năm nay và Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc vào mùa xuân năm sau.

Đọc tiếp...

Biển Đông và chiến lược hai mặt của Trung Quốc

Biển Đông và chiến lược hai mặt của Trung Quốc

Chính sách Biển Đông của TQ là tăng cường dần dần các yêu sách và quyền tài phán, song song với các nỗ lực trấn an khu vực về ý định hòa bình. Tuy nhiên, những động thái gần đây  cho thấy Bắc Kinh sẽ đi theo vế đầu tiên.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Vũ đài mới của cạnh tranh Trung - Ấn

Biển Đông: Vũ đài mới của cạnh tranh Trung - Ấn

New Delhi vốn thường thích ngồi bên lề và tránh đứng về bên nào, tuy nhiên việc mời thầu quốc tế các lô dầu của Việt Nam đang được Ấn Độ thăm dò, Trung Quốc đã dồn Ấn Độ vào chân tường. Ấn Độ phải hành động, nếu không sẽ bị coi là "sợ hãi" và bị Trung Quốc "bắt nạt".

Đọc tiếp...

Trung Quốc tiến thoái lưỡng nan trên Biển Đông

Trung Quốc tiến thoái lưỡng nan trên Biển Đông

Mục tiêu kiểm soát Biển Đông đặt Trung Quốc vào thế tiến thoái lưỡng nan: Làm sao để khẳng định chủ quyền lịch sử trong khi vẫn duy trì các chính sách không đối đầu với các nước do ông Đặng Tiểu Bình xây dựng năm 1980.

Đọc tiếp...

Biển Đông ơi: Bão nổi lên rồi

Biển Đông ơi: Bão nổi lên rồi

Cho dù bão đang nổi lên tại Biển Đông, nhưng ưu tiên hàng đầu của các bên tranh chấp là tránh một cuộc xung đột vũ trang. ASEAN và Trung Quốc đều có những lý do rõ ràng để tránh một cuộc chiến tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Cửu Long khuấy biển: Thay đổi cách tiếp cận trong thế Tiến thoái lưỡng nan?

Cửu Long khuấy biển: Thay đổi cách tiếp cận trong thế Tiến thoái lưỡng nan?

Thất bại về ngoại giao, chính trị và không thể sử dụng giải pháp quân sự cũng như không thể áp dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng các cơ chế của Liên Hợp Quốc buộc Trung Quốc phải thay đổi cách tiếp cận nhằm hàn gắn hình ảnh và các mối quan hệ.

Đọc tiếp...

Cửu Long khuấy biển: Lý giải nguyên nhân căng thẳng tại Biển Đông

Cửu Long khuấy biển: Lý giải nguyên nhân căng thẳng tại Biển Đông

Nguyên nhân căng thẳng tại Biển Đông: nội bộ Trung Quốc thiếu cơ chế điều phối tập trung từ trung ương, năng lực yếu kém và lợi ích cục bộ của các cơ quan chức năng chấp pháp ở Biển Đông; sự minh bạch trong chính sách của chính quyền trung ương trong vấn đề Biển Đông; chủ nghĩa dân tộc.

Đọc tiếp...

Vai trò của Luật pháp quốc tế trong việc giải quyết và quản lý tranh chấp Biển Đông

Vai trò của Luật pháp quốc tế trong việc giải quyết và quản lý tranh chấp Biển Đông

Phiên thảo luận tại hội thảo Biển Đông tại Mỹ với sự tham gia của các học giả của Trung Quốc, Indonesia và Philippines tập trung vào các quy định, nguyên tắc pháp lý trong việc giải quyết và quản lý các tranh chấp trên biển.

Đọc tiếp...

Tầm quan trọng của Biển Đông trong bối cảnh tình hình khu vực đang thay đổi

Tầm quan trọng của Biển Đông trong bối cảnh tình hình khu vực đang thay đổi

Phiên 3, ngày thứ nhất của Hội thảo về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tổ chức vào ngày 27 – 28 tháng 6, 2012 sẽ xem xét tầm quan trọng của Biển Đông trong bối cảnh tình hình khu vực đang thay đổi. Trong phần trước các diễn giả đã xem xét vấn đề này từ góc độ của Mỹ, Trung Quốc và ASEAN; phần này phiên thảo luận sẽ đặt vấn đề trong một góc nhìn rộng hơn.

Đọc tiếp...

Phát biểu của Trợ lý Ngoại trưởng Kurt Campell tại Hội thảo Biển Đông tại Mỹ

Phát biểu của Trợ lý Ngoại trưởng Kurt Campell tại Hội thảo Biển Đông tại Mỹ

Phần phát biểu và trả lời của Trợ lý Ngoại trưởng Kurt Campell tại Hội thảo "Biển Đông - châu Á Thái Bình Dương trong thời kỳ quá độ" do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tổ chức vào 27 - 28 tháng 6 năm 2012.

Đọc tiếp...

Phát biểu của Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman tại Hội thảo Biển Đông tại Mỹ

Phát biểu của Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman tại Hội thảo Biển Đông tại Mỹ

"Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông đang đẩy khu vực theo hướng sai và gửi một thông điệp gây thất vọng về loại cường quốc mà Trung Quốc sẽ trở thành và Trung Quốc sẽ quan hệ như thế nào với các nước láng giềng. Việc yêu sách của Trung Quốc có  phạm vi quá rộng ..đang tạo ra một bầu không khí lo âu ...Tôi nghĩ sự mập mờ.. của đường 9 đoạn Trung Quốc đặc biệt đáng lo ngại."

Đọc tiếp...

Thực trạng nghiên cứu về Biển Đông của Trung Quốc

Thực trạng nghiên cứu về Biển Đông của Trung Quốc

Bài viết đề cập đến 3 đặc điểm chính về nghiên cứu hiện tại của cộng đồng nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông. Từ đó nêu bật nhiệm vụ của 4 cơ quan và viện nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Về khả năng xung đột Trung Quốc – Philippin tại Biển Đông

Về khả năng xung đột Trung Quốc – Philippin tại Biển Đông

Bộ phận dự báo, phân tích và tư vấn rủi ro (EIU) thuộc Tạp chí Nhà Kinh tế (Anh) ngày 16/5 đưa ra nhận định của cơ quan nghiên cứu uy tín này về khả năng bùng phát xung đột tại Biển Đông sau những đụng độ mới đây giữa Trung Quốc và Philíppin, đồng thời đánh giá về khả năng hợp tác cùng khai thác giữa Philíppin và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Cửu Long khuấy biển: Trung Quốc và tranh chấp Biển Đông

Cửu Long khuấy biển: Trung Quốc và tranh chấp Biển Đông

Tranh giành quyền lực, ngân sách, xung đột thẩm quyền và phối hợp lỏng lẻo giữa các Bộ ngành của Trung Quốc là nguyên nhân dẫn đến những căng thẳng gần đây tại Biển Đông - Báo cáo tổng thể của Nhóm nghiên cứu khủng hoảng quốc tế (ICG)

Đọc tiếp...

Nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Pháp về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Pháp về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích bề mặt chưa quá 15 km² là mục tiêu theo đuổi của những yêu sách và xung đột gia tăng kể từ những năm 1970. Những lợi ích từ yêu sách hai quần đảo này đối với các quốc gia là gì?

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG